Những tồn nghi về tên gọi “Nghĩa An” thời Tây Sơn trong sử liệu Trung Hoa

Quỳnh Giang
14/9/2023

Đặc san KHXHNV Nghệ An số 9/2022 chúng tôi có bài viết “Về tên gọi “Nghĩa An” thời Tây Sơn” trong đó khẳng định “dưới thời Tây Sơn, không hề tồn tại tên gọi “Nghĩa An”. Bài viết đã nhận được rất nhiều phản hồi cũng như trao đổi ở các hội nhóm, diễn đàn trên nền tảng mạng xã hội, trong đó tác giả bài viết “Thực Hư chuyện Đổi Tên NGHỆ AN (乂安) thành NGHĨA AN (義安)”(1) chỉ ra rằng tên gọi “Nghĩa An” xuất hiện rất nhiều trong sử liệu của Việt Nam và cả Trung Hoa, và chính tên gọi “Nghĩa An” này chính là “Nghệ An” dưới thời Tây Sơn. Cụ thể như sau:


Trong Bang Giao Hảo Thoại có chép một biểu văn do Ngô Thì Nhậm viết thay Quang Toản, đệ trình lên vua Thanh (Càn Long), có đoạn trình bày tình hình An Nam và cái tên NGHĨA AN được nhắc đến:
臣王子委臣進京展覲,曾囑臣候奉玉音,清問之暇,即以國情奏聞。臣國王在時,以義安僻居海陬,撫循列鎮有時鞭弗及之勢。且義安、富春一帶,皆根本之地,信附多年,可無顧慮。年來凡有蠢動,俱在宣光、興化、伏莽扇變,因逺距義安,難以撫馴所致。見在義安新邑,與昇隆行殿,各以勲舊武臣鎮之,主掌兵事,而以文臣之練達者參贊。又清華為昇龍咽喉,富春乃義安咽喉,且屬廣順鄉貫之地,派委功臣留守,亦皆臣前王下山時戰將,凡所分建職司,皆臣前王閒暇時預先布置。
  “Vương Tử [Quang Toản] của thần ủy cho thần vào Kinh hầu cận, đã từng dặn thần rằng: “Khi được Ngọc ân ban hỏi, thì lựa lời tâu lên tình hình trong nước”.
Hồi Quốc Vương thần [Quang Trung] hãy còn, vì đất NGHĨA AN ở lánh về nơi góc bể, lúc vỗ yên các trấn, không có cái thế để ứng cứu kịp thời. Vả lại, một dải từ NGHĨA AN đến Phú Xuân, đều là đất căn bản, quy phụ đã lâu năm, có thể không phải để tâm nghĩ đến.
Những năm gần đây, phàm có những việc do bọn ngu xuẩn gây nên, thường nấp trong rừng rậm của 2 trấn Tuyên Quang, Hưng Hoá tiến ra, vì cách xa NGHĨA AN, nên cũng khó vỗ về. Hiện nay ấp mới ở NGHĨA AN và hành điện ở Thăng Long, đều cử võ thần có công và cũng là người kỳ cựu trấn thủ, chủ giữ việc quân, và dùng những văn thần thông hiểu làm Tham tán.
Lại Thanh Hoa là yết hầu của Thăng Long, Phú Xuân là yết hầu của NGHĨA AN, và lại thuộc về đất quê hương Thuận Quảng, phải ủy công thần lưu giữ, cũng đều là những chiến tướng của Tiền Vương thần khi xưa, phàm chức ty chia đặt ra, đều do Tiền Vương thần bố trí sẵn trong khi nhàn hạ.
Trong 1 công văn gửi cho Phúc Khang An đầu năm Nhâm Tý (1792), Nguyễn Huệ thông cáo việc đã dẹp yên nhóm Lê Duy Chi (em trai Chiêu Thống) cùng vây cánh (thổ tù Nông Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng) liên kết với tù trưởng Thủy Xá, Hóa Xá (Vạn Tượng) cùng các man Trịnh Cao, Quy Hợp ở Trấn Ninh và cả bạn vàng Xiêm La của Thế Tổ hẹn ngày khởi sự, đánh úp kinh đô Nghĩa An:
兹年正月,小番回至義安國城。現[今]本國境內幸底輯寧,實䝉大皇帝威德所及,事未經奏。小番深惟疎鹵是懼,而此番克捷皆聖天子教誨成就之德,不敢隐蔽自私。
“Tháng Giêng năm nay [Nhâm Tý 1792], tiểu phiên tôi về đến quốc thành NGHĨA AN. Hiện nay trong nước may được yên ổn, thực do uy đức của Đại hoàng đế tràn đến, sự việc chưa kịp tâu bày. Tiểu phiên tôi thấy rõ bản thân quê kệch lỗ mãng mà lấy làm sợ hãi, lần này thắng trận đều nhờ cái đức dạy bảo thành tựu của Thánh thiên tử, [cho nên] chẳng dám giấu giếm [tin thắng trận] làm điều riêng”.
Khâm Định An Nam Kỷ Lược còn chép lại 1 bản tấu của Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh gửi về triều báo cáo việc Quang Trung từ NGHĨA AN ra Bắc nhận sắc ấn ban phong An Nam quốc vương cùng công tác chuẩn bị đón tiếp phái đoàn nhà Thanh ở Thăng Long của triều đình Tây Sơn:
候補道成林等恭賫御詩勅書,前赴安南,於八月二十八日,行抵鎮南闗,暫行等待。兹接成林等來禀,轉據黎城員目潘文璘等禀稱,國長仰䝉大皇帝高厚鴻恩,得邀封爵,喜出望外,即於八月下旬,自義安起身,一路江水泛漲,恨不能一日趕回,總於九月初旬,必到黎城。
“Hậu bổ đạo Thành Lâm cung kính mang ngự chế thi và sắc thư sang An Nam, ngày 28 tháng 8 đến Trấn Nam Quan tạm đợi ở đó. Nhận được tờ bẩm của Thành Lâm thì theo đó viên mục ở Lê thành [Thăng Long] là Phan Văn Lân bẩm xưng rằng Quốc trưởng [Quang Trung] được hồng ân cao dày của Đại Hoàng Đế nên được phong tước, thật mừng không biết chừng nào nên ngay hạ tuần tháng 8 từ NGHĨA AN khởi hành, nhưng đường đi bị nước sông tràn ngập e rằng không thể đến ngay được mà phải đến sơ tuần tháng 9 mới tới Lê thành.

Hai chữ "Nghĩa An" trong Càn Long triều Thượng dụ dáng, quyển 16, trang 163-164. Ảnh: Văn Hiến chi bang

Thanh Cao Tông thực lục có chép 1 Thượng dụ Càn Long gửi cho Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh và Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An:
孫永清奏:「接據成林禀稱,阮光平病已稍減,於十月初三日自義安起程前赴黎城,約月半前後可以趕到。成林等定於二十前諏吉成禮。」並稱:「有吳文楚等,願於明年跟隨阮光平一同進京叩祝。」等語。
“Tôn Vĩnh Thanh tâu: “Theo sự bẩm báo của Thành Lâm, bệnh của Nguyễn Quang Bình đã thuyên giảm, bắt đầu khởi hành từ NGHĨA AN vào ngày mồng 3 tháng 10 để đến thành nhà Lê và có thể tới nơi vào khoảng giữa tháng. Bọn Thành Lâm định chọn giờ tốt trước ngày 20 để hành lễ. Lại nói: Có bọn Ngô Văn Sở xin năm sau được tháp tùng Nguyễn Quang Bình cùng đến kinh đô chúc thọ.”

Hai chữ "Nghĩa An" trong Càn Long triều Thượng dụ đáng, quyển 17, trang 197. Ảnh: Văn Hiến chi bang
Càn Long triều thượng dụ đáng có chép 1 đạo dụ văn Càn Long gửi cho Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu thuật việc sau chuyến công du sang Yên kinh dự đại lễ Bát tuần vạn thọ của Càn Long, khi về nước Quang Trung có khiển sứ thần sang cống tạ:
“據福康安奏:「安南國王阮光平回至義安,遴委陪臣,恭賫表凾、方物,於正月上浣自義安起程。當移行陳用敷暨駐闗員弁,俟該陪臣到時,即唘闗驗進,並派委員弁妥行護送進京。」等語。阮光平回至本國,即派陪臣來京,恭進謝恩表凾、貢物。其恭順感悅之忱,甚屬可嘉。...”
“Theo như lời tấu của Phúc Khang An thì An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình về đến NGHĨA AN đã phái bồi thần (sứ thần) cung kính mang biểu văn phương vật, vào thượng tuần tháng Giêng từ NGHĨA AN lên đường [Bọn bồi thần đang trên đường đi thì] Trần Dụng Phu đã sai bọn quan viên, biền binh đợi [sẵn khi] bồi thần đến nơi thì mở cửa quan cho vào, cũng sai quan viên binh lính hộ tống tiến kinh. Nguyễn Quang Bình về đến bản quốc đã lập tức sai bồi thần đến kinh đô cung kính dâng biểu tạ ơn và cống vật. Lòng thành cung thuận [của Nguyễn Quang Bình] thực đáng khen ngợi lắm thay....”.
Trong một tấu chương của Tôn Sĩ Nghị gửi về triều Thanh ngày Ất Sửu (mồng 7), tháng Một, năm Càn Long 53 (Mậu Thân) [4/12/1788]:
“廣東巡洋把總許昌義,帶兵四十名,在洋遭風,將船漂至安南義安地方,經該處夷官將官兵送至黎城,由嗣孫黎維祁之叔黎維礻堇出名,撥給口糧,將把總許昌義及兵丁四十名分作兩次送至軍營。...”.
“Tuần dương Bả tổng Quảng Đông Hứa Xương Nghĩa đem theo 40 quân sĩ, trên biển gặp gió bão, thuyền trôi dạt đến đất NGHĨA AN An Nam, được bọn quan viên xứ ấy đem quan binh đưa đến Lê thành, [sau] được chú của tự tôn Lê Duy Kỳ là Lê Duy Cẩn thay mặt xuất danh cấp cho khẩu phần lương , đưa Bả tổng Hứa Xương Nghĩa và 40 binh đinh chia làm 2 nhóm đưa đến quân doanh....”.
Như vậy, thông qua những sử liệu nói trên, tác giả bài viết nói trên đã khẳng định rằng: “Hiện nay khó có thể quả quyết Quang Trung đổi tên NGHỆ AN thành Nghĩa An, nhưng cũng không thể phủ nhận hoàn toàn thuyết ấy”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng quan điểm nói trên thiếu chính xác, bởi: 
Lịch sử là những cái đã qua, nên không một ai có thể thấy tận mắt nghe tận tai những gì xảy ra ngày trước. Như vậy, nếu muốn biết lịch sử như thế nào, chúng ta chỉ có thể dựa vào những tư liệu và nhân chứng đủ độ tin cận thông qua bằng chứng gốc (original evidence) và tài liệu gốc (primary documents). “Gốc” tức là tư liệu đó chưa từng trải qua sự sao chép hay viết lại. Và quan trọng hơn là những tư liệu kia phải trực tiếp tham gia vào sự kiện được nói đến. 
Đầu tiên, ở tài liệu sơ cấp, phần thư tịch từ phía Việt Nam, tác giả bài viết nói trên đưa ra di sản văn chương của 2 cụ Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm - vốn là văn thần từng triều Tây Sơn “từ việc soạn thảo công văn liên lạc giữa triều đình 2 nước Thanh - Việt đến sắm vai sứ thần triều cống/cầu phong”. Mặc dù mang danh là biểu văn triều Tây Sơn đệ trình lên Càn Long, nhưng những câu chữ được nói tới lại là bản chép lại ở trong khoảng thời gian sau đó mà không phải là văn bản gốc do 2 danh nhân nói trên soạn thảo.
Còn tại phần thư tịch Trung Hoa, tác giả bài viết nói trên lại dẫn từ sách Thanh Cao Tông Thực Lục và Khâm Định An Nam Kỷ Lược - 2 cuốn sách được biên soạn bởi người Thanh và phát hành tại nước Thanh. Những bản tấu trong đó đều đã được các sử gia chép lại, mà cũng không phải là văn bản gốc.
Tiếp tục ở phần tài liệu sơ cấp, tác giả bài viết nói trên đưa ra 2 bộ Cung trung đáng Càn Long triều tấu chiệp và Càn Long triều thượng dụ đáng để phản biện lại bài viết của chúng tôi, nhưng đây cũng chỉ là những văn bản chép lại, và văn bản này không trực tiếp tham gia vào những sự kiện mà bản thân nó đề cập tới. Như vậy, độ xác tín rất thấp. Những văn bản chép lại, dù là chính sử chép hay tư sử hay bất cứ một cá nhân hay tập thể nào đó, đã sao chép lại ắt có sự “tam sao thất bản”.
Theo chúng tôi, những công văn do phía Tây Sơn gửi sang nhà Thanh ghi 2 chữ 乂安 nhưng khi người Thanh biên chép lại, có thể  thấy tự dạng chữ 乂 lại nhầm tưởng chữ 义 nên ghi là 义安; sau đó lại có thêm một số người tiếp tục biên chép lại, thấy chữ 义安 lại viết lại thành 義安 cho “chính thống”. 
Một điều cần phải lưu ý và phân biệt, đó chính là việc  “Nghĩa An” không phải tới thời Tây Sơn mới xuất hiện, mà trước đó gần 400 năm, hai chữ “Nghĩa An” đã có mặt trên nhiều văn bản. Xin được nêu ra ví dụ cụ thể:
Trong bài “Tiến bình Nam hiến phu lộ bố” của đại tướng nhà Minh là Trương Phụ, có câu: … 師進演州府荼龍縣探知首賊逋於義安府深江… sư tiến Diễn Châu phủ Trà Long huyện thám tri tặc bô ư NGHĨA AN phủ thâm giang. 
Trong sách Việt Kiệu thư của Lý Văn Phượng, có câu: …知黎氏父子已遁逃至義安府張輔與左副將軍商議後決定兵從兩路陸路由張輔領之水路則由柳升等率舟師追之… tri Lê thị phụ tử dĩ độn đào chí NGHĨA AN phủ, Trương Phụ dữ Tả phó tướng quân thương nghị hậu quyết định binh tòng lưỡng lộ, lục lộ do Trương Phu lãnh chi, thủy lộ tắc do Liễu Thăng đẳng suất chu sư truy chi…


Hai chữ "Nghĩa An" xuất hiện trong đoạn đầu tấu chương của Lưỡng Quảng Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị trong Cung trung đáng Càn Long triều tấu chiệp, quyển 70, trang 156. Ảnh: Văn Hiến chi bang

Vậy “Nghĩa An” ở 2 sách trên là Nghĩa An nào? Khả năng cao nó cũng tương tự như Nghĩa An thời Tây Sơn mà thôi. Bởi chúng cũng chỉ là những sách được viết lại vào thời gian sau mà không phải là bản gốc do chính Trương Phụ hay Lý Văn Phượng viết (Bài văn lộ bố của Phụ được chép lại trong sách “Hoàng Minh kinh thế văn tuyển”). 
Như vậy, rõ ràng những tư liệu cấp 2 cấp 3 mà tác giả bài viết nói trên đưa ra đều không có sức nặng để lật đổ quan điểm của chúng tôi. Để khẳng định việc rằng dưới thời Tây Sơn không tồn tại tên gọi “Nghĩa An”, chúng tôi đã đưa ra rất nhiều tư liệu, tất cả đều là những bằng chứng gốc (original evidence) và tài liệu gốc (primary documents), tất cả đều chưa từng trải qua sự sao chép hay viết lại, và quan trọng hơn là chúng trực tiếp tham gia vào sự kiện được nói tới. Cụ thể:
Bức thư LNTQ Nguyễn Huệ gửi cho La Sơn Phu tử vào ngày mồng 1 tháng 6 năm Thái Đức thứ 11 (1788), nguyên văn chữ Nôm. 
“Chiếu truyền La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khâm tri. Ngày trước ủy cho Phu tử về NGHỆ AN tướng địa làm đô cho kịp kỳ này hồi ngự. Sao về tới đó, chưa thấy đặng việc gì. Nên hãy giá hồi Phú Xuân kinh hưu tức sĩ tốt (cho binh sĩ nghỉ ngơi). Vậy chiếu ban hạ Phu tử tảo nghi dữ Trấn thủ Thận cộng sự, kinh chi doanh chi, tướng địa tác đô tại Phù Thạch (sớm cùng Trấn thủ Nguyễn Văn Thận tính toán mà làm việc đó, chọn đất dựng đô tại Phù Thạch)… Khâm tai! Đặc chiếu. Thái Đức thập nhất niên, lục nguyệt, sơ nhất nhật (Ngày mồng 1 tháng 6 năm Thái Thứ thứ 11).
Bức thư Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ gửi cho La Sơn Phu tử vào năm Thái Đức thứ 11, đóng ấn triện son “Quảng Vận chi bảo:
詔羅山夫子阮涉欽知於本年六月十九日御見夫子啟文其間僃言地勢可否與生民情瘼及証以古人名言事跡相諷此藥石之論大稱予旨第以得國之初人心始附不於乂安以時控上游何以制中外…欽哉特詔
泰德十一年六月十九日
Chiếu cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp cùng biết: vào ngày 19 tháng 6 năm nay ta ngự xem tờ khải của Phu tử. Trong đó có nói đầy đủ địa thế tốt xấu cùng với tình trạng thống khổ của sinh dân. (Phu tử) lại lấy danh ngôn sự tích của người xưa để can gián. Luận lý ấy như thang thuốc tốt rất hợp với ý ta. (Nhưng) buổi ban đầu khi mới gây dựng được nước, lòng người mới theo, (nếu) không ở NGHỆ AN để thường xuyên chế ngự vùng thượng du thì lấy đâu mà khống chế trong ngoài?… Khâm tai. Đặc chiếu. Ngày 19 tháng 6 năm Thái Đức thứ 11. (Ấn) Quảng Vận chi bảo.
Đặc biệt nhất, ở bức thư quan Trấn thủ Nghệ An thời Tây Sơn là Thận Trực hầu Nguyễn Văn Thận (đóng ấn triện son “NGHỆ AN trấn phủ chương”) gửi cho La Sơn Phu tử nhằm đốc thúc cụ thực hiện nhanh chóng mọi công việc liên quan tới việc xây dựng kinh đô tại Nghệ An. 
欽差鎮守官慎直侯
肅詞于
羅山夫子文几青炤係玆恭奉詔旨建立京付陳梁山將回國王其艚小不能載有好香貳株雨油盖壹柄都詞油盖壹
柄再寄與國王為信國王如好本
泰德十一年七月初四日. 乂安鎮府章
Quan Khâm sai Trấn thủ (là) Thận Trực hầu Kính thư đến La Sơn Phu tử cùng chiếu lãm. Nay [chúng tôi] cung kính vâng theo chiếu chỉ kiến lập kinh đô. Trong đó, đã truyền xuống các huyện, xã lo xong các khoản bới đào, xây đắp. Kính mời (Phu tử) cảm phiền dời gót ngọc đến tại hành cung, định rõ phương hướng cho đúng kỳ xây dựng, tránh khiến cho dân đinh lưu lại lâu ngày gây lãng phí. Nay kính thư. Ngày mồng 4 tháng 7 năm Thái Đức thứ 11 (1788). (Ấn) NGHỆ AN trấn phủ chương.
Bên cạnh những văn bản mang niên hiệu Thái Đức nói trên, thì những văn bản mang niên hiệu Cảnh Thịnh vào đầu thế kỷ 19 cũng chưa từng ghi nhận tên gọi “Nghĩa An”. Tờ Phó niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 9 (1801) do Đô ngự sử Hoằng Nghị hầu sai phái Nhưng Tài hầu Nguyễn Văn Điểm về bản quán tại Nghệ An huy động quân lương cho triều đình Tây Sơn:
侍內都察署都御史弘毅侯計一付忠勤校尉軍使仍才侯並軍拾肆人等由…故此合付許伊員率回乂安鎮本貫運用糧餉限壹个月再能富春京…
景盛九年四月初叁日
Thị nội đô sát thự Đô ngự sử Hoằng Nghị hầu,
Kê: Phó cho Trung cần Hiệu úy quân sứ, (tước) Nhưng tài hầu… cho nên hợp phó này, cho viên này đốc thúc quân về bản quán tại trấn NGHỆ AN để vận động quân lương. Hạn trong một tháng phải trở lại kinh đô Phú Xuân để sai phái việc công... Ngày mồng 3 tháng 4 năm Cảnh Thịnh thứ 9 (năm 1801).
Như vậy, trải qua các văn bản từ những bức thư của Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cho tới quan Trấn thủ Nghệ An trải qua các niên hiệu từ Thái Đức tới Cảnh Thịnh dưới triều đại Tây Sơn, đều cho thấy chỉ có tên gọi “Nghệ An” mà không xác nhận sự tồn tại của tên gọi “Nghĩa An”. 
Những văn bản trên có độ xác tín gần như tuyệt đối, thực sự đáng tin cậy,  bởi đó đều là những văn bản hành chính đóng ấn triện son do chính triều đại Tây Sơn ban hành, chưa từng trải qua sự sao chép hay viết lại, và trực tiếp tham gia vào sự kiện được nói tới. Như văn bản do quan Trấn thủ Nghệ An gửi La Sơn phu tử, câu đầu tiên ghi rõ 欽差鎮守官慎直侯  “Quan Khâm sai Trấn thủ (là) Thận Trực hầu”, dấu ấn triện son đóng trên bức thư có dạng hình vuông, kích cỡ 6,8x6,8cm cùng 5 chữ Nho được viết theo thể Triện là 乂安鎮府章 “Nghệ An trấn phủ chương” (con dấu của phủ trấn Nghệ An) cho ta biết đây là văn bản do vị quan Trấn thủ tại trấn Nghệ An gửi đi. 
Trong tất cả các tư liệu thành văn thì những văn bản đóng dấu triệu son có giá trị xác tín rất cao bởi nó đã được chính quyền phong kiến xác nhận nhằm đảm bảo tính chân thực và hiệu lực pháp lý của các văn bản được ban hành. Việc vua cấp ấn triện cho những quan lại tại các trấn là ủy quyền thay mặt thiên tử để cai trị lê dân trăm họ. Chính vì vậy ấn triện cũng chính là biểu hiện của quyền lực, uy tín và có tính chính thống.
Nếu thực sự tồn tại tên gọi là “Nghĩa An” thật, vậy tại sao Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ gửi thư cho La Sơn Phu tử vẫn gọi là “Nghệ An” mà không phải “Nghĩa An”?, tại sao con dấu của quan Trấn thủ Nghệ An là “Nghệ An trấn phủ chương” mà không phải là “Nghĩa An trấn phủ chương”?, và tại sao khi cho tì tướng của mình về quê nhà, thì triều Tây Sơn vẫn viết rõ là “Nghệ An bản quán” chứ không phải là “Nghĩa An bản quán”? Ngay trên phạm vi (trấn) Nghệ An (nay là 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) từ xưa tới nay cũng chưa từng ghi nhận 1 văn bản hành chính quan phương nào, kể cả văn bản dân gian dùng 2 chữ 義安. 
Quay trở lại với nguồn gốc xuất xứ của 2 chữ “Nghĩa An”. Việc này được ghi rõ trong Đại Nam nhất thống chí là: 偽西改名中都又曰義安鎮[見邦交錄]本朝嘉龍元年復為乂安鎮
Phiên âm: Ngụy Tây cải danh Trung Đô, hựu viết Nghĩa An (kiến: Bang giao lục). Bản triều Gia Long nguyên niên phục vi Nghệ An trấn.
Dịch nghĩa: Ngụy Tây Sơn đổi tên là Trung Đô, lại (có tên) là Nghĩa An (xem Bang giao lục). Năm đầu niên hiệu Gia Long đổi lại là trấn Nghệ An!
Như vậy, bản thân Đại Nam nhất thống chí cũng chỉ là viết lại theo sách Bang giao lục (là sách ghi lại các văn kiện, tư liệu, điển lệ về việc giao thiệp giữa các triều đại nước ta và nước Tàu như: dụ, chế, sắc phong, chiếu, biểu, tấu khải, thư, thơ... do Lê Thống biên tập và viết tựa năm Gia Long thứ 18). Đây lại vẫn là 1 cuốn sách chép lại, chứ không phải là văn bản gốc. Phương Đình dư địa chí nếu tham khảo từ đây thì rõ là “viết theo cái sai của nhau” mà thôi. Chính vì vậy mà chúng tôi xin khẳng định lại một lần nữa rằng: “dưới thời Tây Sơn, không hề tồn tại tên gọi “Nghĩa An”.

Chú thích
1.https://www.facebook.com/profile/100040531180758/search/?q=Ngh%C4%A9a%20An


 


CÙNG CHUYÊN MỤC