Đồng chí Lê Hồng Phong - Người chiến sĩ cộng sản kiên cường của Đảng, ngươi học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Hồng Vui
7/9/2022

Đồng chí Lê Hồng Phong thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng, Tổng Bí thư của Đảng sau đồng chí Trần Phú, là người học trò tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng về khí tiết cách mạng, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Đồng chí Lê Hồng Phong thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng, Tổng Bí thư của Đảng sau đồng chí Trần Phú, là người học trò tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng về khí tiết cách mạng, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.


Đồng chí Lê Hồng Phong khi bị bắt năm 1939

1. Lê Hồng Phong suốt đời phấn đấu hy sinh vì cách mạng, vì độc lập dân tộc và lý tưởng cộng sản

Đồng chí Lê Hồng Phong (tên thật là Lê Văn Dục, sau đổi là Lê Huy Doãn) sinh năm 1902 trong một gia đình hiếu học ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lãng, phủ Hưng Nguyên, nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ của Lê Hồng Phong là ông Lê Huy Quán, một người có học nhưng không may mắn trong đường khoa cử. Thân mẫu là bà Phạm Thị Thứ, thường gọi là Sáu, một phụ nữ hiền lành, trung hậu, đảm đang. 

Tuổi thơ Lê Hồng Phong gắn bó với quê hương Hưng Nguyên, Nghệ An- vùng quê địa linh nhân kiệt, hiếu học, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng. Kết thúc bậc sơ học, Lê Hồng Phong thi đậu bằng Sơ học yếu lươc. Song không có tiền để học tiếp, Lê Hồng Phong đành phải bỏ học và đi làm công nhân tại Vinh - Bến Thủy. Thời gian học việc ở Nhà máy Diêm -  Bến Thủy đã mang lại cho Lê Hồng Phong nhiều nhận thức mới mẻ và kinh nghiệm bổ ích. Đó là nhận thức cuộc sống cực khổ và tinh thần đấu tranh của công nhân, nhận thức rằng con đường đấu tranh chống áp bức và lĩnh vực quyền lợi của công nhân không thể bó hẹp bằng vận động đình công, chỉ quẩn quanh ở trong nước. Cần phải tìm ra hình thức đấu tranh mới, hướng đi mới, trước hết hãy theo bước các vị yêu nước tiền bối. Từ đó, Lê Hồng Phong đã tìm cách vượt Trường Sơn sang Lào, Xiêm (Thái Lan), sang Quảng Châu (Trung Quốc) tìm đường cứu nước. Tháng 4/1924, đồng chí gia nhập và hoạt động trong tổ chức Tâm Tâm xã, một tổ chức cách mạng do Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn thành lập. Tháng 3/1925, Lê Hồng Phong dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc vừa là người phụ trách, đồng thời là giảng viên chính. Cũng trong năm đó, Lê Hồng Phong tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và cùng với Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn... điều hành các công tác của Tổng bộ. Từ đó, tầm nhận thức của Lê Hồng Phong được nâng lên một bước mới, anh trở thành người học trò đầu tiên, người đồng chí của Nguyễn Ái Quốc. Đó cũng chính là bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Lê Hồng Phong.

Để đào tạo cán bộ chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam sau này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu Lê Hồng Phong và một số đồng chí khác vào học trường Quân sự Hoàng Phố. Tại đây, lần đầu tiên Lê Hồng Phong được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sự phân tích của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về phong trào yêu nước Việt Nam những năm trước đây và con đường những người yêu nước phải đi tới tương lai đã tác động sâu sắc đến nhận thức của Lê Hồng Phong. Cũng từ đây, Lê Hồng Phong nhiều lần được đồng chí Nguyễn Ái Quốc trao đổi, giảng giải về tình cảnh khổ cực của công nông, vì sao có áp bức, bất công trong xã hội, làm thế nào để giải quyết tình trạng này... Nhờ vậy, Lê Hồng Phong đã tiếp thu được những quan điểm rất mới, về con đường cứu nước, cứu dân thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than. Đồng chí hiểu rõ rằng, muốn cứu nước, cứu dân thì những người yêu nước Việt Nam phải làm cách mạng để đánh đuổi bọn đế quốc thống trị và tay sai, xây dựng xã hội mới tốt đẹp. Trong điều kiện lúc đó, cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thực hiện dân chủ. Động lực của cách mạng là toàn thể dân chúng lao động Việt Nam, trong đó nòng cốt là lực lượng công nhân và nông dân. Muốn thắng lợi, cách mạng phải do giai cấp công nhân, với đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu là đảng cộng sản lãnh đạo.
Đối với Lê Hồng Phong những cuộc gặp gỡ trao đổi với Nguyễn Ái Quốc đã mang lại cho đồng chí niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng của đất nước và quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Do đó, khi đang là học viên của Trường Quân sự Hoàng Phố, Lê Hồng Phong vẫn tự nguyện tham gia các tổ chức cách mạng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Lê Hồng Phong đã tham gia vào nhóm Việt Nam thanh niên Cộng sản (Cộng sản đoàn) do Nguyễn Ái Quốc thành lập. Cũng tại Quảng Châu, Lê Hồng Phong và nhóm Cộng sản đoàn, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên nhằm chuẩn bị cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Lê Hồng Phong được giao tham gia công tác đào tạo cán bộ của Hội. Đồng chí còn tích cực tham gia các hoạt động của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông- tổ chức cách mạng của các dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc và một số nhà cách mạng các nước thành lập năm 1925. Đồng thời, Lê Hồng Phong cũng hăng hái tham gia trong tổ chức Quốc tế Cứu tế đỏ (M.O.P.R) - tổ chức do Quốc tế Cộng sản lập ra năm 1923 nhằm giúp đỡ, bảo vệ những chính trị phạm, chống lại sự đàn áp, khủng bố của chính quyền đế quốc, thực dân.
Đây là những năm tháng hoạt động có nhiều ý nghĩa trên con đường hình thành bản lĩnh cách mạng của Lê Hồng Phong. Những lý luận học được trong các tổ chức cách mạng, lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức cùng với những kết quả học tập và thực tế rèn luyện về quân sự ở Trường Quân sự Hoàng Phố đã mở ra cho Lê Hồng Phong một hướng đi cơ bản trên con đường trau dồi lý luận cách mạng, đường lối và kỹ thuật quân sự hiện đại trong những năm tiếp theo.

Chương trình nghệ thuật tái hiện cuộc đời hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và vợ là đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai

Ngày 10/2/1926, Lê Hồng Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc - một bước trưởng thành quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí.
Lê Hồng Phong được Chính phủ cách mạng Quảng Châu quyết định cử sang Liên Xô học tại các trường quân sự và chính trị, đặc biệt là Trường Đại học Phương Đông - nơi đào tạo các nhà lãnh đạo cách mạng cho các nước phương Đông. Tại đây, Lê Hồng Phong được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lý luận cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Đồng chí đã rất tích cực học tập lý luận và rèn luyện về đạo đức, tác phong công tác. Lê Hồng Phong trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản(b) Liên Xô từ ngày 25/5/1929. Đồng chí nhìn thấy sự cần thiết phải tranh thủ sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng Đông Dương, trước mắt là đối với sự ra đời của một đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam. Vì vậy, Lê Hồng Phong đã chủ động báo cáo lãnh đạo Quốc tế Cộng sản về tình hình phát triển của cách mạng Việt Nam, sự giúp đỡ không thể thiếu của Quốc tế Cộng sản, để sớm có sự ra đời của một đảng cộng sản ở Việt Nam. Báo cáo này trên thực tế đã góp thêm cơ sở để Quốc tế Cộng sản ngày 27/10/1929 có thư kêu gọi những người cách mạng Đông Dương sớm hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Nắm được xu thế đó, chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bằng sự nhạy bén chính trị đã chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

2. Gắn tri thức lý luận với hoạt động thực tiễn cách mạng

Lê Hồng Phong là nhà hoạt động cách mạng được tích lũy tri thức lý luận chính trị và quân sự có hệ thống. Vốn trị thức đó đã được Lê Hồng Phong vận dụng vào việc giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cho cách mạng Việt Nam.

Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, cách mạng Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn và tổn thất nặng nề. Hầu hết các ủy viên Trung ương, các Xứ ủy viên đều bị địch bắt hoặc bị sát hại; hàng trăm cán bộ, hàng nghìn đảng viên bị bắt bớ, tù đày. Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phần nhiều bị tan vỡ hoặc tê liệt. Trước tình hình đó, tháng 11/1931, theo  Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong về nước để lãnh đạo việc khôi phục, phát triển tổ chức đảng, đưa cách mạng Đông Dương vượt qua giai đoạn khó khăn, hiểm nghèo để tiến lên. Đầu năm 1932, đồng chí đã chắp mối liên lạc các đồng chí trung kiên của Đảng đang hoạt động ở Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc). Thời gian này, Lê Hồng Phong vừa mở đường liên lạc về trong nước, vừa mở những lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ từ trong nước sang học tập như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm trước đây. Văn kiện lý luận do Lê Hồng Phong viết và huấn luyện vào lúc này là tác phẩm Chương trình hành động của Đảng. Tác phẩm này đã nêu rõ những mục tiêu chủ yếu của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ. Chương trình hành động của Đảng đã góp phần giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân giữ vững niềm tin vào tiền đồ cách mạng, đẩy lùi tư tưởng hoang mang dao động, tạo điều kiện cho việc khôi phục nhanh chóng hệ thống tổ chức Đảng và phong trào quần chúng. Khoảng từ tháng 10/1932 đến tháng 3/1933, Lê Hồng Phong mở lớp bồi dưỡng cho hơn 20 người từ trong nước sang, cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, đường lối chung của Đảng, cách thức tiến hành công tác vận động tổ chức quần chúng. Trong số những cán bộ do Lê Hồng Phong đào tạo có các đồng chí sau đó trở thành người lãnh đạo nòng cốt của Xứ ủy Bắc Kỳ như Hoàng Đình Dong, Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Chi...  Những cán bộ sau khi được đào tao, ngay lập tức được đưa về nước hoạt động, nhờ thế mà các tổ chức Đảng trong nước được khôi phục. 

Cùng với việc khôi phục hệ thống cơ sở, tổ chức Đảng trong nước, vấn đề khôi phục bộ chỉ huy, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng ở nước ngoài cũng được đồng chí Lê Hồng Phong hết sức chú trọng. Tháng 3/1934, Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí tiến hành Hội nghị thành lập Ban lãnh đạo của Đảng ở ngoài nước (lúc đó gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng). Ban Chỉ huy ở ngoài có chức năng như một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chí Lê Hồng Phong làm Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập là ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn. Ban Chỉ huy ở ngoài đã chuẩn bị và quyết định triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến 31/3/1935. Đại hội đã thảo luận thông qua Nghị quyết chính trị về tình hình quốc tế, trong nước, về Đảng, về các tổ chức quần chúng, những nhiệm vụ trước mắt của Đảng; thảo luận và thông qua 12 nghị quyết về công tác vận động các đoàn thể, tổ chức quần chúng. Điều lệ của Đảng Cộng sản và các điều lệ về đoàn thể, hội quần chúng; thông qua thư gửi Chấp ủy Quốc tế Cộng sản, các Đảng Cộng sản Pháp, Liên Xô, Ấn Độ, Xiêm; thông qua Tuyên ngôn gửi những người lao động trong nước.
Mặc dù Lê Hồng Phong không trực tiếp dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương vì phải dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương đi dự Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (từ 25/7 đến 31/8/1935), song vai trò và tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Lê Hồng Phongđược thể hiện trong tiến trình và kết quả Đại hội. Đại hội đã thông qua nhiều vấn đề quan trọng về tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương do Ban Chỉ huy ở ngoài dự thảo. Đặc biệt Đại hội đã khẳng định và nêu rõ quan hệ giữa Ban Chỉ huy ở ngoài với Ban Chỉ huy Trung ương Đảng ở trong nước. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Đại hội này. 

Macau (Trung Quốc) - nơi diễn ra Đại hội lần thứ nhất của Đảng (27-31/3/1935). Tại Đại hội này, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1935 - 1936 và Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản từ mùa thu năm 1935, Lê Hồng Phong đã có nhiều cống hiến to lớn trong việc lãnh đạo tổ chức và xây dựng đường lối chính trị của Đảng phù hợp với tình hình mới trên thế giới và trong nước, trên cơ sở vận dụng Nghị quyết Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản.

Với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong đã cùng với Trung ương triệu tập và chủ trì Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng vào tháng 7/1936 tại Thượng Hải. Căn cứ vào diễn biến của tình hình thế giới và tình hình Đông Dương, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đã quyết định chuyển hướng mục đích và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, xác định rõ mục tiêu trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi dân chủ, dân sinh và hòa bình. Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai. Chĩa đúng mũi nhọn vào chúng sẽ có tác dụng phân hóa kẻ thù, cô lập bọn phản động, trung lập hóa những thế lực có thể trung lập. Theo đề nghị của Lê Hồng Phong, Hội nghị quyết định thành lập một mặt trận rộng rãi lấy tên là Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở Đông Dương để cùng nhau tranh đấu đòi những điều dân chủ sơ đẳng. Cùng với việc chuyển hướng về nhiệm vụ cách mạng. Hội nghị quyết định thay đổi các hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh của quần chúng, chuyển từ tổ chức bí mật, đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu sang tổ chức và đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp là chủ yếu.

Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng trong nước, cuối năm 1937, Lê Hồng Phong về nước, hoạt động bí mật tại Sài Gòn, trực tiếp cùng Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng trong tình hình mới. Tháng 3/1938, Lê Hồng Phong tham gia Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn việc mở rộng hơn nữa chính sách Mặt trận của Đảng. Trong Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.Nắm sát tình hình thực tế, Lê Hồng Phong đã cùng với Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Văn Cừ quyết định chuyển Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương thành Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương và coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại nhằm tập hợp rộng rãi hơn nữa đông đảo quần chúng, tranh thủ hơn nữa mọi lực lượng có thể tranh thủ. Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương không chỉ bao gồm những lựclượng có tinh thần phản đế mà còn mở rộng đến các tầng lớp tư sản, địa chủ, các đảng phái cải lương ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo, tán thành đấu tranh vì tự do, cơm áo, hòa bình. Mặt trận không chỉ bao gồm những người tán thành dân chủ thuộc ba nước ở Đông Dương, mà còn bao gồm cả những người ngoại kiều, những người Pháp tán thành các khẩu hiệu đó. Hội nghị Trung ương tháng 3/1938 đã hoàn chỉnh chủ trương, sách lược mới của Đảng trong những năm 1936- 1939. Trong điều kiện khó khăn và phức tạp của tình hình lúc bấy giờ, chủ trương thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương của Đảng là đúng, thu hút được rộng rãi mọi lực lượng. Vì vậy, phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục phát triển và giành được những thắng lợi có ý nghĩa.

Hoạt động tư tưởng - lý luận của đồng chí Lê Hồng Phong thời kỳ 1938 - 1939 đã góp phần tuyên truyền, cổ động các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương nhằm thống nhất những vấn đề đấu tranh cho dân chủ. Đồng chí cùng Trung ương kiên trì uốn nắn các khuynh hướng tả khuynh đưa ra yêu sách quá cao, không quan tâm đến lợi ích của giai cấp tư sản và địa chủ nhỏ, cùng khuynh hướng hữu khuynh, chỉ chú trọng tầng lớp trên, coi nhẹ lợi ích quần chúng và phong trào công nông; đề cao sự lãnh đạo tập thể, luôn luôn chăm lo khối đại đoàn kết của Đảng, tạo cao trào mới của cách mạng cả nước thời kỳ Mặt trận Dân chủ.Đồng chí tích cực viết tài liệu và các bài báo tuyên truyền quan điểm của Đảng về việc thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương, phê phán, bệnh cô độc, hẹp hòi, "tả khuynh", vạch mặt phá hoại, phản cách mạng của bọn tơ-rôt-kít, trình bày quan điểm của Đảng về vấn đề phòng thủ Đông Dương, về đấu tranh nghị trường, về tự phê bình và phê bình trong Đảng, về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng... Trong cuộc đấu tranh tư tưởng đó, đồng chí tỏ rõ sự nhạy bén, bản lĩnh chính trị vững vàng, tính đảng kiên định và trình độ lý luận khoa học sâu sắc.

3. Lê Hồng Phong - Tấm gương người chiến sĩ cộng sản kiên cường

Giữa lúc những chủ trương đúng đắn của Đảng đang được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy họ đấu tranh giành nhiều thắng lợi mới thì ngày 22/6/1938, đồng chí Lê Hồng Phong bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn. Bọn chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn, dụ dỗ cũng như những cực hình tra tấn dã man khai thác bí mật của Đảng, của cách mạng. Không đủ chứng cứ để kết tội, ngày 30/6/19939, Tòa Tiểu hình Sài Gòn xử đồng chí 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc ở quê nhà (Hưng Nguyên, Nghệ An) với lý do dùng thẻ căn cước mang tên người khác và không nơi cư trú. Trong thời gian bị quản thúc ở quê nhà, Lê Hồng Phong đã viết nhiều bài đăng trên các báo công khai của Đảng làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng trong tình hình mới, nhằm tranh thủ tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ và tiến bộ để đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh... thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của người cách mạng kiên trung.

Chính vì thế, thực dân Pháp rất sợ người lãnh tụ cộng sản mà chúng gọi là “Tên phiến loạn nguy hiểm”, cho nên khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, dù chưa hết thời gian quản thúc, ngày 26/01/1940, đế quốc Pháp bắt Lê Hồng Phong lần thứ hai tại quê nhà buộc vào tội "hoạt động lật đổ" rồi dẫn độ về giam ở Khám Lớn, Sài Gòn. Trong thời gian gần một năm tra tấn, hành hạ, kẻ địch tìm mọi cách để khép đồng chí vào tội xử tử hình, nhưng không đủ chứng cứ, chúng giở đủ thủ đoạn, kể cả dùng đòn tâm lý hòng lung lạc tinh thần của đồng chí. Biết đồng chí Lê Hồng Phong và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng có con nhỏ là Lê Thị Hồng Minh, chúng đưa đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đến gặp đồng chí Lê Hồng Phong, hy vọng 2 người sẽ nhận nhau, qua đó chúng khép tội đồng chí có dính líu tới “âm mưu lật đổ chính phủ Nam Kỳ”. Mặc dù hai vợ chồng lâu ngày không được gặp nhau, nay gặp lại trong cảnh tù đày, sống chết không biết thế nào, lòng đầy thương cảm, nhưng đồng chí vẫn kìm nén tình cảm riêng, kiên quyết phủ nhận mọi chứng cứ của kẻ thù đưa ra, làm thất bại âm mưu của chúng. 
Cuối năm 1940, Tòa án Sài Gòn xử Lê Hồng Phong 5 năm tù giam và đày ra địa ngục trần gian Côn Đảo. Trong những ngày bị biệt giam trong hầm đá hoặc trong Banh II (nơi giam giữ tù cộng sản), kẻ thù luôn tìm cách hành hạ, tra tấn dã man, tàn ác, đồng chí vẫn nêu cao chí khí cách mạng, không khai báo một  lời. Là chiến sĩ cách mạng, đồng chí Tổng Bí thư Lê Hồng Phong rất quan tâm đến gia đình, quê hương. Ngày 5/8/1942, từ Bưu điện Nhà tù Côn Đảo, đồng chí gửi bức điện cho anh trai ruột là Lê Văn Soạn (tức Hương Chắt) ở quê với tấm lòng thương yêu gia đình da diết: “Xin anh em bà con miễn trách, đã hơn năm nay tôi không viết thư, chắc rằng anh chị Hương và ông bà, con cháu đều mạnh. Con cháu lớn rồi nên gả nó đi cho có đôi”. Không thể giết bằng án tử hình, thực dân Pháp dùng chế độ lao tù cực kỳ tàn bạo để hành hạ đồng chí đến kiệt sức. Trưa ngày 6/9/1942, Lê Hồng Phong vĩnh biệt anh em, đồng chí khi vừa tròn 40 tuổi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đồng chí còn nhắn lại "Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng Lê Hồng Phong vẫn tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng". Đó là lời chào của người cộng sản bất tử Lê Hồng Phong với anh em, đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Cho đến giờ phút cuối cùng, đồng chí vẫn luôn là người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Từ một thanh niên yêu nước, Lê Hồng Phong trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp, là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương sau khi Tổng Bí thư Trần Phú hy sinh, đồng chí không chỉ là nhà hoạt động thực tiễn mà còn là một nhà tư tưởng, lý luận xuất sắc của Đảng, một chiến sĩ quốc tế chân chính, tiêu biểu cho sự đoàn kết quốc tế giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Sự có mặt và những đóng góp của đồng chí trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong cuộc chiến tranh Bắc phạt ở Trung Quốc, trong Đảng Cộng sản Liên Xô, trong lực lượng Hồng quân Xô viết, trong Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và nhiều bài viết, thư trao đổi với Quốc tế Cộng sản đã nói lên điều đó. Tổng Bí thư Lê Hồng Phong làm được nhiều việc cho Đảng, cho dân tộc, một phần là sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, một phần là được sự đào tạo, giáo dục, rèn luyện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ lúc tìm đường cách mạng, Lê Hồng Phong đã được gặp và được dự lớp huấn luyện chính trị đầu tiên do Người tổ chức, trở thành thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được Người giới thiệu đào tạo tại các trường của Trung Quốc và Liên Xô. Sau này cùng công tác ở Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong lại được gần gũi và trực tiếp nhận được sự chỉ đạo của Người. Điều đó cắt nghĩa, quan điểm, chủ trương của Lê Hồng Phong và Nguyễn Ái Quốc thống nhất trên những vấn đề lớn thuộc chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, xứng đáng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bốn mươi năm tuổi đời, hai mươi năm hoạt động cách mạng liên tục, oanh liệt và đầy nhiệt huyết, đồng chí Lê Hồng Phong đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, tình yêu gia đình, quê hương đất nước, suốt đời hy sinh cho độc lập, tự do cho Tổ quốc, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân son sắt thủy chung với đồng chí, bạn bè, luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng, là tấm gương sáng cho thế hệ những người Việt Nam noi theo.



CÙNG CHUYÊN MỤC

Non nước xứ Nghệ

Con người xứ Nghệ

Thương hiệu xứ Nghệ