Tình yêu trai gái qua một số bài vè dân gian xứ Nghệ trước cách mạng tháng 8/1945

Nguyễn Tâm Cẩn - Phan Bá Hàm (Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An)
14/3/2022

Theo nhà Folklorehọc Ninh Viết Giao thì vè dân gian có hai loại: vè thế sự và vè trữ tình. Vè trữ tình mà chủ yếu là tình yêu trai gái là một bộ phận quan trọng, phong phú trong kho tàng vè xứ Nghệ . Cùng với ca dao tục ngữ nói về tình yêu trai gái, các bài vè sẽ giúp chúng ta hiểu thêm thế giới nội tâm của trai gái Nghệ Tĩnh, những suy nghĩ cảm xúc, những phản ứng trước các thế lực xã hội để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi. Đó là tiếng nói trái tim của nam nữ thanh niên nông thôn thuộc nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

                            
     Tình yêu ban đầu là sự tỏ tình  của hai người khác giới. Việc tỏ tình cũng có nhiều cách .Chẳng hạn: chàng trai ở làng Phú Ninh tỏ tình bằng cách khoe quê hương mình với bạn đời tương lai:

Tổng Vân có bốn cái đình

Nhìn xem phong cảnh Phú Ninh ai bằng

Đồng ruộng dăng dăng

Có lèn Trắng, lèn Xanh

Sông Vũ Giang uốn quanh

Nước bốn mùa trong vắt.

Đất  tốt đã nên đất

Làng đẹp  thật quý quyền

Có hòn Bút, hòn Nghiên

Sinh con gái như tiên,

Sinh con trai tài trí.

Có quan văn, quan võ

Anh giảng cho em tỏ

Thật đáng nơi lấy chồng

Từ xóm Nam đến xóm Đông

Tứ mùa đều bát tiết

Vui thậm lắm là vui

Đất Phú Ninh rày đẹp lắm ai ơi !

Văn nhân tài tử là nơi sinh thành.

         (Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Hồn quê làng Phú Ninh - NXB Khoa học xã hội - 2015 trang 62)

    Quả thật ở làng Phú Ninh, tổng Vân Tụ xưa có quan văn là Thám hoa Phan Thúc Trực (1808 -1852), có quan võ là Tả đô đốc Đào Trung Lao, Tán trị công thần Phan Hàm Mậu thời Hậu Lê.

    Cũng có người lấy nghề nghiệp của mình, nhất là học trò để khoe với bạn tinh.

Ca dao có câu: Thiên vàn chớ lấy học trò

                        Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm

    Nhưng bài vè không hoàn toàn tán thành quan điểm đó. Tác giả chứng minh rằng bốn lớp người trong xã hội cũ (sĩ nông công thương) thì sĩ đứng đầu hạng nhất, nếu thi đỗ cao thì rất vinh quang.

….Ngồi nghe dăm ba chuyện

Ai khôn bằng học trò

Nói rõ để em nghe,

Than với nường nường biết.

Chàng ôn kinh án tuyết

Đêm buông sáo thả mành

Đèn dầu thắp năm canh

Ngồi sôi kinh nấu sử

 
Một mai ra thi cử

Đậu ông Cử, ông Nghè

Thập đạo xướng tên nghe

Cổ có cao mới xứng

Lưng có dài mới xứng.

Giờ gươm mang, mũ đội

Về bái tổ vinh quy

Mở cờ thẻ ra đi

Gặp hương công phải tránh,

Lính bộ hành phải tránh.

 
Một mai lên Bố chánh

Ngồi kinh lược trong thành,

Đi tỉnh Nghệ, tỉnh Thanh

Ngồi tứ thư lục bộ

Mai lên chầu Thánh chúa

Đội mũ gấm thêu rồng,

Lưng thắt dải kim tòng

Mão đầu cân đỏ chói

 
Bây giờ ta mới hỏi:

Ai khôn bằng học trò ?

Xin các nường nhớ cho

Không ăn no nằm mãi

Học trò không nằm mãi.

                         (Sách làng Phú Ninh đã dẫn ở trên trang 65)

     Một chàng trai khác đang “tán tỉnh" với cô gái mà anh yêu tha thiết. Tác giả vẽ ra một tương lai đầy hạnh phúc, nhàn hạ nếu đôi ta thành vợ chồng:

                … Thôi thời em lấy anh thôi

Trang sức anh sắm đủ rồi còn chi

Guốc anh sắm em đi

Quai thao điều em dệt.

Mẹ cha ta có biết

Những lời nói của anh

Anh mà nói không rành

Có quỷ thần chứng giám.


Cam anh trồng trước cửa

Quýt anh đúc sau nhà

Bát nước chè múc ra

Cắm đũa vào không đổ

Một trăm giống gỗ

Không bằng gỗ lim,

Ván thì vàng tâm

Cửa nhà đỏ chói,

Khi trong nhà hết muối

Dân dưới bể  đưa lên,

Khi hết gạo, hết tiền

Đưa mâm  đồng ra thế.

Trên rừng đến dưới bể

Ta nỏ thiếu cái chi.

Lạy đức Phật từ bi

Đôi ta rành nhàn hạ

Đời ta không vất vả,

Con cái lại càng đông

Cả nội ngoại vui lòng

Vun trồng cho con cháu,

 
Anh ngồi anh trù tính

Khi anh lấy được em

Mơ ước sẽ đến nhanh

Có cuộc đời nhàn hạ

Suốt đời người nhàn hạ.    

(Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Nguồn sáng dân gian làng Yên Nhân – NXB Đại học Vinh - 2020 trang 143).

      Tục ngữ có câu: Miếng trầu là đầu câu chuyện. Một cô gái ở làng Quỳnh Khôi đã gửi gắm tình yêu của mình qua miếng trầu em têm: “Miếng trầu này là vợ / Miếng trầu này là chồng”. Thật là một cách tỏ tình kín đáo, tế nhị.

          Miếng trầu em rọc em têm

Miếng cau em bửa vừa mềm vừa xinh’

Lá trầu hình quả tim

Quả cau tròn láng bóng

Trầu em têm cánh phượng

Gửi tới người em thương .

Em đề giữa đôi dòng

Đề chữ ân, chữ ái

Đề chữ nghĩa chữ tình

Đề chữ thọ, chữ ninh

Đề hai chữ thậm xinh:

Đề chữ tình, chữ tính.

Chữ thiên duyên đã định

Mà trông đợi đêm ngày

Chàng ăn trầu không say

Nhớ vì tình vì nghĩa,

Say vì tình vì nghĩa.

 
Lúc tái bồi trường thịnh

Công tưới đắp vun trồng

Cau tốt trầu rậm xanh

Cau cao đã trưởng thành

Trầu kia mơn mởn lá

Cau vàng, trầu quế lạ

Em đưa ra chào mừng

Chàng đưa hai tay bưng

Thật ả Hằng, cung Quế (1)

Thật con người lan huệ

Thật là sắc là tài

Con người ngọc sánh hai

Trao nhau ăn một miếng

Đến trăm năm cũng nhớ:

Miếng trầu này là vợ,

Miếng trầu nọ là chồng

Trứng rồng nở ra rồng.

Anh con nhà làng sõi

Em con nhà dòng dõi.

Thầy đừng lo sự đói

Mẹ mơ tưởng sự giàu

Bấc đã hợp với dầu

Rồi trở nên tương hợp.

 
Buổi chiều trời sấm chớp

Đêm chuyển động vang trời

Đã quen tiếng mến hơi

Kết tri âm được nỏ

Kết vợ chồng được nỏ.

Trầu em têm còn đó,

Cau em bửa còn đây

Câu thơ đề bấy chầy

Mà anh chưa nói tới

Để ngày đêm em nhớ

Em mong anh nói có

Anh đừng có nói không

Kẻo em đợi em trông

Kẻo em đợi em mong

Em mong chờ, em đợi,

Bao tháng ngày mong đợi.

(Nguyễn Tâm Cẩn - Phan Bá Hàm: Từ Văn hóa dân gian làng Quỳnh Khôi mở rộng ra Văn hóa dân gian vùng đồng chiêm trũng - NXB Hội Nhà Văn – 2019 trang 156)

Chú thích:  (1) Ả Hằng cung Quế: ả Hằng hay chị Hằng là nói người đàn bà đẹp, chỉ mặt trăng.Cung Quế cũng là mặt trăng theo tích cây Quế mọc ở cung trăng.

    Khi hai bên đã yêu nhau tha thiết, sau cuộc tình tự, cô gái xin chàng trai “Để áo lại đây” và hy vọng khi nên vợ nên chồng sẽ có một gia đình hạnh phúc. Cái áo của chàng đối với cô còn quý hơn cả nhẫn vàng, nhẫn bạc vì mang hơi ấm của tình yêu lứa đôi.

Ra về để áo lại đây

Để đêm em đáp, để ngày em trông

Cái áo xông hương

Em treo bản mắc

Cái áo anh mặc

Em đắp lấy hơi

Đường ngái xa xôi

Em đi về không được.

 
Anh bắc cầu trước,

Anh bắc cầu sau

Bắc qua sông sâu

Đưa em về cho được.

Nghĩa tình giao ước

Cầu hóa ra sông

Em kêu  bằng chồng

Gọi người bằng mẹ.

Tháng ngày chung chạ

Vợ chồng làm ăn

Cày bừa anh làm

Em lo cấy hái.

Đường đi xa ngái

Chồng vợ đi về

Nội ngoại hai bề

Đều mong mạnh khỏe.

 
Đến ngày sinh đẻ

Mẹ lo cho ta

Ăn ở một nhà

Đi ra một ngõ.

Đến mùa có ló (lúa)

Gặt về ăn chung

Đến tiết thu đông

Đắp chung chăn chiếu

Đến ngày có cháu

Bà nội lo bồng

Bà ngoại cũng sang

O dì về cả.

Nuôi con cho khỏe

Cả nhà vui mừng

Em bón em chăm

Anh lo đồng ruộng.

Cuộc đời hạnh phúc

Em ước bao ngày

Để áo lại đây

Cho em cất giữ.

       (Sách làng Quỳnh Khôi đã dẫn ở trên trang 167)
       Tuy nhiên trong nhiều trường hợp không phải bao giờ tình yêu cũng “Xuôi chèo mát mái”.  Cũng ở làng Quỳnh Khôi một cô gái yêu một chàng trai nhưng gặp nhiều trắc trở. Tuy vậy cô vẫn tin tưởng vào tình yêu: mối tình đôi ta sẽ rất đẹp nếu: “Dặn bạn về kín múi như tơ” và nhất là ”Không thay lòng đổi dạ” bởi vì sự thủy chung là điều quan trọng nhất để mối tình đi đến thành công.

Dặn bạn về kín múi (mối) như tằm

Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ

Dặn bạn về kín múi như tơ

Lòng thương không ai biết, dạ đợi chờ không ai hay.

Lòng bấm chí thương ai

Đừng phỉnh phờ em ngọi (mong đợi)

Gặp anh đây em hỏi:

Sự cơn cớ vì ai ?

Đêm than vắn thở dài

Ngày âu sầu phiền muộn.

Đi ra thì không muốn

Không đi dạ chẳng yên

Bụng thêm rối, thêm phiền

Ruột tằm đau chín khúc,

Đau ruột tằm chín khúc.

 
Bởi vì ai xúi dục

Cho nên nỗi nước ni (này)

Tưởng bắc cầu mà đi

Ai bắc cầu mà lội.

Thấy mẹ cha bực bội

Đang ép uổng duyên em

Không có lý anh gièm

Cho duyên rời phận rẽ,

 
Anh say mê có kẻ

Anh đằm thắm có nơi

Như cây phướn giữa trời

Trăm dây xe không đến.

Nào ai ngồi khấn nguyện:

“Ta thương mãi nhớ liều

Em giòn đẹp bao nhiêu

Anh say mê chừng ấy”

Hai tay ta bưng lấy

Chén thông trúc đầy vơi

Xin dặn bạn một lời:

“Đừng say mê nơi khác

Đừng tìm chi nơi khác” ….

 
….Cách quan sơn mấy dặm

Khắp cả phủ Diễn Châu

Trở lại chốn âu sầu

Không một ai vừa ý.

Ba suy rồi bảy nghĩ

Năm đợi đến mười chờ

Dặn bạn tình kín múi như tơ

Không thay lòng đổi dạ

Chẳng thay lòng đổi dạ.

      (Sách làng Quỳnh Khôi đã dẫn ở trên trang 160)

      Một trường hợp khác người con gái giãi bày với người con trai . Nguyên do là chàng yêu nàng  nhưng nàng đang còn ít tuổi, không cùng lứa với nhau  nên không thể lấy nhau được, vì vậy chàng giận hờn . Nàng hứa khi chàng lấy vợ sẽ có quà mừng và trong tương lai  hai người có thể gả con cho nhau.

       Hờn giận anh ơi !

Xin anh đừng hờn giận

Đạo vợ chồng là số phận

Số trên trời định xe

Em xin nói anh nghe

Hết nguồn cơn sau trước .

Cá ăn nhờ với nước,

Bến nhờ cảnh với thuyền

Tại cái số cái duyên

Lòng em đây không tại,

Lòng  mẹ thầy nỏ tại.

Hay chi điều nói mãi

Nói thế nọ thế này

Bất đắc dĩ em đây

Phải kiếm lời thưa với.

Mắt em buồn rười rượi

Cơm em nỏ muốn ăn

Ngồi giận số trách thân

Trách nguyệt lão cầm cân

Xe duyên em cay đắng.

 
Khi lên giường xuống võng

Cũng ba ngại bảy ngần

Dầu thầy mẹ cầm cân

Cũng xin thầy với mẹ .

Tuổi em đang còn bé,

Tuổi anh đã là nhiều

Không kết được duyên yêu

Mắc hai người hai lứa.

Tiếc con người như rứa

Không kết được tri âm

Cứ thương trộm nhớ thầm

Lòng băn khoăn tiếc mãi.

 
Phận em là con gái

Nhờ bến nước mười hai (2)

Chữ: Bất khả luận tài (3)

Anh về hỏi được ai

Em xin mừng khăn yếm.

Mai kiếm quan tiền quý

Em đưa lên tới nhà

Trước mừng cho ông bà

Sau mừng cho anh xã .

Em mừng cho chị cả

Được trong ấm ngoài êm

Được tai thánh mắt hiền,

Được lắm bạc nhiều tiền

Mừng bao nhiêu chừng ấy.

Mai sau con ta nậy (lớn)

Ta gả bán cho nhau

Giữ tình trước nghĩa sau

Rứa mới yên trong dạ ,

Rứa mới đành trong dạ .

Anh đừng nghe lời thiên hạ

Mà nói ngược nói xuôi

Lòng đừng có bồi hồi

Xin anh đừng hờn giận.

Mong anh đừng hờn giận.

         (Phan Bá Hàm – Nguyễn Tâm Cẩn: Tràng Sơn, một làng Văn hóa dân gian phong phú - NXB Văn hóa Thông tin - 2014  trang 125)

Chú thích: (2) Bến nước mười hai: Chỉ duyên phận tình yêu

Bất khả luận tài: không thể hiểu hết được cái tài của con người . Ở đây người con gái muốn nói: anh có thể lấy người khác tài giỏi hơn tôi.

    Cũng có trường hợp người con gái phải lấy chồng xa quê hương  nên xa cha ngái mẹ  không “đi viếng về thăm được”, có lúc ngồi khóc một mình.  Tâm lý của người thời xưa là muốn lấy chồng gần  để nhờ cậy cha mẹ, anh chị em. Cuối cùng, nàng oán trách  Ông tơ hồng trên trời cao đã xe duyên cho mình như thế . 

Em về xóm Bắc cách sông
Xa nhà mới tỏ tri âm đôi đường

Ngồi nghĩ lại mà thương

Lúc cha già mẹ yếu

Năm ba nhành đào liễu

Chữ xuất giá lấy chồng

Chữ phu xướng, phụ tòng

Ai đành lòng phận nấy

Lời người xưa nói vậy .

Không kén chọn làm chi

Em bước chân ra đi

Đi khắp nơi mọi chỗ (chốn)

Ngày thì đi củi cỏ,

Tối lại nhớ lại trông

Gánh ló (lúa) đi gửi nhà ông

Bởi tại trời ách nước.

Lời thành tâm ao ước

Ước cha mẹ sinh thành

Gả bán em một mình

Gần Tràng Sơn, Vân Hội.

Giờ lấy chồng xa ngái

Không đi viếng về thăm

Giọt nước mắt lâm thâm

Chỉ một niềm thương nhớ.

Cửa nhà em giàu có

Không bởi tại buôn tru (trâu)

Chưa chắc chắn chi mô

Đâm đầu vô mà chịu,

Cúi đầu vào mà chịu.

Em con nhà phú hữu

Khi sinh năm đẻ mười

Các chị có chồng rồi

Chỉ mình em là út.

Như ván cờ lỡ nước

Như con cá lỡ xuôi

Ngồi nghĩ lại mà coi

Cho tỏ tường ong bướm

 
Nhiều khi ngồi nghĩ đến

Ai ép bỏ duyên ta ?

Lấy chồng xa cho khổ

Ai đem duyên đi đổ

Đổ sông nước đại giang,

Đổ đất nước nhà làng

Bỏ quê hương Rú Bạc,

Nằm em nghĩ càng bực

Nghĩ không biết ra răng (ra sao)

Ngồi dựa cội bóng trăng

Có lúc mờ lúc tỏ…

Cuộc đời người cũng rứa

Chỉ tại Ông tơ hồng

Thôi duyên kiếp đã đành

Hỏi biết làm sao được.

          (Sách làng Tràng Sơn đã dẫn ở trên trang 122)

    Ngày xưa đàn ông hơn 50 tuổi lấy con gái cũng là một chuyện lạ hiếm có trong thôn xóm  cho nên mọi người bàn tán xôn xao. Tác giả tỏ ra băn khoăn chưa chắc đã hạnh phúc vì: “Con gái mà lấy ông tra / Ông mà đang được phúc nhà ông to”.

Xóm Tây có ông Nhiêu Thường

Hơn năm mươi tuổi lo lường giỏi kinh.

Bây giờ hỏi vợ thật xinh

Xem trong nội trợ hơn con mình đẻ ra.

Con gái mà lấy ông tra  (già)

Ông mà đang được, phúc nhà ông to.

Muốn cưới ông phải bán bò

Bán đi sáu chục  mà lo bà dì.

Anh em ai chẳng biết chi

Đến bữa ông cưới mới biết mụ dì ông Nhiêu.

(Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Văn hóa dân gian làng Liên Trì - NXB Lao Động – 2011 trang 142)
        Ngược lại có chàng trai cũng ở làng Liên Trì lấy vợ quá già nên đã đưa đến những nỗi đau khổ khôn lường. Chàng trai trong bài ca thật đáng buồn vì lấy vợ thừa người ta mà vợ lại già hơn cả mẹ ! Vừa vất vả lo gia đình lại vừa xấu hổ với bạn bè. Theo tác giả là ”tại cái số sinh ra” - một cách giải thích né tránh trong xã hội cũ, nhằm an ủi chàng trai bất hạnh.

Công anh dạm vợ ba mùa

Dạm được người vợ lại vợ thừa người ta.

Khi đem vợ về nhà

Thấy vợ già hơn mẹ.

Anh nhìn lên mặt mẹ

Thấy mẹ trẻ vợ già

Lòng anh thật xót xa

Biết than cùng ai được.

 
Tháng ngày đi vùn vụt

Vì phải tội vợ già

Khi sinh chút con ra

Cực lòng anh nhai mớm,

Anh không nhai thì gớm,

Anh không bợm thì thương.

Khi việc họ việc đương

Trao miếng xương cho mẹ,

Gạt miếng mềm cho vợ.

Hay khi anh dang dở

Có bạn đến chơi nhà

Hỏi mẹ nó đi mô ?

Để bà già ấp cháu ?

Tay anh bưng mủng quạu,

Tay anh hái rau thơm,

Ngồi thổi lửa bắc cơm

Đã buồn chiều với bạn.

 
Tru (trâu) tơ thì anh bán,

Anh mua lấy bò già

Trăm đường tại cái số sinh ra

Biết mần răng cho được,

Làm thế nào cho được !

             (Sách làng Liên Trì đã dẫn ở trên trang 162)

      Con người xứ Nghệ có tính cách yêu ghét phân minh rạch ròi. Điều đó được phản ảnh rất rõ trong các bài vè về tình yêu trai gái.  Qua sự phân tích các bài vè ở đây  ta thấy tình yêu trai gái thật là chất phác, đôn hậu. Nó trải qua những cung bậc thăng trầm : vui sướng dạt dào khi thông cảm và buồn bã giận hờn khi chưa hiểu lòng nhau. Họ đã phấn đấu hết sức để đạt được mục đích.  Nhưng nếu không lấy được nhau thì họ lại đổ lỗi cho cha mẹ hoặc Ông tơ bà nguyệt, tai số phận và để lại những lời hứa hẹn làm người yêu vừa lòng không thể trách cứ được. 


Tài liệu tham khảo:     

1.Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Văn hóa dân gian làng Liên Trì - NXB Lao Động – 2011
2.Phan Bá Hàm – Nguyễn Tâm Cẩn: Tràng Sơn, một làng Văn hóa dân gian phong phú - NXB Văn hóa Thông tin - 2014
3.Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Hồn quê làng Phú Ninh - NXB Khoa học xã hội - 2015
4.Nguyễn Tâm Cẩn - Phan Bá Hàm: Từ Văn hóa dân gian làng Quỳnh Khôi mở rộng ra Văn hóa dân gian vùng đồng chiêm trũng - NXB Hội Nhà Văn – 2019
5.Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn: Nguồn sáng dân gian làng Yên Nhân – NXB Đại học Vinh - 2020.













       

     






                                    
 



     

CÙNG CHUYÊN MỤC