Cuộc chiến Đông - Xuân 1953-1954: Đỉnh cao nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Đại tá Nguyễn Khắc Thuần
12/1/2024

Sau 8 năm tái xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp ngày càng sa lầy vào cuộc chiến. Bất ổn chính trị (liên tục thay đổi nội các), suy thoái kinh tế (lạm phát gấp 5,5 lần so với trước chiến tranh), hơn 3.900 binh sĩ đã tử nạn ở Đông Dương làm cho phong trào phản đối chiến tranh trong nước Pháp ngày càng quyết liệt, vùng chiếm đóng ở Đông Dương bị thu hẹp dần… tình thế buộc chính phủ Pháp ngày càng lệ thuộc vào Mỹ.

Cuộc chiến bước vào năm thứ 9 với ngõ hẹp duy nhất là “tìm lối thoát danh dự”(1)  nếu không muốn dâng Đông Dương cho Mỹ.
Phân tích tình hình ta và địch, Bộ chính trị TW Đảng hạ quyết tâm chiến lược: Mở chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 bằng một chuỗi các chiến dịch trên toàn Đông Dương với mục tiêu: đánh bại kế hoạch Navarre, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương.
* Kế hoạch Navarre
Ngày 7/5/1953, Tổng thống Pháp bổ nhiệm tướng 5 sao (đại tướng) Henri Navarre làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đây là viên Tổng tư lệnh thứ 7 của Pháp ở Đông Dương. Ngày 21/5/1953, NaVarre có tướng không quân Bodet, tướng pháo binh Gambier làm phụ tá bay sang Việt Nam để điều nghiên thực tế chiến trường. Sau hai tháng Navarre và các phụ tá đã hoàn thành bản kế hoạch bình định Đông Dương thông qua Hội đồng tướng lĩnh. Ngày 27/7/1953, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, Tổng thống Pháp đã phê chuẩn kế hoạch. Bản kế hoạch được chính phủ Mỹ hoan nghênh và hứa tăng gấp đôi viện trợ quân sự trong năm 1954. Báo chí Pháp, Mỹ đã tung hô và đặt tên cho bản kế hoạch này là “Kế hoạch Navarre” với những kỳ vọng thay đổi thế chiến lược Đông Dương.
Kế hoạch Navarre được thực hiện từ tháng 8/1953, chia làm 2 bước với tổng thời gian thực hiện 18 tháng. Bước 1: Trong Đông – Xuân 1953-1954 giữ vững được chiến trường Bắc Bộ, xây dựng nhanh các binh đoàn cơ động của Pháp và chính quyền ngụy, xóa bỏ vùng giải phóng ở Liên khu V, bình định Trung Lào, Nam Bộ. Bước 2: Thu – Đông 1954 tập trung phần lớn chủ lực cơ động ra chiến trường Bắc Bộ để quyết chiến với chủ lực Việt Minh, giành thắng lợi quyết định, buộc chính quyền Hồ Chí Minh phải đàm phán trên thế yếu. 
Tin tưởng, hy vọng vào kế hoạch Navarre, chính phủ Pháp điều động thêm 9 tiểu đoàn tinh nhuệ sang Đông Dương để tiếp sức cho Navarre. Điều quan trọng nhất là kế hoạch này được chính phủ Mỹ ủng hộ tuyệt đối, chấp nhận gánh chịu mọi chi phí chiến tranh, khẩn trương chuyển giao cho Pháp nhiều trang thiết bị, vũ khí trong đó có 360 máy bay và 392 tàu chiến, 1400 xe tăng và 16.000 xe quân sự, tăng cường cố vấn Mỹ xuống đến cấp tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp. Với những cố gắng vượt qua tuyệt vọng mùa khô 1953, Navarre đã phát triển lực lượng cơ động chiến lược và chiến thuật lên đến 85 tiểu đoàn, phát triển ồ ạt ngụy quân, để từ đó Navarre tổ chức 18 binh đoàn cơ động chiến lược (trong đó có 11 binh đoàn Âu, Phi), 7 binh đoàn ngụy quân.
Những cố gắng của Navarre và Chính phủ Pháp, chính phủ Mỹ đã làm cho so sánh lực lượng và trang bị trên chiến trường nghiêng hẳn về phía Pháp đặc biệt là sự vượt trội về hỏa lực, không quân, hải quân, xe tăng và pháp binh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nghiên cứu kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ
* Mở 4 đòn tấn công chiến lược, cả nước ra trận
Tháng 9/1953, Bộ chính trị BCHTW Đảng họp ở Định Hóa (Thái Nguyên). Trên cơ sở phân tích tình hình của Bộ chính trị và Tổng quân ủy, Bác Hồ chỉ rõ tư tưởng chỉ đạo chiến lược cuộc tiến công Đông - Xuân 1953-1954, Người nhấn mạnh:
- Bàn tay nắm lại thì thành quả đấm mạnh. Nếu duỗi ra thì dễ bẽ gãy từng ngón. Ta phải có cách buộc khối cơ động phải chia ra làm năm, làm bảy mảng mà tiêu diệt dần, làm cho chúng thất bại hoàn toàn (2).
Về hướng hoạt động, Bộ chính tị, Tổng quân ủy chủ trương: lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác làm hướng phối hợp, tập trung mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực chúng, giải phóng đất đai, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó trên những địa bàn xung yếu do đó mà phân tán binh lực, tạo điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, về phương châm tác chiến là “tích cực chủ động, linh hoạt”(3).
Để thực hiện chủ trương này, Tổng quân ủy quyết định mở 4 cuộc tấn công chiến lược vào các hướng trọng yếu của địch mà địch bố phòng còn chưa đủ mạnh đó là: Tây Bắc, Trung Lào, Thượng Lào, bắc Tây Nguyên. Các cuộc tiến công này đã gây áp lực lớn buộc địch phải phân tán lực lượng thành 5 địa điểm tập trung: đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Senô, Plây Cu, Luông Pha Băng (Lào). Đồng thời ta phát triển chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch như Nam Bộ, Trung Bộ, Bình - Trị - Thiên, đồng bằng Bắc Bộ.
Bốn đòn tấn công chiến lược trên các hướng là:
- Cuộc tiến công vào Lai Châu (ngày 10/12/1953): Chúng ta đã sử dụng các phương tiện vận chuyển như xe đạp, xe kéo, ngựa, voi để vận chuyển hàng trăm ngàn tấn vũ khí, đạn dược, vật tư về khu vực chiến trường, xây dựng các tuyến đường bí mật, cầu treo, hầm trú ẩn để ngụy trang các hoạt động quân sự khỏi sự phát hiện của máy bay Pháp. Chúng ta đã giải phóng toàn bộ Thị xã Lai Châu (trừ Điện Biên Phủ) buộc Pháp phải co cụm lực lượng lại tử huyệt Điện Biên Phủ. Biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung quân thứ 2 của Navarre. (Điểm tập trung quân thứ nhất: đường băng Bắc Bộ).
- Cuộc tiến công Trung Lào: Tháng 11/1953 Liên quân Lào Việt mở cuộc tiến công vào Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt, uy hiếp Xa va na Khét và Xê nô, biến Xê nô trở thành nơi tập trung quân thứ 3 của Navarre.
- Cuộc tiến công Thượng Lào: Tháng 1/1954 Liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Thượng Lào. Giải phóng lưu vực sông Nậm Hu và toàn tỉnh Phông Xa Lỳ. Luông Pha Băng và Mường Sài trở thành nơi tập trung quân thứ 4 của Navarre.
- Cuộc tiến công Bắc Tây Nguyên: Tháng 2/1954 ta mở cuộc tiến công vào Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, uy hiếp Pleiku, Pleiku trở thành điểm tập trung quân thứ 5 của Navarre. Bị phân tán lực lượng thành 5 điểm, kế hoạch Navarre “đánh nhanh, thắng nhanh” đi đến phá sản từng bước. Đó là điều kiện để ta chuẩn bị tư tưởng tổ chức, lực lượng, thế trận mở cuộc tiến công dành thắng lợi quyết định tại quyết chiến điểm Điện Biên Phủ.
Ngày 6/12/1953, Bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954 chiến dịch toàn thắng. Tướng De Castries và toàn bộ ban tham mưu địch đầu hàng và bị bắt sống.
Với chiến thắng Điện Biên Phủ - chiến thắng lẫy lừng kết thúc của chuỗi chiến dịch trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953-1954 cũng là chiến dịch toàn thắng kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trang sử mới của dân tộc Việt Nam đã được mở ra: Trang sử vàng độc lập dân tộc và CNXH.
Quân dân Quân khu 4 tự hào đã góp nhiều chiến công xuất sắc trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954. Từ cuối tháng 11/1953 lực lượng bộ đội tình nguyện Liên khu 4 có sự tăng cường của các đơn vị bộ đội địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh mở chiến dịch Trung Lào. Bộ tư lệnh Liên quân Lào – Việt trong chiến dịch Trung Lào mang mật danh “Mặt trận D” do đồng chí Khăm tày Xi phăn đon làm Tư lệnh, Võ Thúc Đồng (Thường vụ Liên Khu ủy 4, Phó chính ủy Liên khu) làm Chính ủy. Tổng quân ủy tăng cường Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 cho mặt trận D.
Lực lượng tiến vào Trung Hạ Lào chia làm 3 hướng. Hướng 1: Từ Nghệ An hành quân vào Chu Lễ (Hà Tĩnh) cắt đèo Quăn, dốc Trầm, dốc Trẹo, vượt biên giới qua Bắc Trung Lào. Hướng thứ 2 theo Quốc lộ I vào Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vượt đèo Mồng Gà sang Cổ Áng theo đường U Bô, Ba Rền tiến vào phía Bắc đường 9 Quảng Trị. Hướng 3 trung đoàn 101 xuyên Trường Sơn tiến thẳng xuống Hạ Lào. Những cánh quân và hàng vạn dân công của ta bị máy bay trinh sát Pháp phát hiện. Tướng Buốc Gum (Tư lệnh Trung Đông Dương) phải cấp tốc điều quân thành lập 3 tuyến phòng ngự ở Lạc Xao, Căm Cốt (đường 8), Nhom ma rát (đường 12) và một cụm ở Nậm Thun nhằm bịt các cửa ngõ phía Đông: Trong đợt 1, Liên quân Lào – Việt đã tiến công tuyến phòng ngự địch trên đường số 12, lực lượng sử dụng là 2 trung đoàn. Với chiến thuật “đánh điểm, diệt viện”, trung đoàn 66 đánh cứ điểm Mụ Gia, trung đoàn 101 đánh viện binh địch trên đường 12. Sau khi giàng thắng lợi các đơn vị theo đường 12 đánh vào Nhom ma rát để giải phóng phía đông tỉnh Khăm Muộn. Ở hướng thứ yếu, một tiểu đoàn của trung đoàn 101 và bộ đội Pa Thét Lào đánh chiếm Lạc Xao, Căm Cớt, phát triển theo đường 8 xuống đường 12. Mặc dầu quân Pháp ở Trung Lào đã được tăng cường lên đến 26 tiểu đoàn – trở thành một nơi tập trung quân lớn thứ 3 ở Đông Dương nhưng chỉ trong đợt 1 tiến công của lực lượng Liên quân Lào – Việt chũng đã phải phân tán rải mỏng lực lượng và liên tiếp phải bỏ các vị trí xung yếu.
Sau 56 ngày đêm liên tục chiến đấu, chiều ngày 7-5-1954, lá cờ Quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng Đờ-cát. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng
Kế hoạch dồn lực lượng tạo quả đấm thép của Navarre ở Trung Lào phá sản. Rạng sáng ngày 30/01/1954 giai đoạn 2 của chiến dịch khai hỏa. Bộ chỉ huy chiến dịch điều một Trung đoàn của sư đoàn 325 thọc sâu xuống Hạ Lào tạo thêm cho Pháp một bất ngờ nữa. Từ hậu phương khu 4 xuống Hạ Lào bộ đội ta phải vượt 1.200km nên một vấn đề lớn đặt ra: Công tác tiếp tế, hậu cần vô cùng khó khăn. Nếu tiêu thụ hết số đạn mang theo bộ đội ta chỉ còn cách cướp đạn Pháp để chiến đấu. Vì thế Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định chỉ sử dụng tiểu đoàn 436 của trung đoàn 101 để thọc sâu. Tiểu đoàn 436 được tăng cường quân số lên đến 760 người do Phó trung đoàn trưởng Lê Kích trực tiếp chỉ huy. Dân công các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh được huy động chuyển đạn, gạo tập kết tại một căn cứ du kích Bạn Lào ở A tô pơ. Đêm 29/1/1954, tiểu đoàn 436 tiến công căn cứ Pui, diệt toán quân Pháp ở A Tô Pơ. Quân Pháp không ngờ chủ lực của Liên quân Lào –Việt thần tốc xuống Hạ Lào nhanh đến vậy! nên vội vã rút về Pắc - Xế. Chưa kịp đứng chân lực lượng này lại bị lực lượng của tiểu đoàn 436 đánh vỗ mặt buộc phải tháo chạy. Đến giữa tháng 2/1954, tiểu đoàn 436 và lực lượng vũ trang Lào đã giải phóng toàn bộ cao nguyên Bô Lô Ven (rộng 20.000 km2) buộc Navarre phải điều lực lượng xuống Hạ Lào tổ chức nhiều cứ điểm từ thị xã Xa Ra Van và Pắc Xế. Báo chí Pháp lúc này phải ngậm ngùi: “Đông Dương đã bị chia 2, kế hoạch Navarre thất bại chồng lên thất bại” (4). Thừa thắng xốc tới, tháng 3/1954, tiểu đoàn 436 cùng bộ đội Pa Thét Lào phát triển lực lượng xuống phía Nam, phối hợp với bộ đội It xa rắc Campuchia giải phóng Viên Sai, Xiêm Pang, uy hiếp Tung Trung, nối liền vùng giải phóng Trung Hạ Lào với Tây Nguyên (Liên khu V) và Campuchia. Đông Dương thực sự đã bị chia cắt làm 2, thế trận của thực dân Pháp hoàn toàn đổ vỡ. Chia lửa với các chiến trường, quân dân Bình - Trị - Thiên đẩy mạnh chiến tranh du kích biến chiến trường này thành chiến trường chia cắt góp phần làm cho Navarre không thể tập trung lực lượng, trang bị cho chiến trường Bắc Bộ và Điện Biên.
Lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy thô thắng hiện đại, bằng cuộc chiến tranh nhân dân trên mọi miền đất nước, Đông Dương, chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 đã trở thành đỉnh cao nghệ thuật chiến tranh nhân dân, Đảng ta, nhân dân ta, các LLVT đã dành những thắng lợi quyết định trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Chú thích
(1). Hồi ký của tướng Navarre. tr12. Bản dịch của cục KHQS Bộ QP
(2). Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 5. NXB CTQG.H.t183
(3). Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ. NXB QĐND.tr19
(4) Thời điểm của những sự thật. (2004). NXB CAND. tr42
Nguồn tham khảo:
Nguồn: - Hồ sơ Tổng kết chiến dịch Trung Hạ Lào. (Số 4436); Hồ sơ Tổng kết chiến trường B-T-T (số 4400).
- Tổng kết chiến cuộc Đông Xuân (PA 118 – lưu trú VP TCCT).



CÙNG CHUYÊN MỤC