KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian
Tin đăng ngày: 21/5/2018 - Xem: 169
 

 

Từ ngày Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều cho đến nay, hơn hai thế kỷ đã đi qua. Và với một dân tộc có truyền thống thơ ca như nước ta, thì ngần ấy thời gian đã cho ra đời biết bao tác phẩm kế tiếp. Nhưng quả thực vẫn chưa có tác phẩm nào vượt lên trên Truyện Kiều. Một cách công bằng mà đánh giá, Truyện Kiều vẫn là thi phẩm “số một” trong kho tàng văn chương Việt Nam.

Bởi vì giá trị của kiệt tác này quá lớn, cho nên từ ngày xuất hiện, đã có không biết bao nhiêu các công trình nghiên cứu về nó. Người ta tiếp cận Truyện Kiều ở nhiều phương diện khác nhau; song chung quy lại vẫn là để khẳng định sức sống của một tác phẩm, sức sáng tạo của một thiên tài.

Nằm trong mạch chung ấy, chúng tôi thử đi tìm cái gọi là Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian, nhằm khẳng định giá trị của nó dưới ánh sáng của lý luận văn học - hay chính xác hơn - vấn đề tiếp nhận văn học.

Như chúng ta đã biết, đối tượng tiếp nhận của một tác phẩm văn học bao giờ cũng là toàn bộ công chúng nói chung. ít có người nghệ sĩ nào khi cầm bút, lại nghĩ rằng anh ta sáng tác cho riêng bản thân anh ta hoặc chỉ một tầng lớp nào đó trong xã hội. Hơn nữa, tác phẩm văn học ra đời, số phận của nó phải được đặt trong không gian và thời gian của đời sống, để chờ đón nhiều hướng tiếp nhận từ phía người đọc.

Trong ý nghĩa như vậy, khẳng định sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian, theo chúng tôi đó là một hướng tiếp cận. Vấn đề cơ bản mà chúng tôi đặt ra trong bài viết này là đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Tại sao Truyện Kiều - bản thân nó vốn tồn tại là một tác phẩm văn chương bác học đích thực - nhưng lại được đông đảo quần chúng đón nhận ? Không chỉ là những người trí thức, những bậc đại Nho có chữ nghĩa; mà ngay cả tầng lớp bình dân, thậm chí cả những người chẳng có tí chữ nghĩa nào vẫn nhớ, vẫn thuộc, vẫn yêu Truyện Kiều tha thiết ? Thực ra, câu hỏi chúng tôi nêu trên đã trở nên quen thuộc - bởi lẽ đó là điều mà ai cũng thấy, ai cũng biết. Nhiều bài viết của các học giả, các nhà nghiên cứu (trong và ngoài nước) cũng đã đề cập đến ví như trong bài Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều, giáo sư Đặng Thai Mai đưa ra nhận định: “Người dân Việt Nam bất kỳ thuộc về tầng lớp nào, không ai là không thích nghe kể Truyện Kiều, ngâm Kiều, lảy Kiều. Người ta nhớ lấy từng câu, từng đoạn và dẫn dụng vào câu chuyện hàng ngày. Khi nói đến nhân tình thế thái” (1). Hoặc chính ông J.Buđaren - một học giả nước ngoài cũng nói: “Truyện Kiều… là cuốn sách kinh điển…, nhưng là thứ kinh điển mà mọi người đều biết… Người nông dân nơi đồng ruộng cũng có thể ngâm thuộc lòng từng đoạn Kiều(2).

Chỉ ngần ấy thôi, cũng đủ thấy rằng sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức những người con đất Việt là bền bỉ, lâu dài và cũng hết sức mãnh liệt. Điều đó nói lên tính phổ biến rộng rãi của thi phẩm này, nghĩa là ngoài đời sống học thuật và nghiên cứu, Truyện Kiều còn hiển hiện trong thế giới đời thường dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở đây, người viết chỉ nêu ra một số hình thức cơ bản gồm:

- Truyện Kiều qua một số mẩu chuyện giai thoại.

- “Truyện Kiều” sinh hoạt hát hò (hát đối đáp, hát ru con, hát trống quân, hát sa mạc - bồng mạc, hát giặm, hát ví….) (3).

- Ngoài ra còn có bình Kiều, vịnh Kiều, trà Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều, đố Kiều, bói Kiều…

Từ thực tế trên, sẽ là hợp lý chăng nếu đi đến khẳng định sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian không chỉ thể hiện ở chỗ dân gian thuộc Kiều, nhớ Kiều, mà kỳ diệu hơn chính là ở chỗ họ biết vận dụng một cách nhuần nhuyễn và đúng lúc, đúng chỗ thi phẩm ấy vào trong mọi phương diện của đời sống hàng ngày. Một cô gái chèo thuyền trên sông, một bác nông dân đi cày, một buổi chia tay giữa Hồ Chủ tịch với vị lãnh đạo nọ… Có thể nói phạm vi ứng dụng của Truyện Kiều vào đời sống khá phổ biến, phong phú và đa dạng. Bởi thế, trong dân gian mãi còn lưu truyền một câu chuyện đẹp kể lại rằng: “Người phụ nữ nọ, quê ở Ninh Bình, cha mẹ mất sớm song gia tài cũng có đồng ra đồng vào. Hai kẻ cùng tỉnh với người phụ nữ này là vợ chồng mụ Điều, vừa nham hiểm lại tham lam của cải đã ra sức thuyết phục chị làm vợ lẽ. Vì tính hiền lành, thật thà nên chị đồng ý. Nhưng trớ trêu thay, khi về làm vợ lẽ trong gia đình vợ chồng mụ, chị bị hành hạ ghê gớm. Vợ chồng mụ Điều tìm cách đẩy chị lên Lạng Sơn rồi cướp hết gia tài. Uất ức, chị làm một lá đơn viết toàn bằng… những câu Kiều đệ trình lên toà án Lạng Sơn, mong được soi xét. Quan án Lạng Sơn đã vô cùng cảm động và tìm cách minh oan cho người phụ nữ này. Chị cảm tạ quan án sáng suốt, nhưng quan mỉm cười, trả lời: “Không phải tôi cứu cô đâu. Chính là nàng Kiều đã cứu cho người bạn trong sổ đoạn trường của nàng ấy” (Giai thoại: Kiều ở toà án Lạng Sơn) (4).

Xưa nay, chuyện dân gian ứng dụng Truyện Kiều vào trong đời sống của họ ở nhiều phương diện, có lẽ không còn xa lạ với mỗi chúng ta. Chỉ có điều, nó được ứng dụng dưới hình thức một lá đơn kiện và giúp người dân thắng kiện thì quả là một hiện tượng chưa từng có. Thực tế ấy càng chứng minh rõ nét và sâu đậm hơn sức sống của văn chương Truyện Kiều.

Song vấn đề mấu chốt mà chúng tôi đặt ra ở đây không chỉ dừng lại ở công việc đi chứng minh cái tính chất phổ biến của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian, mà đi tìm cách lý giải cho sức sống bền lâu và sâu sắc ấy.

Đối với một thi phẩm lớn như Truyện Kiều, yếu tố tạo nên sức sống của nó trong tâm thức dân gian ắt hẳn là xuất phát từ nhiều lẽ. Trong phạm vi cho phép, chúng tôi mạo muội đưa ra một vài kiến giải sau:

Trước hết, nhìn ở góc độ thể loại, thì theo chúng tôi, nhân tố làm cho dấu ấn Truyện Kiều ăn sâu trong tâm thức của dân gian chính là ở chỗ Nguyễn Du đã khéo léo chọn thể lục bát khi tiến hành cấu thành kiệt tác của mình. Truyện Kiều là tác phẩm lấy cốt truyện từ Trung Quốc, cụ thể là từ tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng khi Nguyễn Du viết lại tiểu thuyết này đã tài tình chuyển đổi thành thiên tiểu thuyết bằng thơ, hơn nữa lại bằng thể lục bát. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, mà đằng sau đó gửi gắm sâu đậm ý đồ của tác giả. Lục bát vốn là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó có nguồn gốc từ trong ca dao, dân ca. Song việc sử dụng nó ở các tác giả trước Nguyễn Du và cùng thời với ông không phải là nhiều. Cái độc đáo nhất đối với nhà thơ họ Nguyễn là có lẽ chưa một ai như ông, đủ tài năng và bản lĩnh viết lên một tác phẩm bằng thơ dài đến 3254 câu, hơn nữa lại toàn là lục bát. Chính đây là yếu tố đầu tiên góp phần tạo nên sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian. Bởi đặc trưng của thể lục bát là thơ về tính biểu cảm, hay nói như Phan Ngọc: “Khi sử dụng thể loại này, vai trò của trí tưởng tượng không quan trọng cho lắm, mà vai trò của tình cảm quan trọng hơn. Thơ lục bát… trong truyện Nôm nói chung, cũng như trong ca dao, không đòi hỏi phải có hình tượng nổi bật” (5). Đây thực sự là ưu thế của thể lục bát so với các thể thơ khác. Với chính ưu thế này kết hợp với tính có vần (vần 6, vần 8) mà làm cho Truyện Kiều dễ thuộc, dễ nhớ. Người ta có thể chưa hiểu Truyện Kiều cho lắm, song nhờ đặc trưng này, khiến ai ai cũng biết Truyện Kiều, kể cả đứa bé chăn trâu đến người mù chữ… Đó chính là nhịp cầu xuyên thời gian để  lưu giữ thi phẩm của đại văn hào Nguyễn Du đi cùng năm tháng. Bởi lẽ, giả sử mà khi viết thiên kiệt tác này, ông sử dụng thể thơ nào khác không phải lục bát, thì chúng tôi tin rằng tính phổ biến của Truyện Kiều chưa chắc đã rộng rãi như vậy - và cũng không dám chắc rằng sức sống của nó lại lâu bền như vậy. Trong ý nghĩa đó, có thể khẳng định Nguyễn Du là người sáng suốt trong việc lựa chọn thể loại phù hợp với ý đồ của mình. Về phương diện này, cho thấy tài năng độc đáo của thi nhân, nhưng có lẽ tài năng ấy một phần do bẩm sinh, ngoài ra phải thừa nhận rằng ông còn bị chi phối bởi môi trường văn hoá. Bản thân Nguyễn Du vốn xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nhưng từ nhỏ được tắm trong dòng sữa của mẹ với những lời hát ru, những khúc dân ca quan họ… đã tạo thành dòng chảy đượm màu sắc dân gian, trong tâm hồn ông. Về sau, khi lớn lên, lặn lội trong cuộc sống với “mười năm gió bụi”, ông lại có dịp gần gũi quần chúng hơn và tham gia một số sinh hoạt văn nghệ với họ. Đây chính là những yếu tố quan trọng giúp tiếng thơ ông bắt nhịp được với muôn người. Chính nhà thơ, trong bài “Thanh minh ngẫu hứng”, đã từng viết:

                             “Thôn ca sơ học tang ma ngữ”

(Câu hát nơi thôn dã đã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề trồng dâu, trồng gai).

Và quả thực, với điểm xuất phát ấy mà khi sáng tác Truyện Kiều, ông ít nhiều bị ảnh hưởng bởi thơ ca dân gian, đặc biệt là ca dao. Người ta nhận thấy trong Truyện Kiều có rất nhiều câu gần như trực tiếp rút ra từ ca dao. Ví như câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

                                                                   (Truyện Kiều)

 

mang dáng dấp của câu ca dao:

Tiễn đưa một chén rượu nồng

Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi

Hoặc câu:

Rắp mong treo ấn từ quan

Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua

                                                                   (Truyện Kiều)

mang hơi thở của câu ca dao:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập  đèo cũng qua…

Trên đây, chỉ là những thí dụ tiêu biểu chứng tỏ sự ảnh hưởng của Nguyễn Du từ ca dao. Trong Truyện Kiều, có đến mấy chục câu tương tự như thế. Không ngạc nhiên khi bao nhiêu người chẳng chữ nghĩa gì vẫn yêu vẫn nhớ Truyện Kiều.

Song công bằng mà nói, nếu chỉ sử dụng thể lục bát mà Truyện Kiều đọng lại trong tâm trí dân gian dai dẳng như vậy; thì đương thời và sau này rất nhiều truyện Nôm khác (như Hoa tiên, Lục Vân Tiên…) cũng đặt ngòi bút theo xu hướng này. Vậy mà dấu ấn còn lại trong nếp cảm, nếp nghĩ của dân gian vẫn không sánh được với Truyện Kiều. Phải chăng, ngoài vấn đề thể loại, phía sau những câu thơ lục bát vẫn còn nhiều nguyên do khác ? Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi tiếp tục khai thác từ phương diện ngôn ngữ để góp phần tìm lời giải đáp.

Nếu như thể thơ lục bát, chứng tỏ sự ảnh hưởng của Nguyễn Du từ ca dao thì ngôn ngữ Truyện Kiều lại chứng tỏ ông ảnh hưởng sâu đậm từ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng.

Quả thật, ngôn ngữ trong Truyện Kiều do ảnh hưởng nhiều của văn chương Trung Hoa mà lượng từ Hán Việt khá nhiều. Theo thống kê của tổ tư liệu Viện Ngôn ngữ thì trong số 3412 từ của Truyện Kiều thì có đến 1310 từ Hán Việt, chiếm khoảng 35% trong tổng số từ của tác phẩm (6) Hơn nữa, điển tích điển cố cũng khá phong phú, đa dạng. Nhưng cái tài của Nguyễn Du là ông không bao giờ để cho trang giấy của mình đơn thuần chỉ là những sắc màu của văn chương bác học. Ông vẫn nghiêng mình về phía bình dân, tạo ra sự kết hợp đặc sắc giữa hai nguồn Bác học và Dân gian*. Bởi lẽ đó mà nhiều khi, dân gian tiếp cận những kiểu câu như thế, dẫu không hiểu từ Hán Việt, điển cố, điển tích cũng chẳng thông, song họ vẫn nắm được một cách nôm na ý tình của người nghệ sĩ, ví như câu:

Sông Tương một dải nông xờ

Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia

Hoặc như câu:

Xắn tay mở khoá động đào

Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai

Nếu có ai hiểu được điển tích, điển cố (sông Tương, động Thiên Thai) thì ý nghĩa của Truyện Kiều càng trọn vẹn. Còn nếu “lờ” đi vì không biết thì không đồng nghĩa với việc chẳng hiểu một chút gì. Vì vậy, Truyện Kiều dẫu cho ngôn ngữ có uyên bác đến đâu, vẫn đi vào lòng quần chúng.

Bên cạnh lối diễn đạt song song của hai thứ ngôn ngữ: bình dân và bác học, Nguyễn Du còn biết vận dụng khá linh hoạt các thành ngữ như: “mèo mả gà đồng, trong ấm ngoài êm, tình sông nghĩa bể, tai vách mạch rừng, ai khảo mà xưng, rút dây động rừng,…” được Nguyễn Du sử dụng khá nhuần nhuyễn tạo ra sắc thái dân dã mà trở nên gần gũi với quần chúng.

Đọc những câu như:

Nàng rằng: Non nước xa khơi

Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm

hay:

Nghĩ đà bưng kín miệng bình

Nào ai có khảo mà mình lại xưng

tôi tin chắc rằng không người Việt Nam nào lại không có đôi điều cảm nhận.

Song dẫu cho thế, nghĩa là trong thiên trường bút của mình, thiên tài Nguyễn Du đã có xu hướng đi gần về phía quần chúng bằng cách sử dụng thể loại lục bát (vốn có nguồn gốc từ ca dao) và vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày (vốn lấy từ thành ngữ, tục ngữ), thì đó mới là những căn cứ ở hình thức bề ngoài. Để tạo nên giá trị bất biến và vĩnh hằng trong lòng quần chúng, theo chúng tôi, vấn đề trọng tâm vẫn là nội dung Truyện Kiều

Như chúng ta đều biết, nội dung cơ bản của Truyện Kiều là nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Trên cơ sở đó, thể hiện cái nhìn cảm thông của người nghệ sĩ trước những kiếp người “tài hoa bất hạnh” và bày tỏ thái độ phê phán xã hội đương thời.

Song thực tế cho thấy, khi Truyện Kiều đi vào đời sống thì nội dung của nó phong phú hơn rất nhiều. Người này thì dùng Kiều để bói, người kia dùng Kiều để kiện quan và người khác nữa thì dùng Kiều để gửi thư cho mẹ… Điều đó, có nghĩa rằng, người ta có thể ứng dụng Truyện Kiều vào mọi ngóc ngách trong đời sống tình cảm. Hay nói cách khác, Truyện Kiều chính là cuốn từ điển sống phản ánh đầy đủ con người Việt, tâm hồn Việt và gắn với nếp cảm, nếp nghĩ của họ. Ví như cùng nói về xúc cảm yêu đương của người phụ nữ, nhưng chỉ có Nguyễn Du mới hạ bút viết được những câu:

Khách đà lên ngựa người còn nghé theo **

Bên cạnh đó, phía sau những câu chữ Truyện Kiều còn hàm chứa rất nhiều những triết lý dân gian. Một trong số các triết lý đó là ông đã gắn tình yêu nam nữ với chữ “nghĩa”, hay nói cách khác, sự thống nhất nghĩa tình chính là đặc điểm của tình yêu Việt Nam. Và nói như Phó Giáo sư Vũ Ngọc Khánh “Chuyện này đã trở thành phong tục và là phong tục cổ truyền rất thiêng liêng của người Việt” (6). Do vậy, người ta thấy trong thế giới Truyện Kiều, những con người trong đó tình thì rất thiết tha mà nghĩa cũng rất sâu nặng. Chẳng thế mà có lần Thúy Kiều đã phải cân nhắc:

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn ?

Sau này, Thúy Vân lấy Kim Trọng cũng là vì tình nghĩa của cái gọi là “Cũng là máu chảy ruột mềm”. Riêng Thuý Kiều, khi được quyền thưởng công, phạt tội giữa chốn công đường, cũng gắn chữ tình với chữ nghĩa: “Nàng rằng trọng nghĩa nghìn non”. Xem ra như thế, triết lý của Nguyễn Du chính là triết lý từ dân gian. Cho nên bao nhiêu người - dù không biết chữ cũng đều nhận thức được. Trong cái tình bao giờ cũng có cái nghĩa là nguyên lý phổ biến trong đời sống, trong cách ứng xử của người Việt Nam từ ngàn xưa và cho đến bây giờ, nguyên lý ấy vẫn còn đúng. Nguyễn Du quả là có “con mắt nhìn thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Ông đã hiểu được tâm hồn, trí tuệ và những điều kỳ diệu nhất trong đời sống tâm linh, tình cảm của mỗi người dân Việt. Cảm nhận được điều đó, lại tiếp nhận được nó mà gửi gắm vào tâm hồn, tuôn chảy ra thành tiếng lòng… thì đó hẳn là người yêu tha thiết dân tộc và gắn bó sâu nặng với nét văn hoá dân gian trên mảnh đất ấy. Làm được như vậy, cho nên một cách tự nhiên, Truyện Kiều đã sống mãi trong nếp cảm, nếp nghĩ của người dân, trở thành thường trực trong đời sống của họ.

Vậy là, suy cho cùng, Truyện Kiều không phải là một tác phẩm văn học dân gian, nhưng “trừ những câu ca dao, thật không có đám truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều (7).

ý kiến trên đây của nhà Nghiên cứu Nguyễn Tường Tam vừa xác đáng, vừa là lời khẳng định thêm sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian. Rốt cục, chẳng như lời tâm sự của Nguyễn Du thuở nào: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh”, thi phẩm của ông đã bất chấp mọi thử thách của thời gian để đi vào đời sống học hành và trong sinh hoạt đời thường. Nên chăng có thể vì thế mà đi đến kết luận: giá trị bất diệt của Truyện Kiều chính là ở phạm vi ảnh hưởng rộng vô cùng lớn đó ?

                                                                          

 Chú thích

(1) “Nguyễn Du, về tác giả tác phẩm”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, tr. 522

(2) Xin xem “Truyện Kiều, những lời bình”, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 606.

(3) Cụ thể về sự phong phú, đa dạng của loại hình này, xin xem: Vũ Ngọc Khánh – Giai thoại Truyện Kiều, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2005.

(4) Xin xem Vũ Ngọc Khánh:  Giai thoại Truyện Kiều, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2005.

(5) Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Nxb Thanh niên, Hà Nội 2001, tr. 333

(6) Xin xem “Nguyễn Du – Về tác gia và tác phẩm”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, tr. 768

* Người ta thấy duy nhất trong Truyện Kiều, chỉ có 1 cặp lục bát sử dụng toàn chữ Nho, đó là cặp:

Hồ Công quyết kế thừa cơ

Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công

** Xin lưu ý rằng, việc người phụ nữ trong xã hội xưa mà để ý nam giới (chủ động) là điều cấm kỵ. Nhưng Nguyễn Du đã bản lĩnh nói lên được tâm lý ấy. Do vậy, tính phổ biến của Truyện Kiều lớn, nó đề cập đến một vấn đề mà ai cũng thấy, nhưng không phải ai cũng dám lên tiếng.

(6) Vũ Ngọc Khánh, Văn hoá Việt Nam, những điều học hỏi, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2004, tr. 553

(7) “Nguyễn Du – Về tác gia, tác phẩm”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 202

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An (13/8/2018)
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng (7/8/2018)
Hình ảnh "mộc tồn" trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (31/7/2018)
Vị thế Phật giáo trong đời sống văn hóa của cư dân xứ Nghệ (31/7/2018)
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh (25/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,869 | Tất cả: 1,349,750
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn