Dấu ấn Đoan Quận công tại xứ Thuận Quảng

Tử Quang-(Trung tâm KHXH & NV Nghệ An)
13/5/2022

Đoan Quận công Bùi Thế Đạt là vị võ tướng xứ Nghệ nổi danh trong lịch sử nước ta thế kỷ 18. Sự nghiệp võ tướng của ông được các sử gia thời Lê Trịnh ghi chép rất đầy đủ và chi tiết trong nhiều bộ chính sử như Đại Việt sử ký tục biên, Phủ biên tạp lục, Tứ bình thực lục… Trong quãng thời gian phục vụ trong triều đình Lê Trịnh, ông hầu như chưa bại trận lần nào, trở thành một trong những trụ cột chính của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ và là 1 trong 3 võ tướng được ghi tên vào cờ Thái thường ở Phủ Chúa, đồng thời được sử gia Phan Huy Chú xem “là bậc danh tướng của châu Hoan thời gần đây”. Ngoài những chiến tích về quân sự, Đoan Quận công còn để lại nhiều dấu ấn đặc biệt khác trong sự nghiệp cầm quân của mình.


Cổng đền Quan Lớn Bùng, xã Diễn Ngọc huyện Diễn Châu


 Bản đồ xứ Đàng Trong và “Bãi cát vàng”

 Năm Giáp Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1774), Quan Trấn thủ Nghệ An là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt nhận thấy thời cơ đánh chiếm Nam Hà đã đến liền tấu về triều mở cuộc tấn công vào Nam và được chúa Trịnh Sâm đồng ý ra quân. Trong cuộc Nam chinh lịch sử này có rất nhiều nhân vật lịch sử người Nghệ tham gia và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội Đàng Ngoài. Họ không những hoàn thành sứ mệnh chính trị - quân sự, tạo ra nhiều dấu ấn kinh tế - văn hóa mà còn viết nên những thư tịch về lịch sử - địa lý xứ Đàng Trong có giá trị.
Tượng Đoan Quận công Bùi Thế Đạt tại đền Quan Lớn Bùng


Đoan Quận công vốn là người mưu lược, ông xét thấy Trương Phúc Loan ngày càng khuynh loát triều chính chúa Nguyễn, nền chính trị Đàng Trong ngày một suy yếu, có lợi cho việc Đàng Ngoài cất quân tiến đánh. Chính vì vậy Đoan Quận công đã bí mật khảo sát và tập hợp các tư liệu vẽ nên bộ bản đồ ghi lại chi tiết đường đi lối lại của xứ Đàng Trong nhằm phục vụ cho công cuộc bình định Phú Xuân, trong đó những ghi chép và mô tả bằng hình ảnh về Bãi Cát Vàng hay Hải Đội Hoàng Sa tức hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam ngày nay.

Bộ bản đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt được nói đến có nhan đề “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ” (甲午年平南圖) nghĩa là “Bản đồ đánh dẹp miền Nam năm Giáp Ngọ”. Dưới nhan đề là dòng chữ: “Đốc suất Đoan Quận công họa tiến” (督率端郡公畫進) nghĩa là: “Quan Đốc suất Đoan Quận công vẽ và dâng lên”. Bản đồ có ghi rõ thời gian là năm Giáp Ngọ, như vậy bộ bản đồ này do Đoan Quận công vẽ từ trước niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 và hoàn chỉnh dâng lên chúa Trịnh trước khi diễn ra cuộc Nam tiến. Bên cạnh phần ghi người soạn và mốc thời gian là dòng chữ chú thích: “Tự Động Hải dĩ chí Cao Miên”自洞海至高綿 (Từ Đồng Hới cho tới Cao Miên). Bộ bản đồ gồm tất cả 15 tấm bản đồ vẽ xứ Đàng Trong.

Ở đây, Động Hải chỉ Đồng Hới (Quảng Bình), còn Cao Miên tức Chân Lạp (Cam Pu Chia). Ở trang đầu tiên, khi vẽ vùng Đồng Hới ta thấy rõ các chú thích: Đức Phổ 德普, Mỹ Cương 美剛, An Thái 安泰, Bố Chính Châu 布政州... đều là những địa danh của vùng đất Quảng Bình. Đặc biệt là một khoảng thành luỹ chạy dài với chú thích bên cạnh là Động Hải luỹ 洞海壘 tức chỉ luỹ Đồng Hới hay còn gọi là luỹ Nhật Lệ, luỹ Thầy - một chiến luỹ kiên cố được nhà quân sự Đào Duy Từ xây dựng từ những năm 1630 để ngăn các cuộc tấn công của quân đội Đàng Ngoài vào lãnh thổ Đàng Trong. Bản đồ vẽ và chú thích rõ đoạn chiến luỹ Luỹ Thầy kéo dài từ núi Đầu Mâu 頭牟山 cho tới cửa biển Nhật Lệ日麗海門深. Nhờ có bản đồ này mà quân Trịnh tiến thẳng vào Nghệ An rồi tiếp tục tiến sát tới sông Gianh, tiến đánh Lũy Thầy. Quân Trịnh chiếm được thành Quảng Bình một cách dễ dàng và cho san phẳng chiến luỹ này.

Phần vẽ và chú thích “Bãi Cát Vàng” được thể hiện trong tấm bản đồ thứ 6 của “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ”. Phần gần với vùng biển đều được vẽ và chú thích rõ các địa danh như: An Vĩnh thị 安永市 (chợ An Vĩnh), phía dưới chợ An Vĩnh là Sa Kỳ hải môn 沙淇海門 (cửa biển Sa Kỳ) và núi An Hải 安海. Quan sát khu vực này ta thấy xung quanh đều có các dãy núi trấn ở các phía. Đối chiếu những chi tiết này với bộ thư tịch lớn nhất về địa lý Việt Nam dưới thời phong kiến là Đại Nam nhất thống chí (thời Nguyễn) ta thấy có sự thống nhất về vị trí cũng như những mô tả. Đại Nam nhất thống chí chép: “Vũng An Vĩnh ở xã An Vĩnh, phía Đông huyện Bình Sơn, phía Nam cửa biển Sa Kỳ. Ngoài có núi trấn, phía Đông có ấp An Hải giáp biển”(2). Bên cạnh đó bản đồ này còn vẽ và chú thích hình núi Nam Châm. Còn ở phía ngoài biển, bản đồ vẽ hình một quả núi với lời chú: “Thử sơn đa hữu du” 此山多有油 (núi này có nhiều dầu). Đặc biệt nhất, bộ bản đồ này vẽ và chú thích Bãi Cát Vàng nằm ngoài khơi phủ Quảng Ngãi.

Phần vẽ và chú thích "Bãi Cát Vàng" trong "Giáp Ngọ niên bình Nam đồ"

Bãi Cát Vàng được vẽ tượng trưng bằng hình những quả núi hình bầu dục, nằm giữa Cù Lao Chàm và Cù Lao Ré ngoài khơi huyện Bình Sơn với lời chú bằng nguyên văn 3 chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng”    葛鐄. Vì thuần túy chỉ phục vụ mục đích quân sự nên nó chưa mô tả đầy đủ cửa biển, bờ biển trên vùng biển thuộc lãnh hải nước ta mà chỉ vẽ và chú thích đường đi cũng như các địa danh quan trọng. Tuy nhiên, với những gì mà bộ bản đồ thể hiện cũng cho chúng ta hình dung một cách khái quát về diện mạo khu vực Đàng Trong vào những năm cuối thế kỷ 18. Đặc biệt, trong đó có những chi tiết bằng hình ảnh và văn tự xác định chính quyền (chúa Nguyễn) và người Việt (xứ Đàng Trong) đã khai thác và làm chủ “Bãi Cát Vàng” từ rất lâu trước những năm thế kỷ 18. Như vậy, “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ” là thư tịch thứ hai xuất hiện danh từ “Bãi Cát Vàng” sau “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” của Nho sinh Đỗ Bá Công Đạo.

Ta biết rằng cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài bởi chúa Nguyễn dựa vào sự hiểm yếu của Đàng Trong để phòng thủ khiến cho quân chúa Trịnh không thể tiến qua Luỹ Thầy vì thành luỹ kiên cố, đường đi không rõ ràng. Trước đó đã có Nho sinh người Nghệ An là Đỗ Bá Công Đạo giả dạng lái buôn dong thuyền vượt biển vào Nam thăm dò hình thế sông núi, xem xét đường đi lối lại rồi vẽ bản đồ “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” dâng lên chúa Trịnh. Đem so sánh “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ” với tác phẩm trên, ta thấy chúng có một đặc điểm chung đó là đều phục vụ cho mục đích quân sự và đều được thực hiện bởi người xứ Đàng Ngoài, trong khi Bãi Cát Vàng thuộc lãnh thổ, lãnh hải của xứ Đàng Trong và các thư tịch sau này đều mô tả và viết về Bãi Cát Vàng như một nguồn lợi lớn về kinh tế. Sau cuộc chiến năm Giáp Ngọ, lần đầu tiên quân Trịnh chiếm được kinh đô Phú Xuân của Đàng Trong và đưa quan lại vào trấn trị, và cũng nhờ đó mà lần đầu tiên người xứ Đàng Ngoài được tự do tìm hiểu và viết về xứ sở Đàng Trong nhiều đến như vậy. Tất cả các tác giả đều sinh ra lớn lên ở Đàng Ngoài, nhưng họ luôn xem phần lãnh thổ, lãnh hải của Đàng Trong đều là phần máu thịt của tổ quốc và dân tộc. Chính vì vậy họ đều có trách nhiệm bảo vệ, ghi chép một cách đầy đủ và nghiêm túc. Qua đó có thể thấy việc quản lý “Bãi Cát Vàng” dưới thời các chúa Nguyễn đã trở thành một hệ thống rất chặt chẽ và quy củ, khẳng định quyền làm chủ của người Việt đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước thế kỷ 17.


Địa danh “Trường Tiền” và tiền “Cảnh Hưng thuận bảo”

Sau khi tiếp quản thành Phú Xuân và đảm nhiệm chức Trấn thủ, Đoan quận công Bùi Thế Đạt nhận lệnh của triều đình cho mở một xưởng đúc tiền lớn ngay tại khu vực bờ sông Hương (phía bắc cầu Trường Tiền ngày nay). Ông cho thu vét các sản vật và vũ khí bằng đồng không dùng như súng, đỉnh, vạc… để đúc tiền dâng lên vua Lê chúa Trịnh dùng vào việc ngoài biên. Công việc được tiến hành từ ngày 22/2 cho tới ngày 30/6 năm Bính Thân (1776).


Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn có viết về sự kiện này như sau:

“Mùa xuân năm Bính Thân (1776), vâng truyền rằng phàm bắt được súng đồng ở Thuận Hoá, nòng súng đã rộng không dùng được, cùng là đồ đồng, tấm đồng nặng lớn không dùng được và không chở đi được, thì nên đem phá huỷ gấp mà đúc tiền cất chứa. Đồng tiền nặng một đồng cân, đề chữ “Cảnh Hưng Thuận bảo”, rồi xem đúc được bao nhiêu, làm khải đệ lên, để chúa dùng vào việc ngoài biên. Kiêm Đốc suất Đoan Quận công sai Tả tượng cơ là Lai Trung hầu coi việc đúc, mở xưởng đúc ở phía hữu trấn dinh. Lấy Cai đội cũ là Luận Bình hầu Văn Thế Nghị đảm nhiệm việc ốp làm, lấy người am hiểu các xã làm thợ. Đỉnh to, vạc lớn, thùng lớn của họ Nguyễn từ rộng 7,8 thước, cao 3,4 thước, nặng 700, 800 cân trở xuống đều phá để đúc tiền, ngày 22 tháng 2 (Bính Thân 1776) bắt đầu làm, ngày 30 tháng 6 thì xong, theo sổ tính, phá các hạng đồ đồng, đỉnh đồng cùng là đồng đỏ, cân được 799 tạ, mỗi tạ nặng 100 cân, thêm thiếc trắng 15 cân 12 lạng, chì 43 cân 10 lạng… Cộng tất cả đồng thiếc chì 159 cân 6 lạng, đúc thành tiền được 380 quan, cộng được 30.362 quan, trong số ấy phát lương ăn cho thợ đúc mỗi tạ 7 quan, cộng 5.593 quan, phát tiền mua than gỗ nhựa trám mỗi tạ 1 quan, cộng 799 quan, chỉ còn thực nộp là 23.962 quan, thì cất vào kho”[1]

Tiền "Cảnh Hưng Thuận Bảo"


Do đang trong thời kỳ chiến tranh nên công trường đúc tiền cũng chỉ mang tính chất dã chiến tạm thời. Đồng tiền “Cảnh Hưng Thuận Bảo” cũng vì vậy mà chất lượng kém hơn so với các loại tiền niên hiệu Cảnh Hưng khác. Tiền có đường kính từ 2,3 đến 2,4cm, kiểu chữ thể hiện là chữ chân, đọc chéo. Chữ “Thuận” chỉ đồng tiền được đúc ở Thuận Hoá (Huế). Lưng tiền để trơn, biên viền mép cả trước và sau vừa phải cân đối. Chữ trên tiền có nét thư pháp không được sắc sảo như các loại tiền khác. Công trường đúc tiền cũng chỉ tồn tại trong một thời gian 4 tháng ở phía ngoài trấn dinh, cạnh bờ bắc sông Hương. Tuy vậy, với việc một vị tướng quân đội Đàng Ngoài mở công trường đúc tiền tại Đàng Trong thì đây là một sự kiện đặc biệt tại mảnh đất Thuận Hóa khi đó. Chính vì thế mà nó đã in đậm dấu ấn trong đời sống xã hội mảnh đất Thuận Hóa Phú Xuân lúc bấy giờ và mảnh đất có trường đúc tiền mang tên “Trường Tiền” còn tồn tại cho đến tận ngày nay.

Miễn giảm tô thuế cho người dân Thuận Hóa.

          Trong một chuyến điền dã tại địa bàn xã Phù Bài, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế chúng tôi may mắn được tiếp cận một văn bản hành chính có liên quan tới những hoạt động hành chính mà cụ thể là vấn đề tô thuế tại xứ Thuận Hoá - Quảng Nam sau khi vùng đất này đã thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh, đất nước không còn ngăn cách bởi “Đàng Trong – Đàng Ngoài”.

          Tư liệu được nói tới chính là 1 văn bản chấp nhận giảm thuế cho địa phương xã Phù Bài huyện Phú Vang thuộc xứ Thuận Hoá. Nội dung như sau:

Nguyên văn:

奉差順廣道鎮府衙門官等


付富榮縣符牌社員目潘進茗吳定筐仝社等係本社地分有 [市]壹所舊例稅錢貳拾陸貫玆有單備鳴這市頗已頹弊乞受稅錢拾參貫遞年十二月投納應依所乞至期遞將稅錢投納足數若逾期緩欠有公法在玆付.

一舊例仝年又有納鐵貳千塊玆年乞納壹千塊各重貳拾伍斤以四月十月二期投納應依所乞其照[...]搜役仍依舊額。

景興三十七年四月二十七日。

Phiên âm:

Phụng sai Thuận Quảng đạo trấn phủ nha môn quan đẳng

Kế

Phó Phú Vang huyện, Phù Bài xã viên mục Phan Tiến Mính, Ngô Định Khuông đồng xã đẳng, hệ bản xã địa phận hữu [thị] nhất sở, cựu lệ thuế tiền nhị thập lục quan. Tư hữu đơn bị minh, giá thị phả dĩ đồi tệ, khất thụ thuế tiền thập tam quan, đệ niên thập nhị nguyệt đầu nạp, ưng y sở khất. Chí kỳ đệ tương thuế tiền đầu nạp túc số, nhược du kỳ hoãn khiếm, hữu công pháp tại. Tư phó.

- Cựu lệ đồng niên hựu hữu nạp thiết nhị thiên khối. Tư niên khất nạp nhất thiên khối, các trọng nhị thập ngũ cân, dĩ tứ nguyệt, thập nguyệt nhị kỳ đầu nạp, ưng y sở khất, kỳ chiếu […] sưu dịch, nhưng y cựu nghạch.

Cảnh Hưng tam thập thất niên, tứ nguyệt, nhị thập thất nhật.

Ấn: Phụng Sai Bình Nam Đại Tướng Quân Chi Ấn.


Tượng quan chầu tại đền Quan Lớn Bùng

Dịch nghĩa:

Các quan phụng sai Thuận Quảng đạo trấn phủ nha môn

Xét

Giao cho viên mục Phan Tiến Mính, Ngô Định Khuông cùng toàn xã Phù Bài, huyện Phú Vang rằng: Thực ở địa phận bản xã có một [cái chợ], mà tiền thuế theo lệ cũ là 26 quan. Nay có đơn kêu rằng chợ đó đã hư nát đi nhiều, nên xin chịu tiền thuế 13 quan, đến tháng chạp hàng năm sẽ đem nạp, [nay] chấp thuận cho đúng theo điều xin đó. Đến kỳ hạn phải đem tiền thuế nạp cho đủ số, nếu quá kỳ hạn đó mà chậm trễ nạp thiếu thì đã có phép công.

Nay giao cho.

Theo lệ cũ hàng năm còn phải nạp hai ngàn khối sắt. Năm nay xin nạp một ngàn khối, mỗi loại nặng 25 cân, cho phép đến hai kỳ hạn tháng 4 [và] tháng 10 thì đem nạp, ưng thuận theo những điều đã xin, chiếu theo lệ sưu dịch, nhưng vẫn dựa theo ngạch cũ.

Cảnh Hưng năm thứ 37 (1776), tháng 4, ngày 27.

Đặc biệt, con dấu đóng trên dòng niên hiệu là: “Phụng Sai Bình Nam Đại Tướng Quân Chi Ấn”. Căn cứ vào đây cho chúng ta biết rằng người cho phép miễn giảm tô thuế cho xã dân Phù Bài lúc bấy giờ chính là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt. Điều thú vị là nội dung của văn bản này rất giống với những ghi chép trong Phủ biên tạp lục, cho chúng ta thấy được tính xác tín của sự kiện được nói đến:




富榮縣符牌社有山一嶺出鐵舊例稅納歲二千塊塊稱二十五斤只除節料稅前不除田租粟差除錢以二月示送煉作分納四月八月二其貯入公庫其納該官例係正稅一百塊外五十塊頗為太重如有公用煉納一其五百塊十塊七十五斤發還工錢每塊三十文




  Dịch nghĩa: Làng Phù Bài huyện Phú Vang có một quả núi chứa sắt. Theo lệ cũ, mỗi năm làng ấy phải nộp 2000 khối, mỗi khối 25 cân. Chỉ trừ thuế tiết liệu, còn thuế điền tô phải nộp thóc, thuế sai dư nộp tiền. Cứ tháng hai phải luyện sắt ấy chia nộp làm 2 kỳ vào tháng tư và tháng tám rồi chứa để vào kho Nhà-đồ. Phải nộp lễ cho Cai quan 100 khối là thuế chính và 50 thoi là thuế phụ. Sự đóng góp ấy rất là nặng nề. Khi có việc công cần dùng đến sắt thì làng ấy phải nộp mỗi ngày 500 khối, 10 khối nặng 75 cân. Đuợc trả tiền 30 đồng kẽm một khối[2].

 
        Văn bia ghi lại công nghiệp của Đoan Quận công

  Chúng ta biết rằng sau những năm 1775, khi tiếp quản thủ phủ Phú Xuân của xứ Đàng Trong, Đoan Quận công Bùi Thế Đạt chính là vị trấn thủ đầu tiên tại đây. Đặc biệt đầu năm 1776, sau khi Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc qua đời, ông được thăng làm Nam thùy đại tướng quân, kiêm trấn thủ Thuận Hóa, được tùy nghi quyết đoán mọi công việc. Ngoài nhiệm vụ phải bảo đảm giữ gìn và đánh bại mọi lực lượng xâm phạm Phú Xuân, ông còn phải đứng ra tổ chức và sắp đặt bộ máy hành chính tại đây. Đây là một điều rất khó khăn bởi xứ Đàng Trong sau hơn 200 năm tách rời khỏi chính thể Đại Việt đã như một quốc gia độc lập. Đặc biệt cuối đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, xứ Đàng Trong có hệ thống thuế khóa nhiêu khê, nặng nề, quan dưới lạm thu khiến dân phải nộp nhiều hơn quy định. Năm 1741, chúa Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh truy thu thuế của cả những người bỏ trốn, tới năm 1765 lại có lệnh truy thu thuế còn thiếu của 10 năm trước. Sang thời Trương Phúc Loan nắm quyền, dân Đàng Trong càng bị bóc lột nặng nề hơn. Đời sống nhân dân Đàng Trong thống khổ cùng cực. Chính vì vậy, sau khi quản lý mảnh đất này, Đoan Quận công Bùi Thế Đạt đã có 1 số cải cảnh về kinh tế mà đặc biệt là nới lỏng thuế khoá cho người dân. Thuận Hóa là mảnh đất chịu nhiều ân sủng của chính quyền chúa Nguyễn. Việc đội quân Lê Trịnh chiếm đóng tại vùng đất này được xem như hành động “xâm lược”. Do đó, nhiều người dân xứ Đàng Trong thấy quê hương bị chiếm đóng sẽ đứng lên chống cự quyết liệt. Chính vì vậy, việc vỗ về người dân nơi đây là việc làm vô cùng quan trọng. Văn bản trên ghi rõ việc nới giảm thuế khoá cũng như nới thời gian nạp thuế cho dân xã Phù Bài xuống còn 1 nửa. Việc làm đó đã cho thấy lòng yêu dân cũng như con mắt nhìn xa trông rộng của của Đoan Quận công. Chính hành động này đã cảm hóa được người dân xứ Đàng Trong, xóa nhòa đi ấn tượng uy vũ của quân đội Lê Trịnh.

          Những tư liệu này tuy không nhiều nhưng cũng đã cho chúng ta thấy rõ hơn về việc tổ chức bộ máy hành chính của chính quyền Lê Trịnh tại Thuận Hoá lúc bấy giờ, đồng thời bổ sung thêm những thông tin về hành trạng cũng như sự nghiệp, nhằm làm rõ hơn về một nhân vật lịch sử nổi tiếng như Đoan Quận công Bùi Thế Đạt.



[1] Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH, H, 1977, tr.243.

[2] Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH, H, 1977, tr.243.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Non nước xứ Nghệ

Con người xứ Nghệ

Thương hiệu xứ Nghệ