ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh
Tin đăng ngày: 17/5/2018 - Xem: 465
 

 Hồ Sĩ Hùy

       Upload

Đền thờ Đức Hoàng Mười ở Hưng Nguyên - Nghệ An

Xứ Nghệ có câu phương ngôn nổi tiếng: Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần (Xứ Thanh dựa vào ân huệ của vua, xứ Nghệ được thần che chở). Các vị thần được nhân dân thờ cúng hàng năm hết sức trang trọng. Xứ Nghệ có 4 ngôi đền thờ thần linh thiêng nhất: Cờn, Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng. Các ngôi đền này đã được nhắc đến nhiều trong sử sách xưa nay. Riêng ngôi đền Hoàng Mười có vị thế hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh nhân dân xứ Nghệ và không chỉ xứ Nghệ thì các sách xưa hầu như rất ít đề cập.

       Đức Hoàng Mười là một vị thần linh thiêng xứ Nghệ, được nhân dân thờ phụng theo tín ngưỡng Tứ phủ ở nước ta. Tứ phủ là bốn cõi, mỗi cõi được một bà mẹ chủ trì: Mẫu Thượng Thiên hay Mẫu Cửu Trùng chủ cõi Trời (Thiên phủ); Mẫu Thượng Ngàn chủ cõi rừng núi (Nhạc phủ); Mẫu Thoải (biến âm của Thuỷ) chủ cõi sông nước (Thủy phủ), Mẫu Địa chủ cõi đất đai hay cõi trần gian (Địa phủ). Đến thế kỷ XVI, trong bối cảnh Nho giáo mất dần địa vị độc tôn, Phật giáo, Đạo giáo trỗi dậy; trên cơ sở tín ngưỡng Tứ phủ, với sự xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai ra đời: đó là Đạo Mẫu. So với tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu, Đạo Mẫu có bước phát triển mới. Đó là sự xuất hiện một hệ thống khá nhất quán về điện thần với các phủ, các vị thánh trong hàng tương đối rõ rệt. Điện thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần linh quy tụ dưới sự điều khiển của Tam Tòa Thánh Mẫu, trong đó có một vị thần Mẫu cao nhất, có tư cách như một vị giáo chủ, đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, (cũng tức làVân Cát thần nữ hayVân Hương thánh mẫu), được xem như là một hóa thân của Mẫu Thượng Thiên. Các bà đã ở ngôi cao, có quyền uy phép lạ thì tất nhiên có quân tướng phò tá. Đó là các vị Quan lớn (5 vị), các Cô (12 vị), các ông Hoàng (10 vị) cùng nhiều vị khác, có vị là chúa Sơn lâm: Ngũ hổ, có vị là tướng triều Trần v.v… Người ta gọi chung các vị là thuộc hàng chầu, hàng quan, hàng cô cậu v.v… Đạo Mẫu đã có sự khái quát hóa nhất định về một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, gồm bốn miền do bốn vị Thánh Mẫu cai quản. Những nghi lễ của Đạo Mẫu đã bước đầu được chuẩn hóa, trong đó nghi lễ hầu bóng là một điển hình(1). Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển khắp cả nước ta, cả ở một vài nước trên thế giới có đông đảo Việt kiều sinh sống. Ngày 1/12/2016 tín ngưỡng thờ Mẫu đ ã được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại.

      Hoàng Mười là vị Hoàng Út trong điện thần Đạo Mẫu, nhưng cùng với Hoàng Bảy là hai vị được tôn vinh hơn cả. Cả mười ông Hoàng đều là con của vua cha Bát Hải Đông Đình. Vua đã phân cho các con: có người ở vị trí nhiên thần (các ông Hoàng Tư, Hoàng Năm ở lại cõi Biển, cõi Sông, không xuất hiện ở cõi nhân sinh); có người được nhập vào với người thật để trở thành những nhân thần đi trấn trị khắp nơi trên đất nước ta. Ông Hoàng Cả thành một tướng của nhà Lê; Ông Hoàng Hai thành một vị tướng người Mán ở Cẩm Phả, hoặc thành một tướng họ Nguyễn lập nghiệp ở miền Nam Trung Bộ; Ông Hoàng Ba về Nam Định; Ông Hoàng Sáu thành một tướng nhà Trần; Ông Hoàng Bảy về Lào Cai, Yên Bái; Ông Hoàng Tám là một người Nùng, hoặc một vị khác; Ông Hoàng Chín về Cửa Cờn, Nghệ An(2).

     Riêng ông Hoàng Mười được thờ ở nhiều nơi trên đất nước ta. Nhiểu phủ, điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đều có tượng hoặc bàn thờ Hoàng Mười riêng (các ông Hoàng khác không thấy có, mặc dầu có văn cúng). Ở phủ Vân Cát bàn thờ Hoàng Mười ở lầu bên phải. Lễ tiệc tiến dâng vào ngày 10 tháng 10 âm lịch. Ở phủ Tây Hồ có tượng Hoàng Mười mặc áo vàng ở tòa tiên thế. Ở đền Bắc Lệ, Hoàng Mười ở cung đệ nhị, mặc áo xanh, cầm quạt.vv… Ở các buổi hầu đồng, Hoàng Mười vẫn thường giáng hạ với các đệ tử, cũng như các vị quan lớn, các chầu, các cô. Theo Gs Vũ Ngọc Khánh, việc hầu đồng đã được kiều bào ta tổ chức nhiều lần ở Paris. Các ông Simon, Barouh đã làm điều tra xã hội học & cho biết: có 27 buổi hành lễ ở Paris vào những năm 70 của thế kỷ XX thì cả 27 lần đều thấy Thánh Mẫu giáng, các quan lớn, các chầu Cô, Cậu giáng nhiều lần, riêng ông Hoàng Mười giáng 23 lần (ông Hoàng Cả chỉ 2 lần, ông Hoàng Ba 21 lần…)(3).

 Ở xứ Nghệ có lời ca hầu giá ông Hoàng Mười:

 Cánh hồng thấp thoáng trăng thanh

 Nghệ An có đức thánh minh ra đời…

 Thanh xuân một đấng anh hùng

 Tài danh nổi tiếng khắp vùng trời Nam…

 Hoặc nữa là:

 Đường về xứ Nghệ nghĩa tình

 Sông Lam núi Quyết địa linh bao đời

 Tam Kỳ Mỏ Hạc là nơi

 Đền thờ lăng mộ đời đời khói hương…

      Đền thờ Hoàng Mười tại Nghệ An là đền Xuân Am ở xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tọa lạc trên một vùng đất sơn thủy hữu tình. Đền còn có tên chữ là Mỏ Hạc linh từ (đền thiêng Mỏ Hạc) do thế đất ở đây giống hình mỏ chim hạc - thứ chim quý, đẹp thường dùng tượng trưng cho sự sống lâu. Trước mặt đền (hướng Nam) là dòng Lam như một dải lụa trải rộng, quanh năm thuyền bè tấp nập ngược xuôi. Quanh đền là sông Cồn Mộc uốn khúc, hai bên bờ sông là đồng lúa bát ngát. Phía sau là núi Dũng Quyết & Phượng Hoàng Trung Đô với những di tích lịch sử, những rừng thông, bạch đàn bạt ngàn tươi tốt. Đền nằm cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 2 km đường chim bay. Đền vốn được xây dựng vào năm Giáp Tuất đời vua Lê Thần Tông (1634). Trải bao thời gian, chiến tranh & bão lụt hủy hoại, ngôi đền đã bị hư hỏng. Năm 1995, thể theo nguyện vọng của nhân dân, được sự đồng ý của các cấp chính quyền & sự chỉ đạo của ngành chức năng, ngôi đền đã được phục hồi, tôn tạo trên cơ sở khung nhà cũ gồm Thượng điện, Hạ điện, Tả vu, Hữu vu, đài Cửu trùng, điện Cô Chín và khu lăng mộ Hoàng Mười nằm ở phía đông cách đền khoảng 100 m. Trước cổng đền có năm câu đối. Xin tuyển chọn hai câu ca ngợi công đức Hoàng Mười hóa thân vào một vị tướng nhà Lê (phiên âm): Sinh bất ư sinh, sinh nghĩa đảm/Tử thùy vô tử, tử trung can (Tạm dịch: Sống chẳng sống thừa, sống dũng cảm vì nghĩa/ Chết không chết uổng, chết can đảm vì trung); Lê triều hiển hách trung lương tướng/ Nam quốc phương danh thượng đẳng thần (Tạm dịch: Triều Lê hiển hách trung lương tướng/ Nước Việt thơm danh thượng đẳng thần). Câu đối này cũng được đề ở cổng vào mộ Hoàng Mười. Ngoài cảnh đẹp kỳ thú, từ lâu đời đền đã nổi tiếng linh thiêng. Đền thờ quan Hoàng Mười theo tín ngưỡng Đạo Mẫu. Ngoài ra còn thờ các vị: Thánh Mẫu, Bát Hải Long Vương, Song Đồng Ngọc Nữ, Bản Cảnh Thành Hoàng, Vị Quốc Công Thái Bảo Phúc Quận Công, Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Nguyễn Duy Lạc.

      Năm 2002, đền đã được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Hàng năm đền có 2 ngày lễ hội chính: vào ngày rằm tháng 3 âm lịch: lễ hội rước sắc; ngày 10/10 âm lịch: Lễ hội giỗ ông Hoàng Mười. Đây là các lễ hội lớn, thu hút khách thập phương trên cả nước về tham dự.

Upload

     Lễ hội Đức thánh Hoàng Mười

Người Nghệ An trước đây không cho Hoàng Mười là con của vua Bát Hải Đông Đình mà ông là đức Thánh Cả, một người có họ tên thật là Nguyễn Duy Lạc (1618 - 1699) có công lớn giúp triều đình Lê Trịnh dẹp giặc, được phong Đô chỉ huy sứ, Minh Nghị tướng quân. Theo tài liệu của Viện Hán Nôm, thần tích của làng Xuân Am, tổng Yên Đổ, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên) ký hiệu AE b1/6, Ngài mất ngày mất ngày 22/2 năm Kỷ Mão, đời vua Lê Hy Tông (1699). Trước khi mất, Ngài cúng thôn làng 100 quan tiền & 2 mẫu ruộng . Nhân dân mến đức & sợ uy ngài tôn làm hậu thần & thờ phụng hương khói hàng năm. Thần chủ Ngài trong đền ghi: “Tiền tả thắng quân dinh chính tiền hiệu đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân cẩm y vệ thần vũ, gia phong Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần(4).

     Tại Hà Tĩnh, Hoàng Mười được thờ ở đền Thánh Mẫu, tại xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân ở ngay trên vệ đường quốc lộ 1 cách thành phố Vinh khoảng 10 km, qua cầu Bến Thủy đi vào thành phố Hà Tĩnh. Dân gian quen gọi là Đền Củi dù vốn đền có tiêu đề là Thánh Mẫu chi từ, thờ chúa Liễu Hạnh.(5) Ông Hoàng Mười được thờ ở cung ngũ vị, nhưng nhân dân địa phương & cả khách thập phương vẫn chỉ xem là đền Hoàng Mười. Họ đến lễ bái là chỉ cầu ông Hoàng Mười. Đền nằm tựa mình trên mái Bắc núi Ngũ Mã của dãy Hồng Lĩnh, nơi Hồng Lĩnh vươn mình sà vào Lam Giang tạo nên một vùng non nước hữu tình. Tòa điện cao dần theo thế núi uy nghiêm, đường bệ trong ngút ngàn màu xanh của rừng cây cổ thụ, ngoảnh mặt ra sông Lam, tạo nên một không gian huyền ảo, linh thiêng. Đền đã được xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia (quyết định số 57/QĐ – VH ngày 18/1/1993). Hàng năm ở đền Củi có 3 ngày đại lễ: ngày 3/3 âm lịch: giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh; ngày 20/8 âm lịch giỗ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương); ngày 10/10 âm lịch giỗ Đức Hoàng Mười. Dân gian xứ Nghệ có câu: Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ chính bắt nguồn từ các ngày giỗ này!

   Cũng như các Đền, Phủ khác thờ Chúa Liễu, các vị quan, cô, cậu được thờ đều không có sự tích hay thần phả, chỉ được tôn vinh qua các bài hát văn theo những công thức ước lệ chung chung. Quần chúng thường có khuynh hướng đồng nhất các vị này với những nhân vật lịch sử hoặc các thần thánh khác gần gũi với người dân địa phương. Quanh vùng chợ Củi người dân cho ông Hoàng Mười chính là Lê Khôi (? - 1447), người làng Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), cháu gọi Lê lợi bằng chú, là vị tướng giỏi có công lớn dẹp giặc Minh, giặc Chiêm Thành, từng làm Đốc trấn Nghệ An (1443). Ông mất ở chân núi Long Ngâm cuối dãy Nam Giới (thuộc huyện Thạch Hà), được tôn là Chiêu Trưng Đại Vương, và lập đền thờ ở đó gọi là đền Chiêu Trưng. Đền thờ ông là một trong 4 đền lớn ở xứ Nghệ. Lại có thuyết nói Hoàng Mười chính là Lý Nhật Quang, hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, từng làm Tri châu Nghệ An đời Lý Thái Tông (ở ngôi 1028 - 1054). Ông từng giúp vua Chiêm dẹp loạn, dân trong ấy thờ ông dưới chân núi Tam Tòa. Sau ông về mất ở Quả Sơn (nay thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An). Đền thờ ông gọi là đền Quả, cũng là một trong 4 ngôi đền lớn ở xứ Nghệ. Còn một giả thuyết nữa cho Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí (1396 - 1465), bậc đại công thần khai quốc quê ở làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An) giúp Lê Lợi chống quân Minh, giúp các đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông xây dựng đất nước. Sau khi ông mất, dân Nghệ An lập đền thờ và suy tôn ông là Đức Hoàng Mười, coi là con vua Long Hải Đông Đình đầu thai vào Nguyễn Xí giúp dân dẹp giặc, xây dựng cuộc sống phồn vinh. Vậy thực chất Hoàng Mười là ai? Theo GS Vũ Ngọc Khánh: “Đây là một hiện tượng lịch sử hóa, địa phương hóa về ông Hoàng Mười trên đất Nghệ An. Thật ra ông là một nhân vật huyền thoại, là con Thần Nước Long Vương, gắn với văn hóa biển, nhưng đã được mang lịch sử trần gian, đã thành thần trong lịch sử (đời nhà Lý, nhà Lê), thần ở địa phương (thời Trịnh Nguyễn). Nhân dân ta đã không chấp nhận thần ở những cõi xa xôi nào, mà chỉ thấy đó là vị thần trong đời sống của mình(6).

    Cũng theo GS Vũ Ngọc Khánh, bài văn hầu giá Hoàng Mười mô tả chi tiết ông có tính cách rất hợp với phong cách và tâm lý kẻ sĩ xứ Nghệ. Đó là con người không màng danh lợi, yêu thiên nhiên phong nguyệt, ham thích văn chương, biết say cái đẹp, tình tứ lãng mạn như các thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, lại có nét phóng khoáng nghịch ngợm như nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Ông vừa có tài đánh giặc:

 Gươm thiêng chống đất chỉ trời

 Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung.

 vừa có khả năng ổn định cuộc sống cho nhân dân:

 Dựng nền đức Thuấn, nhân Nghiêu

 Sóng yên, biển lặng sớm chiều thảnh thơi

            Đồng thời ông còn là nhà thơ, nhà nghiên cứu chuộng cả Đạo giáo lẫn Phật giáo:

 Thơ tiên một túi, Phật kinh trăm tờ

 “ Và rất đặc biệt, ông là một chàng trai lãng mạn:

 Lên núi rồi lại xuống đồi

 Dưới trăng luống những đứng ngồi ngẩn ngơ.

 Vào rừng hái lá đề thơ

 Cậy đôi cánh nhạn tin đưa tới người

     Người đây là ai? Là những giai nhân đã từng say đắm ông Hoàng Mười, ông không còn là Thần Thánh gì cao xa nữa, mà là người để thương, để nhớ cho các bạn tri âm ở chốn trần gian này:

 Thế gian nhớ miệng Hoàng Mười

 Nhớ khăn Hoàng chít, nhớ lời Hoàng ban.

      Và thông thường, ông Hoàng Mười cũng tỏ ra tình tứ, có pha chút tinh nghịch duyên dáng:

 Gác Đằng mượn gió xuân đưa

 Xui lòng quân tử đề thơ hảo cầu.

 Năm ba tiên nữ theo hầu

 Trâm hoa cài tóc, nhiễu tàu vắt vai

      Ta có cảm tưởng như gặp con người xứ Nghệ: “Gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì, bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…” (Nguyễn Công Trứ - HSH chú).

… Có lẽ đó là những chi tiết sát với con người xứ Nghệ, không thấy ở các “Hoàng tử” hay các “Quan lớn” khác, nên ông Hoàng Mười vốn được quen biết với tín ngưỡng Tứ Phủ đã trở nên càng thân thiết hơn”(7).

      Tín ngưỡng Tứ Phủ xem Mẫu Liễu Hạnh là bà Mẫu cao nhất của các bà Mẫu “tối linh chi linh” (Câu đối ở phủ Tây Hồ Hà Nội, một trung tâm thờ Mẫu nổi tiếng). Bài cúng Thập nhị Hoàng Tử văn có câu:

 Ông Mười trấn thủ Nghệ An

 Ở huyện Thiên Bản làm quan Phủ Giầy

     Phủ Giầy ở đây là phủ điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản, Nam Định) tương truyền là quê hương Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Phủ Giầy cùng với Phủ Tây Hồ (Hà Nội) được xem là 2 nơi thờ Mẫu nổi tiếng. Ông Hoàng Mười được Thánh Mẫu phái vào Nghệ An coi sóc phần tâm linh ở xứ này. Các vị: Lý Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Nguyễn Duy Lạc, người là hoàng tử, người là quan triều đình, người quê xứ Nghệ, người quê ở nơi khác nhưng tất cả đều từng làm quan ở xứ Nghệ & đều gắn bó mật thiết, có nhiều công lao với với nhân dân nơi đây nên được mọi người tôn vinh thờ phụng & trở thành niềm tự hào của họ. Các vị đều đã hóa thân thành Thánh Hoàng Mười tự lúc nào cũng là điều dễ hiểu. Một điều đáng chú ý là thời điểm xây dựng đền Hoàng Mười ở Nghệ An: năm 1634. Đây là khoảng thời gian việc tôn vinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh đạt đến đỉnh cao. Thánh Mẫu chính là một người có thật - một người con gái ở Kẻ Giầy huyện Thiên Bản, sinh năm 1557, mất năm 1587 đã trở thành nàng Giáng Tiên (vốn là đệ nhị tiên chúa Quỳnh Hoa phạm tội đánh vỡ chén ngọc bị Ngọc Hoàng đẩy xuống trần gian). Nàng đã từng gặp gỡ Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) ở xứ Lạng năm 1597 - 1598, rồi xướng họa thơ với trạng sau thời gian cụ đi sứ về (1598 - 1607). Chuyện này về sau đã được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) chép trong sách Truyền kỳ tân phả (Xem thêm: Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức Thịnh: Tứ bất tử Nxb VHDT, Hà Nôi, 1990). Đây cũng là thời điểm Đạo giáo, nhất là Đạo giáo dân gian & Phật giáo phát triển mạnh mẽ, bỏ xa thời kỳ Nho giáo độc tôn Lê sơ, mà đỉnh cao là thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm linh cư dân nông nghiệp lúa nước người Việt nói chung và người xứ Nghệ nói riêng là tôn trọng phụ nữ, cởi mở, bao dung, dù tư tưởng gì, tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng sẵn sàng chấp nhận, miễn là nó không vi phạm lợi ích quốc gia & không xúc phạm đến nền văn hóa dân tộc. Hơn nữa, đây lại là một tín ngưỡng, một tôn giáo sơ khai bản địa gắn bó mật thiết với cư dân xứ Nghệ - một vùng đất cổ. Đây cũng là thời điểm nữ giới lên ngôi, thời đại của các Mẫu, thời đại nữ giới là người làm chủ các chùa đền miếu mạo có nét giống như tình hình hiện nay.

     Đảng ta đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng đây là chủ nghĩa Mác - Lênin Việt Nam, được cụ thể hóa thêm bởi tư tưởng Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa Mác - Lênin “có lý, có tình”, một chủ nghĩa Mác - Lênin “phải có thần linh, pháp quyền”(8). Đã qua rồi thời kỳ độc tôn tư tưởng, thời kỳ đập phá đình đền, chùa miếu, kỳ thị tôn giáo, tín ngưỡng. Dưới ánh sáng của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, mọi người công dân Việt Nam hoàn toàn có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng(9). Từ Đại hội VI (1986) đổi mới đến nay, đất nước ta đã giàu lên bao nhiêu, cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên cao bao nhiêu; nhưng cũng đáng buồn thay, đạo đức đã suy thoái đi bao nhiêu! Không ngày nào báo chí, các cơ quan truyền thông không nói đến những hiện tượng vô đạo như tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, buôn bán ma túy, hàng giả, bằng cấp giả, danh hiệu giả, thực phẩm bẩn, những vụ hủy hoại môi trường nghiêm trọng v.v… Con người càng khủng hoảng niềm tin càng tìm về tôn giáo. Tôn giáo nào cũng có phần đạo và phần đời. Phần đời thì bao giờ cũng phức tạp, nhưng phần đạo thì bản chất là hướng con người vào cõi thiện, vị tha. Hiện nay ở nước ta có mặt nhiều hình thức tôn giáo cả nội sinh lẫn ngoại nhập. Xu thế các tôn giáo ở nước ta là cởi mở, khoan dung đối với nhau và tôn trọng nhau, bổ sung cho nhau. Nhớ lại năm 1947, Thủ tướng nước Ấn Độ là Jawaharlal Nehru (1889 - 1964) sang Mỹ, khi gặp nhà bác học Albert Einstein (1879 - 1955), Nerhu than phiền rằng: “Nền văn hóa toàn cầu hiện nay tạo ra nhiều của cải vật chất nhưng vô trách nhiệm đối với việc chăm sóc đạo đức con người. Nhà bác học đáp: “Vâng! Nền văn hóa chăm lo đạo đức chính là nền văn hóa phương Đông cổ truyền của các ông(10). Ý kiến của nhà bác học thiên tài từ ngày ấy đến nay vẫn còn rất đáng để chúng ta suy ngẫm, nhất là trong tình trạng suy thoái đạo đức trầm trọng hiện nay ở nước ta cũng như trên phạm vi toàn cầu. Phải, văn hóa phương Đông cổ truyền có nền giáo dục Nho giáo, Phật giáo, nhất là đạo đức Nho giáo tuy chưa và không thể đáp ứng đầy đủ đời sống xã hội hiện hành, nhưng thật sự là một sự bổ sung hết sức cần thiết cho việc hoàn thiện nhân cách, giúp người với người sống với nhau chuẩn mực hơn, yêu thương và hòa hợp nhau hơn, giúp mỗi người ngừng làm việc ác mà chăm làm điều thiện để xã hội ngày một trở nên yên vui hơn. Mỗi người trong chúng ta dù bất kỳ ai cũng đều tin tưởng rằng: có thể lừa dối người khác và lừa dối chính bản thân mình, nhưng không ai có thể lừa dối được thần thánh! Tín ngưỡng Tứ Phủ hay Đạo Mẫu cũng như Phật giáo, Nho giáo đều có nhiều nét nhân bản thiêng liêng góp phần củng cố niềm tin, bồi dưỡng nhân cách. Đền Hoàng Mười dù ở Nghệ An hay ở Hà Tĩnh đều thờ nhiều vị Thánh, vị Thần thể hiện tính đa thần, tính cộng đồng. Cư dân trong và ngoài tỉnh, trong và ngoài nước đến đền Hoàng Mười chắc chắn nhiều người trong số họ không có nhu cầu tìm về nguồn gốc vị thần này. Hàng năm, họ nô nức đi lễ đền vì họ vừa có nhu cầu tâm linh tỏ lòng biết ơn, kính ngưỡng các vị thần hộ quốc tí dân & mong được phù hộ; vừa có nhu cầu giải trí thưởng thức cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của một vùng quê thiên nhiên và con người đều đầy sức quyến rũ, một vùng quê giàu truyền thống lịch sử văn hóa hào hùng với lâm viên Dũng Quyết và di tích Phượng Hoàng Trung Đô(11). Du khách còn có thể ngược xuôi dòng sông Lam thơ mộng, thưởng thức các làn điệu dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh ngọt ngào sâu lắng (đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11/2014) cùng nhiều món ẩm thực đặc sắc của quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và quê hương đại thi hào Nguyễn Du - hai danh nhân văn hóa thế giới.

 

Chú thích

      (1). Xem thêm:Ngô Đức Thịnh (CB): Đạo Mẫu ở Việt Nam, (2 tập), Nxb. Văn hóa - Thông tin.H.1996. Hầu bóng (hay còn gọi hầu đồng, lên đồng) là một nghi thức không thể thiếu trong trong tín ngưỡng Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Về bản chất là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà đồng Đạo Mẫu. Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập linh hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng trong trạng thái tâm linh thăng hoa, ngây ngất, nhằm phán truyền diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho con nhang, đệ tử.

      (2),(3),(6), (7). Vũ Ngọc Khánh: Di tích Hoàng Mười ở Nghệ An trong sách Nghệ An di tích danh thắng. Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An xuất bản , 2001., tr.132-140.

      (4). Ninh Viết Giao, Tục thờ thần & thần tích Nghệ An, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, 2000., tr.262.

      (5). Ở cung thờ Hoàng Mười có một vế câu đối chữ Hán đáng chú ý (phiên âm): Quá giả hóa, tồn giả thần, vị liệt Nam bang tứ bất (Cái đã qua là hóa, cái còn lại là thần, tên Ngài - tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ở nước Nam được xếp trong hàng tứ bất). Tứ bất chỉ bốn vị bất tử đó là Đức Thánh Tản, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng, Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. (Xin xem: Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức Thịnh: Tứ bất tử Nxb VHDT, Hà Nôi, 1990). Sách Câu đối xứ Nghệ của Hội văn nghệ dân gian Nghệ An, Tập 2, tr. 162 dịch vế trên là: Cầu hóa ấy! Thần còn ấy! Nước Nam các Ngài là tứ bất là không chuẩn xác; lại chú thích tứ bất tử: 4 vị không chết: Phật, Thánh, Thần, Tiên là nhầm lẫn đáng tiếc!

     (8). Lời Hồ Chủ tịch: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê nin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao lại gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin được” (Hồ Chí Minh Toàn tập T.10, NXB ST.H.1989, tr.662.). Xem thêm, Trần Quốc Vượng: Đôi điều nhớ lại & suy nghĩ về những tư tưởng văn hóa của cụ Phạm Văn Đồng (Thư gửi anh Việt Phương) trong cuốn Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2000.tr.942.

(9). Xem thêm: Hồ Sĩ Hùy: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Chuyên san Khoa học & Công nghệ Nghệ An số 1+2/2012. Đăng lại trong Đặc san Khoa học và Công nghệ  (Quảng Trị) số1/2014. Tạp chí Xưa và Nay số 454,12/2014.

       (10). Dẫn lại theo Nguyễn Đình Chú: Nghĩ về vai trò của Phật giáo trong cuộc sống của đất nước hôm nay, Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An số 4 tháng 6/2012, tr.56.

     (11). Đền thờ vua Quang Trung - anh hùng dân tộc vĩ đại có quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An trên đỉnh núi Quyết ở độ cao 97m so với mực nước biển đã được khánh thành từ ngày 7/5/2008. Đến nay đã có đường nhựa lên thẳng chính điện, có bãi đỗ xe phục vụ khách tham quan du lịch.

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
GS. Phong Lê - Một nhà khoa học, một nhà giáo (4/12/2018)
Nguyễn Cảnh Chân - Nguyễn Cảnh Dị (3/12/2018)
Nhạc sĩ An Thuyên- Người con của dòng sông Mai (29/11/2018)
Yên Thành vùng đất cổ (9/11/2018)
Trần Đình Quán - Người yêu nước và nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của xứ Nghệ (9/11/2018)
Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam (9/11/2018)
Thẳm Nàng Màn một danh thắng hấp dẫn cho du khách về với Con Cuông (10/10/2018)
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 524 | Tất cả: 1,556,377
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp