Song nguyên Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống (1739 – 1785)

Hồ Sỹ Hùy
6/12/2022

1. Hồ Sĩ Đống 胡士棟 tự Long Thủ 隆首, hiệu Dao Đình 瑤亭; sau đổi tên là Đồng 仝, tự Thông Phủ 通 甫, hiệu Trúc Hiên竹軒, người làng Hoàn Hậu (nay là xã Quỳnh Đôi), huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

 Ông thuộc dòng dõi Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (1324 – ?). Theo nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Giàng trong sách Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H.1995, ông tổ đầu tiên của họ Hồ là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật từ Triết Giang (Trung Quốc) sang nước ta cuối thời Ngũ đại (907 – 960). Khoảng năm 960, ông về làm trại chủ ở hương Bào Đột (nay thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Dòng dõi ông đến đời thứ 12 có Hồ Liêm từ hương Bào Đột ra Thanh Hóa làm con nuôi cho Tuyên phủ sứ Lê Huấn, đổi họ là Lê (cháu 4 đời là Hồ Quý Ly). Đời thứ 13, Hồ Kha từ Quỳ Trạch (nay thuộc xã Thọ Thành, huyện Yên Thành) đi khai hoang vùng Nghĩa Liệt, lập ra trang Thổ Đôi, sách Hoàn Hậu (nay thuộc xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu). Đời thứ 15 có Hồ Quý Ly, Hồ Tông Thốc; đời thứ 23 có Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương; đời thứ 24 có Hoàng giáp Hồ Phi Tích; đời thứ 25 có Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân; đời thứ 27 có vua Quang Trung (Hồ Thơm), Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, nữ sĩ Hồ Xuân Hương...Lại theo học giả Trần Thanh Mại  công bố trên Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 10 – 1964, liên quan đến việc phát hiện tập thơ Lưu hương ký瑠香記 thì Hồ Sĩ Đống và Hồ Xuân Hương đều là con ông đồ Hồ Sĩ Danh. Hồ Xuân Hương là con bà vợ thiếp người họ Hà. Có thể hồi nhỏ Hồ Xuân Hương từng sống một thời gian ở quê cha, nhưng sau khi thân phụ qua đời (1783), bà về sống với mẹ ở kinh thành Thăng Long. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn bác bỏ việc này, ngày xưa từ em rất rộng, em họ một nhà quyền quý, nhà sang thường xưng là em thân thiết, không nhất thiết là em cùng cha. Các bản gia phả đều chép Hồ Xuân Hương con ông Hồ Phi Diễn (1703–1786). Bà con làng Quỳnh Đôi cũng cho rằng Hồ Xuân Hương là con cụ đồ Hồ Phi Diễn, chỉ là em họ Hồ Sĩ Đống, vì ông Hồ Sĩ Danh không đi dạy học ngoài Bắc.
      2. Năm Cảnh Hưng thứ 33, Nhâm Thìn (1772) ông thi đậu Hội nguyên, Đình nguyên (tức Song nguyên) Hoàng giáp. Theo danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), thi cử thời này thiên lệch, sút kém. Những đầu bài văn sách đều tự trong súy phủ chúa đưa ra “các quan soạn đề thi thì chỉ ra những câu hóc hiểm để làm cho khó. Bài văn chế sách đình đối thì sai quan đồng tiến sĩ phụng soạn. Quan soạn đề nguyên đã đỗ cuối hàng tam giáp thì không muốn cho ai hơn mình, nên ra đầu đề thường rất hiểm hóc. Bởi vậy, hàng tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa thường không lấy được đủ, có khi thường chỉ lấy đỗ được nhị giáp, hoặc tam giáp mà thôi...”(1)
         Tháng Chạp năm Cảnh Hưng thứ 38, Đinh Dậu (1777), ông được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Tháng sáu năm Mậu Tuất (1778), thuyền qua hồ Động Đình, Chánh sứ Vũ Trần Thiệu mời hai quan phó sứ là Hồ Sĩ Đống và Nguyễn Trọng Đương tới dặn bảo mọi công việc và đốt tờ mật biểu xin “tiếm phong” phó quốc vương của Trịnh Sâm trước mặt hai vị sứ thần rồi tuẫn tiết. Tiếc thương vị quan trung nghĩa, Hồ Sĩ Đống làm thơ viếng:
                          Hoàng hoa lưỡng độ phú tư tuân.
                          Uyên đức kỳ niên cảnh ký nhân.
                          Cộng tiễn bang giao nhàn ngọc bạch,    
                          Thùy tri tiên cốt lịch phong trần.
                          Sinh sô lệ sái đồng chu khách,
                          Tái bút danh qui tuẫn quốc thần.
                          Trù trướng thái hồ thu nguyệt sắc,
                          Dạ lai do chiếu ốc lương tần.
       Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch:         
                           Mấy độ hoàng hoa sứ nước người,
                          Tuổi cao đức tốt ấy kìa ai?
                          Bang giao những tưởng ngọc ngà đẹp,
                         Tiên cốt nào hay gió bụi đầy.     
                          Giọt lệ đồng châu đưa một lễ,
                         Tấm thân tuẫn quốc tiếng muôn đời.
                         Trăng thu mơ tưởng trên hồ nọ, 
                         Thấp thoáng đầu nhà bóng lẩn soi. (2)
               Năm Cảnh Hưng thứ 43, Nhâm Dần (1782) ông được thăng Bồi tụng, Hữu thị lang bộ Hộ. Một năm sau (1783), được thăng hành Tham tụng (quyền Tể tướng), rồi về chịu tang cha, sau đổi sang võ ban làm quyền phủ sự tước Giác Hải hầu. Ít lâu sau lại trở về ban văn, thăng Đô ngự sử, gia Thượng thư bộ Binh, tước Giác quận công.
                Ông vào Quảng Nam kinh lý việc biên. Từ Phú Xuân về ông có làm bài thơ:
                         Thiên lý quan hà mộng đế kinh,
                         Quy châu cơ bạc Phú Xuân thành.
                         Nhân do kiêu dưỡng thành lăng vũ,
                         Thiên vị ân ưu khởi thánh minh.
                         Sơn bắc thủy quang song trữ nhãn,
                        Triều cơ biên sự lưỡng quan tinh.
                        Trung tiêu cảnh cảnh tân y chẩm,
                        Mao điếm thờ văn kê sổ thành.
           Bạch Hào (Nguyễn Đổng Chi) dịch thơ: 
                            Dặm ngàn nhớ cảnh đế kinh
                     Thuyền về tạm nghỉ bên thành Phú Xuân.
                           Người sao kiêu ngạo vô ngần,
                    Thương dân trời khiến thánh nhân ra đời.
                          Núi sông đôi mắt sáng ngời,
                    Trong triều, ngoài cõi, không nguôi tấc lòng.
                         Canh khuya tựa gối mơ mòng,
                    Tiếng gà điếm cỏ một vùng gáy ran. (3)
Đọc thơ có thể hiểu ông luôn lo nghĩ đến việc triều chính, việc biên cương, khi ông chứng kiến ở Phú Xuân lính thì kiêu, tướng thì lười, mà trấn thủ Phạm Ngô Cầu thì không có tài chống giữ. Sau khi về kinh ông đã mấy lần xin cử tướng khác vào thay thế, nhưng rồi ông qua đời và việc đó cũng bị gác lại (4).
  Hồ Sĩ Đống là một viên quan tài đức được nhiều người quý trọng. Hoàng giáp Bùi Dương Lịch (1757 - 1828), người cùng thời và cùng quê Nghệ An viết về ông: “Tham đốc Ban quận công Hồ Sĩ Đống là người ôn hòa, bình dị, thi đỗ Hoàng giáp, vâng mệnh đi sứ có công. Khi Tĩnh Vương (Trịnh Sâm) còn sống, ông chưa được trọng dụng, nhưng lòng người đều kính phục đức vọng của ông. Đến thời Đoan Vương (Trịnh Khải) ông được thăng vọt lên chức Hành tham tụng. Đến khi ông ốm, chúa thượng sai người thăm hỏi và ban cho chức tham đốc, lại được ban tước Ban quận công. Ông mất, quân lính các đoan cơ thuyền đội ở Kinh không ai là không thương xót. Ông Bùi Hành tụng (Bùi Huy Bích) có làm bài văn tế ông, trong đó có câu (dịch): Kẻ sĩ đại phu có văn học, có đức độ, có phẩm vọng như ông ít lắm”(5) Ông thật sự xứng đáng là bậc lương đống 棟梁 (rường cột) của nước nhà! 
      3. Đương thời Hồ Sĩ Đống còn là một nhà thơ nổi tiếng. Tác phẩm có Hoa trình khiển hứng華程遣興 (Cảm hứng tiêu khiển trên hành trình đi sứ) sau còn gọi là Dao Đình sứ tập瑤亭使集 – là tập thơ đi sứ, theo bài tựa ông viết cuối năm Kỷ Hợi (1779), “tập hợp được hơn trăm bài”; và Dao Đình thi tập瑤亭詩集 (Tập thơ của Dao Đình). Hiện trong Thư viện Khoa học xã hội (Hà Nội) có 2 bản sách của Hồ Sĩ Đống. Đó là Dao Đình sứ tập(Ký hiệu A515) và Dao Đình thi tập (Ký hiệu A1852). Theo Trần Văn Giáp trong sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (T1 và T2 in chung) Nxb Khoa học xã hội, 2003, tr.960 thì Dao Đình thi tập là tập thơ chung cho tất cả các bài thơ của Hồ Sĩ Đống, còn Dao Đình sứ tập chỉ là tập thơ riêng làm trong dịp đi sứ năm 1777. Ông còn viết lời tựa cho tập Sứ hoa tùng vịnh使华叢咏 của Nguyễn Tông Khuê khi ở Yên Kinh (Bắc Kinh), lời lẽ khiêm nhường, cô đúc của người tri âm tri kỷ: “…Nhớ lúc ở kinh thành, tiên sinh đã về hưu, tôi vì lẽ không được tới dưới cửa học tập mà lấy làm buồn. Nay hân hạnh được nối theo bước trước, tham quan phong vật nước ngoài. Phàm những non sông cảnh vật trên đường trải qua, chứng nghiệm vào những câu tự tình và tiểu dẫn, đều có thể lĩnh hội được cả, không đợi phải hỏi. Đến như những lời thuật hoài, khiển hứng khi rảnh việc đem ra xem, càng đủ chứng tỏ "Thơ là chỗ đi tới của chí ". Đó cũng là một mối nhân duyên gặp gỡ vậy!......Cư Chính (con trai Nguyễn Tông Khuê,  - HSH chú) là người đốc tín, hiếu học, sở đắc nơi gia huấn, tài thơ hết sức trội bật. Ngẫu nhiên tôi cùng làm việc với Cư Chính thành ra chơi thân. Ông đã mấy lần nhắc nhở, nên tôi không dám vì sự thô lậu mà từ chối, đành kể qua sự việc, chép sơ lược trên đầu sách… "(6)
    Danh sĩ Phan Huy Chú (1782 - 1840) khen thơ ông: “hồn hậu, phong nhã, có khí khái” và tuyển 2 bài Đăng Nhạc Dương lâu 登岳陽樓  (Lên lầu Nhạc Dương), Đăng Hoàng Hạc lâu 登黃鶴樓(Lên lầu Hoàng Hạc) vào phần Văn tịch chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí. 歴 朝 憲 章 類 誌, (7). Còn theo danh sĩ Phạm Đình Hổ thì trong khoảng đời Vĩnh Hựu (1735 - 1739), Cảnh Hưng (1740 - 1786)... chỉ có Nguyễn Tông Khuê (1693 - 1767), Nguyễn Huy Oánh (1713 - 1789) và Hồ Sĩ Đống là ba nhà thơ xuất sắc hơn cả. Thơ Nguyễn Tông Khuê  “thì tinh vi đẹp đẽ, nhưng có phần vụn vặt quá”, thơ của Nguyễn Huy Oánh “là bậc thanh cao, nhưng vẫn có ý mô phỏng”, thơ Hồ Sĩ Đống “thì chủ lấy khí phách, không thèm lấy điêu khắc vẽ vời làm khéo”(8). Cũng theo Phạm Đình Hổ, nhờ có ba nhà thơ này “thi học đời ấy đã trung hưng lên được, nhưng so với các thi gia đời Lý, đời Trần thì cũng chưa thể sánh bằng”.Dĩ nhiên, theo quan điểm chính thống “thi học” ở đây không gồm ngâm khúc, hát nói, truyện thơ rất thịnh đạt thời ấy mà Phạm Đình Hổ không thể không chứng kiến. Phạm Đình Hổ chỉ bàn đến các thể loại văn học mang tính chức năng, lối văn thi cử, mà thi cử xuống dốc nên thơ (buổi đầu) đời Lê trung hưng “chỉ câu nệ về khuôn phép, xu thế thấp kém, không kể làm gì” (9) .Ông lý giải: “Xét đời xưa tuyển học trò ở trong nhà hương học, kén chọn lấy đức hạnh với văn nghệ, thì văn nghệ vẫn thứ yếu” (10). Với nho sĩ “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”, nhưng nói chí và chở đạo thế nào đây khi trước mắt họ hàng ngày diễn ra cảnh danh phận mờ mịt, vua Lê chỉ là hư vị, một nước vừa có vua Lê vừa có chúa Trịnh là cảnh trước đó chưa có bao giờ!
Để rộng đường tham khảo, xin cung cấp thêm 2 bài thơ của ông mới sưu tầm được.
      Bài 1: Sơn hành tức sự (Tức cảnh đi đường núi)
Chu đạo uy trì lạc bí xâm,
Đạp cùng bình dã cánh xuyên lâm.
Lô kỳ kinh hiểu phong nhưng phất,
Thụ sắc hoà lam nhật tận âm.
Thiên địa an bài trùng hạn cách,
Sơn khê bão lịch kỷ cao thâm.
Cần lao tự cổ nhân thần chức,
Bồng thỉ tang hồ tự túc tâm.
   ( 山行即事 
周道逶遲駱轡駸,踏窮平野更穿林。蘆旗經曉風仍拂,樹色和嵐日盡陰。天地安排重限隔,山溪飽歷幾高深。勤勞自古人臣職,蓬矢桑弧自夙心): Đường dài dằng dặc, gióng ngựa chạy xăm xăm/Đi hết đồng bằng lại xuyên qua rừng/Cờ lau qua buổi sớm, gió vẫn thổi phơ phất/ Màu cây hoà khí núi, trời suốt ngày âm u/ Trời đất giăng bày bao nhiêu cách trở/ Núi khe trải khắp biết mấy cao sâu/ Xưa nay cần lao là phận người bầy tôi/ Chí tang bồng tự ta đã có sẵn.
       Bài 2: Tặng Triều Tiên quốc sứ Lý Quang, Trịnh Vũ Thuần, Duẫn Phường hồi quốc 贈朝鮮國使李珖,鄭宇淳,尹坊回國 (Tặng quốc sứ Triều Tiên Lý Quang, Trịnh Vũ Thuần, Duẫn Phường về nước)
Công đình triêu bãi lộ phân thù,
Dao chỉ đông doanh ức sứ hồ.
Chí khí khả năng truy cảo đới,
Thiên chương hề quản phó tương bồ.
Phu văn thử nhật xa đồng quỹ,
Bỉnh lễ tòng lai quốc hữu nho.
Vạn lý tương phùng tri phỉ dị,
Lục niên vương hội nhất thành đồ.
公庭朝罷路分殊,遙指東瀛憶使乎。志氣可能追縞帶,篇章奚管付醬瓿。敷文此日車同軌,秉禮從來國有儒。萬里相逢知匪易,六年王會一成圖 Dịch nghĩa: Việc nước xong đường chia hai ngã/ Chỉ bể đông nhớ sứ biết bao/ Kẻ nho sinh giữ tròn chí khí/  Chuyện thơ văn xin phú cho trời/ Phô trương điển xe cùng quỹ đạo/ Giữ lễ nghi nước có người tài/ Vạn dặm đến gặp nhau há dễ/ Mỗi sáu năm hội sứ giả khai) (11).  
       4. Hồ Sĩ Đống sống cuộc đời khá ngắn ngủi nhưng đã có những đóng góp tích cực trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn học. Đáng tiếc thơ ông chưa được dịch nên bạn đọc rộng rãi chưa hiểu biết mấy về ông như họ đã từng hiểu biết và vô cùng yêu mến người em gái họ của ông: nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Có thể mượn lời của Phó Giáo sư Bùi Duy Tân nhận định khái quát về cuộc đời và thơ văn ông để kết thúc bài viết này: “Hồ Sĩ Đống là người cẩn trọng, bình tĩnh, giản dị, có tài văn chương. Sáng tác của ông thường là đề vịnh di tích, nhân vật lịch sử, đền miếu, phong cảnh trên dọc đường đi sứ. Nhìn chung, chúng thường có những nét tươi đẹp, uyển chuyển, do khả năng đổi mới của cảm xúc và cách thể hiện độc đáo của nhà thơ. Cùng với thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Kiều, Nguyễn Tông Quai (cũng đọc là Khuê – HSH chú), Lê Quý Đôn...thơ Hồ Sĩ Đống góp phần tạo nên thể cách trầm hùng, nhuần nhã của thơ đi sứ thời Lê trung hưng” (12).
              Chú thích:
        (1), (2). Phạm Đình Hổ Vũ trung tùy bút 雨中隨筆Nxb Trẻ, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Tp Hồ Chí Minh, 1989, tr.93, 186.
          (3), (4). Bùi Dương Lịch Nghệ An ký 乂安記Nxb Khoa học Xã hội, H.1993, tr.313 - 314.
          (5). Bùi Dương Lịch Lê quý dật sử 黎季逸史 Nxb Khoa học xã hội,H, 1987, tr.57.
          (6). Dẫn lại theo Phạm Trọng Chánh: Hồ Sĩ Đống (1739-1785) bậc thầy thi ca đời Lê TrungHưnghttp://chimviet.free.fr/vanhoc/phamtrongchanh/phamtrongchanh_HoSiDong_VH.htm(7)Phan 7. 7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí Nxb Khoa học xã hội, 1992, T3, tr147.  
(8), (9) (10) Phạm Đình Hổ Vũ trung tùy bút Sđd, tr.144, 91, 92.
 (11). Nguồn:https://www.thivien.net/H%E1%BB%93-S%C4%A9-%C4%90% E1%BB%91 ng/author-skILgzoy92-2SuKJkzv4RQ.
     (12). Bùi Duy Tân: Mục từ Hồ Sĩ Đống trong Từ điển văn học (bộ mới),NxbThế giới,.H.2004, tr.642.
 

CÙNG CHUYÊN MỤC

Non nước xứ Nghệ

Con người xứ Nghệ

Thương hiệu xứ Nghệ