Ông tưởng tôi không biết à!

Chu Trọng Huyến
2/6/2023

Ấy là câu Hồ Chủ tịch nói với ông Vũ Đình Hòe ở thời điểm ta bắt đầu phải đối phó với quân lính Tưởng Giới Thạch, khi chúng lấy danh nghĩa Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật mà tràn sang quấy nhiễu.

Ông Hòe sinh năm 1912 tại làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ Luật sư khóa 2 tại Đại học Đông Dương, rồi ra làm việc, hoạt động trong nhóm Trí thức cấp tiến, giữ cương vị Chủ nhiệm tạp chí “Thanh Nghị” (1941-1945). Ông đã từng dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, rồi làm Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục từ tháng 8-1945, được bầu vào Quốc hội Khóa I, rồi làm Bộ trưởng Tư pháp từ tháng 3-1946 đến năm 1961…
    Ông được gặp Hồ Chủ tịch trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời tại Bắc Bộ Phủ. Trong hồi ký của mình, ông tả về vị Chủ tịch nước lúc bấy giờ: “Một ông già thon thon, quần áo kaki màu vàng nhạt, cổ áo cài khuy, chân bọc trong đôi giầy vải đen, êm. Mặt gầy, trán cao, râu đen, dài, thưa, điểm vài sợi bạc, đôi mắt lóng lánh sáng như gương: Nguyễn Ái Quốc đấy!” Rồi Vũ Đình Hòe nhớ lại: “Ngay chiều hôm qua thôi, khi bước lên cầu thang phía sau Bắc Bộ Phủ, tôi thoáng thấy lưng một cụ già bận tấm áo chàm màu dưa, có mấy anh bảo vệ dẫn tới nơi hành lang để cụ bước vào một căn phòng. Đoạn, một anh quay lại, với vẻ bí mật nói cho tôi biết đó là ông Ké Cao Bằng” và trong tâm trí của mình, tôi cứ yên trí đó là ông già từ một vùng núi phía Bắc tìm về đây vì một công việc gì đó. Nhưng rồi bây giờ mới rõ, ông Ké chiều bữa trước chính là vị Chủ tịch nước hôm nay!

   

Chủ tịch Hồ Chí Minh (người thứ 2 từ trái sang) và Giáo sư Vũ Đình Hòe (người đầu tiên bên trái) tại lễ khai giảng trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945; Ảnh tư liệu

Công việc chủ yếu của phiên họp Chính phủ hôm đó là thông qua bản Dự thảo “Tuyên ngôn Độc lập” sẽ đọc tại Quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2-9-1945 Hồ Chủ tịch mở đầu:

  - Chào các ngài Bộ trưởng. Chúc sức khỏe… Ta bắt đầu làm việc nhỉ. Thời gian gấp rút. Tôi đề nghị đầu tháng 9 Chính phủ ta ra mắt quốc dân  và đọc “Tuyên ngôn độc lập”. Tôi đã chuẩn bị. Xin đưa bản thảo để các vị xét duyệt. Đề nghị duyệt kỹ. Vì ta sẽ đọc không phải chỉ đồng bào cả nước ta nghe, mà còn cả cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước  Đồng minh nghe.

Thật là ngắn gọn và đầy đủ - Vũ Đình Hòe viết như vậy rồi ghi tiếp - Một cán bộ Văn phòng chuyển đến các bản đánh máy, đặt từng bản trước mắt mọi người. Chúng tôi chăm chú xem từng câu, từng chữ rồi suy nghĩ… Ai cũng thấy hay quá, sáng sủa, chắc nịch, đơn giản và hùng hồn, đanh thép, chỉ thêm một vài ý nhỏ hay sửa lại mấy chữ; sau đó mọi người ký vào bản của mình, theo yêu cầu của vị Chủ tịch nước.
Cũng vào bữa ấy, Vũ Đình Hòe nhờ ông Hoàng Minh Giám thưa với Hồ Chủ tịch cho mình, ngày mai vào một lúc nào đó được yết kiến Người để xin sự chỉ giáo về công việc của Bộ Giáo dục. Không ngờ khi mọi người đã ra về thì ông Hòe nhận được tin là Người sẵn sàng gặp mình ngay sau đó.
Vũ Đình Hòe báo cáo về việc chuẩn bị cho năm học mới. Ở bậc Đại học, xin tổ chức thi tốt nghiệp đợt hai. Số thí sinh đã đỗ đợt đầu thì xin được cấp bằng. Năm học mới kể cả bậc Đại học cũng hoàn toàn dạy tiếng Việt. Nhóm “Tạp chí Khoa học” giao cho Giáo sư Hoàng Xuân Hãn hoàn tất việc soạn thảo cuốn “Danh từ Khoa học”, đối chiếu hai thứ tiếng Pháp và Việt.
Hồ Chủ tịch nghe, Người đồng ý cả hai vấn đề. Khi bắt tay tạm biệt, Người dặn rằng, nên lo ngay việc xóa nạn mù chữ cho đồng bào nghèo.

`Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) - Ảnh tư liệu

Sau đó không lâu một cuộc họp được triệu tập, mời một số thành viên trong Chính phủ bàn về chương trình, kế hoạch của công tác Bình dân học vụ, có Hồ Chủ tịch và Cố vấn Vĩnh Thụy đến dự. Tờ báo “Dân quốc” hồi đó đã có bài tường thuật về cuộc họp này. Nội dung chính do hội nghị đề ra là công việc xóa nạn mù chữ phải dựa vào dân là chính. Học viên tự túc lấy sách bút kể cả lá chuối làm giấy, nhựa cây vang làm mực cũng như lấy gạch non vẽ lên nền ximăng. Giáo viên thì người đã biết chữ dạy cho người chưa biết. Cái quan trọng nhất là tổ chức, sắp xếp thời gian để dạy và học. Hồ Chủ tịch hoan nghênh và trao đổi kinh nghiệm qua công việc Người đã từng tổ chức dạy Quốc ngữ cho đồng bào Nùng ở Cao Bằng trong chiến khu hồi Tiền khởi nghĩa. Người khuyên cán bộ hãy động viên đồng bào cố gắng. Người bảo so với chữ Hán, chữ Nga, chữ Đức, chữ Anh… (đối với người của nước họ) thì chữ Quốc ngữ của ta dễ học hơn nhiều, nên động viên mọi người cố gắng. Sau này, Vũ Đình Hòe nói về Bản Tuyên ngôn do Người thảo: “Ai cũng thấy thật là ngắn gọn và đầy đủ, hay quá, sáng sủa, chắc nịch, đơn giản và hùng hồn, đanh thép. Chỉ mấy đại biểu thêm bớt vài ý nhỏ, sửa thêm đôi ba chữ”. Từ ngày 2-9-1945, “Tuyên ngôn Độc lập” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đi vào lịch sử dân tộc cũng như đến với nhân dân lao động bị áp bức trên toàn trên thế giới.
Chính phủ Lâm thời đã được thành lập, Tuyên ngôn độc lập đã được phát đi nhưng nước nhà còn đứng trước rất nhiều khó khăn,phải chống ngoài nạn đói, nạn dốt, nhất là nạn ngoại xâm. 
Ngay từ ngày 2-29-1945, khi nhân dân Sài Gòn đang mít tinh đón mừng “Tuyên bố độc lập” thì một số tên thực dân phản động Pháp đã núp trong các khu nhà, xả súng bắn, làm đồng bào ta phải 47 người chết và nhiều người bị thương!
Năm ngày sau, quân Anh với danh nghĩa đại diện Đồng minh vào giải giáp quân Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Chúng đã che chở cho lính Pháp nhảy vào gây hấn ở Sài Gòn - Chợ Lớn (23-1-1945). Từ đó, quân Pháp phối hợp với những toán lính vốn bị Nhật đuổi, phải ẩn nấp các nơi mau chóng đánh loang ra cả Nam Bộ và nam phần Trung Bộ. Các đảng phái, giáo phái thân đế quốc ở trong đó cũng ngấm ngầm hoạt động chống lại chính quyền non trẻ của chúng ta.
  Quân của Tưởng Giới Thạch (Quốc dân đảng Trung Hoa) được Đồng Minh giao cho công việc giải giáp lính Nhật ở bắc Vĩ tuyến 16. Đấy là những toán người ô hợp đông đến 20 vạn tên, do tướng Lư Hán chỉ huy. Chúng tràn qua biên giới từ cuối tháng 8. Bọn “Tàu phù” ấy nhếch nhác, hàng ngũ tả tơi, lem luốc, đầu tóc bù xù đầy chấy rận, dắt theo cả chó mèo, gánh gồng nồi niêu, chổi cùn, rế rách, đến chợ thì sà vào các cửa hàng cướp giật đủ thứ, ỉa đái lung tung…” Số dừng lại ở Thủ đô Hà Nội (từ 11-9-1945) do tướng dưới quyền là Hà Ứng Khâm (về sau là Tiêu Văn) cầm đầu trông có vẻ “tươm tất” hơn đôi chút nhưng sự tham lam, hạch sách thì vẫn không kém.Một trong những nơi chúng tràn vào là Trường Đại học Đông Dương, chiếm cả sân cả ký túc xá.Chúng đòi ta cung cấp từ gạo, muối, củi… và cả từng chiếc bóng đèn. Ra phố thì chúng sà vào các cửa hiệu, tự tiện vồ lấy hàng hóa của dân rồi thản nhiên bỏ đi hoặc trả bằng các thứ tiền Tàu đã không còn giá trị sử dụng. Anh em bảo vệ của ta đành phải dúi vào tay bọn chỉ huy Tàu nào thuốc lào, kẹo lạc, xà phòng và cả  thuốc phiện cho bọn sĩ quan cấp cao, để chúng cấm tụi lính bớt quấy phá. Nhưng mục đích của quân Tưởng là “Diệt cộng, cầm Hồ”, tức hòng tiêu diệt Đảng Cộng sản và bắt giữ Chủ tịch Hồ Chí Minh!
   Theo chân lính Tưởng là bọn phản động bấy lâu sống lưu vong ở Trung Hoa, gồm tụi Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và bọn Việt Cách do Nguyễn Hải Thần điều khiển. Dựa vào quân Tưởng, bọn đó đã chiếm một số nơi tại Yên Bái, Móng Cái và cả ở Vĩnh Yên. Chúng cũng rải truyền đơn, ra những tờ báo lá cải: “Việt Nam”, “Thiết thực”, “Đồng tâm!”, nội dung là nói xấu ta, đòi “Giải tán Chính phủ Việt Minh!”, đòi gạt các vị  Bộ trưởng là đảng viên Đảng Cộng sản ra khỏi Chính phủ. Chúng đòi hai bộ: Nội vụ và Quốc phòng phải do các phần tử “trung lập” nắm! 
Tình hình ấy diễn ra khi nền độc lập quốc gia của ta chưa được nước nào trên thế giới công nhận.
  Với những tính liệu chuẩn xác của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Đảng Cộng sản rút vào hoạt động bí mật. 
 Nghe ông Vũ Đình Hòe báo cáo về tình hình ngang ngược của quân Tàu Tưởng và âm mưu thâm độc của bọn Việt quốc, Việt cách, Hồ Chủ tịch nói: “Ông tưởng tôi không biết à! Cán bộ đảng viên đảng Dân chủ (đoàn thể ông Hòe sinh hoạt) phải gưong mẫu chịu đựng để dân theo và yên tâm. Phải tập nếm cái dơ như Câu Tiễn (1) thuở xưa ấy!”. Người khẩn khoản mời cụ Huỳnh Thúc Kháng ra đảm nhiệm chức Bộ trưởng Nội vụ và cử Phan Anh làm Bộ trưởng Quốc phòng. Đó là những con người  cộng sản ngoài đảng, một lòng vì quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân. Đến khi nước nhà đã tiến hành Tổng tuyển bầu đủ 300 đại biểu Quốc hội, ta vẫn dành thêm cho hai đảng đối lập là Việt quốc và Việt cách 70 đại biểu không qua bầu cử để thành lập Chính phủ liên hiệp, nhằm đoàn kết mọi lực lượng mà tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ta không thể đương đầu với nhiều kẻ thù từ bên ngoài cùng đến vào một lúc, nên phải vừa chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu vừa tận dụng thời cơ, tranh thủ hết mọi thuận lợi.
Các kẻ thù nói đang đem miền Bắc Việt Nam ra mặc cả với nhau và tình thế buộc chúng phải cùng dàn xếp. Hiệp ước Hoa - Pháp được ký tại Trùng Khánh, thủ phủ của chính quyền Tưởng Giới Thạch (28-2-1946). Tưởng phải ký vì bấy giờ Giải phóng quân Trung Hoa do Đảng Cộng sản bên đó lãnh đạo đã tiến xuống Hoa Nam. Pháp phải chịu đau, là mất “cơ đồ” đã có trên đất Trung Quốc để may chi chiếm lại được Đông Dương! Theo đó, Tưởng rút quân về, nhường cho Pháp được quyền vào giải giáp hàng binh Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Đổi lại, Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa mà họ có trên đất Trung Hoa, bán cho Tưởng đoạn đường sắt từ Côn Minh đến Hồ Kiều và dành cho Tưởng một đặc khu ở Hải Phòng. Hàng hóa của Tưởng từ đó chuyển qua đất Bắc để đem về Tàu là không phải nạp thuế. Hiệp ước ấy chà đạp một cách thô bạo đối với chủ quyền độc lập- tự do của nhân dân Việt Nam. Nhưng như thế, ta loại trừ được một kẻ thù nguy hiểm, chỉ còn phải đối đầu với quân Pháp. 
Khi ở Trùng Khánh tiến hành ký hiệp ước ấy thì  hạm đội Pháp do tướng Lơcơlec (Leclerc) cũng trên đường tiến vào vịnh Bắc bộ!
Miền Bắc vừa trải qua giặc giã và một nạn đói khủng khiếp, rồi một thời gian bị quân Tưởng và bọn tay sai của chúng quậy phá, ta chưa thể đương đầu ngay với giặc Pháp khi chúng hăm hở “tốc chiến, tốc thắng”. Hồ Chủ tịch và Chinh phủ chủ trương “hòa để tiến” nên phải ký Hiệp định sơ bộ (6-3-1946). Rồi tuy chữ ký trên giấy chưa ráo mực thì đối phương đã bội ước nhưng ta vẫn có được một thời gian để đàm phán, thương lượng, chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến trường kỳ mà phần toàn thắng nhất định phải thuộc về ta.
Quân Tưởng phải rút về nước rồi, bọn cầm đầu Việt quốc, Viết cách đến từ hải ngoại sau một quá trình quậy phá không làm lung lay nổi Chính phủ của Cụ Hồ do Quốc hội bầu ra nên cũng đã phải bỏ đi gần hết. Cụ Hồ nói với các đồng chí của mình: “Thà là người phụ ta chứ ta không phụ người”. Số còn lại ủng hộ kháng chiến và kiến quốc được ta trọng dụng và rồi đều có sự nghiệp vẻ vang với dân, với nước. Công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thành công trước hết nhờ ở chủ trương đoàn kết toàn dân của Hồ Chủ tịch. Trong lúc tiến hành cách mạng, đối với các đoàn thể, các cá nhân tạm thời có khác nhau về chính kiến, về sức đóng góp, Hồ Chủ tịch nói với Luật sư Vũ Đình Hòe, bấy giờ đã chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp: “Bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, song tất cả đều tụ nơi bàn tay”.
Và: “Bàn tay ta làm nên tất cả” (2) .

Chú thích

(1) Xem Hồi ký Vũ Đình Hòe: “Đến bây giờ mới thấy đây… Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh”, in trong “Nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn”, Nxb Chính trị - Hành chính, HN.2009, Tr. 50.

 Về tích “Câu Tiễn”: Xưa, ở bên Tàu, nước Việt bị vua nước Ngô là Phù Sai đánh bại. Rồi Phù Sai bắt vua Việt là Câu Tiễn đi theo để hầu hạ mình. Tuy hết sức cực nhục nhưng ông vua thất cước ấy vẫn nuôi mộng khôi phục lại giang sơn Việt. Đến một lúc, Phù Sai bị ốm rất nặng. Mọi thầy thuốc giỏi được vời đến để chữa đều phải  lắc đầu. Rồi một ngày tự coi như là tận thế, Phù Sai phải than thở với Câu Tiễn, và được trả lời: “Không sao bệnh của hoàng thượng vẫn còn có cơ chữa khỏi ”. Phù sai tưởng tai mình nghe lầm, bèn hỏi: “Sao, ngươi nói gì, bệnh ta còn  có thể chữa được. Vì sao? Và được đáp lại: “Vì phân của hoàng thượng vẫn còn đắng”. Giữa lúc bệnh tình thập tử nhất sinh mà được nghe một lời nói như vậy thì gương mặt Phù Sai bỗng sáng lên mà hỏi: “Sao mà ngươi biết điều đó!”. Và rồi ông ta ngầm hiểu. Thế rồi Câu Tiễn ra sức tìm thuốc chạy chữa cho chính kẻ thù đã cướp nước mình. Không lâu, Phù Sai khỏi bệnh bèn đền ơn Câu Tiễn bằng cách cắt trả cho ông vua nước Việt một phần đất, là huyện Cối Kê. Từ đó Câu Tiễn chiêu mộ quân sĩ, túc dụng binh lương, chẳng bao lâu khôi phục lại toàn bộ giang sơn nước Viêt.  

(2) “Bài ca vỡ đất”, Thơ của Hoàng Trung Thông.


CÙNG CHUYÊN MỤC