KHXHNV & ĐỜI SỐNG > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Cơ sở triết lý "âm dương" của người Thái
Tin đăng ngày: 17/5/2018 - Xem: 465
 

                                                                                                Quán Vi Miên

                                                     

  1. Đặt vấn đề

Âm dương (chữ Hán 陰陽 bính âm: yīn yáng) là hai khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ. Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Về nguồn gốc của âm dương và triết lý âm dương, rất nhiều người theo Khổng An Quốc và Lưu Hâm (nhà Hán) mà cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo và được ghi chép trong kinh dịch (2800 TCN). Một số người khác thì cho rằng đó là công lao của "âm dương gia", một giáo phái của Trung Quốc. Cả hai giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật thần thoại, không có thực; còn “âm dương gia” chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lý-lịch sử mà thôi. Phái này hình thành vào thế kỷ thứ 3, nên không thể sáng tạo âm dương được. Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam. Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ: 1. "Đông tiến", là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà; 2. "Nam tiến", là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc) xuống phía nam sông Dương Tử. Trong quá trình “nam tiến”, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương Nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục, làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương Nam (1).

Đọc bài Nghệ thuật tạo hình văn hóa dân gian (Folklore) Thái – Quy luật âm dương của Kinh dịch trên khăn Piêu trong sách Văn hóa các dân tộc miền núi Nghệ An do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An và Nxb Nghệ An in năm 2017, tr. 289-301 (2) – chúng tôi nghĩ đến vấn đề: (1) Liệu người Thái có nắm được quy luật âm dương để vận dụng vào việc thêu/dệt/làm khăn Piêu?; (2) Nếu có, thì cơ sở triết lý âm dương của họ ở đâu?

Đây là một vấn đề lớn và hóc búa của khoa học xã hội-nhân văn Thái. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin vỡ vạc một số ý.

  1. Bằng chứng từ tín ngưỡng, phong tục

2.1. Khái niệm chẵn - lẻ

          Muốn tìm cơ sở triết lý âm dương của một dân tộc, thì phải đi ngược lịch sử, tìm về cội nguồn của dân tộc đó. Có nhiều ngành khoa học xã hội-nhân văn có thể giúp ta lấy được chứng cớ. Ở đây, với người Thái, chúng tôi tìm trong Lai nham/ lịch Thái – một trong các hướng nghiên cứu. Lịch của người Thái ở Việt Nam có thể bắt nguồn từ lịch của Vương triều Pagan (Miến Điện, 1044- 1287); truyền vào cộng đồng người Thái – Trung Quốc, rồi vào Tây Bắc, xuống đến Nghệ An. So với Công lịch thì lịch Thái cách nhau 638 năm. Năm 2017 Đinh Dậu, lịch Thái mới là năm 1379, và gọi là năm Mâng Hậu. Theo lịch này (lịch Thái), mỗi năm chia làm 12 tháng, tháng lẻ là tháng đủ, mỗi tháng 30 ngày; tháng chẵn là tháng thiếu, mỗi tháng 29 ngày. Cứ 3 năm nhuận một lần cố định vào tháng 9; tháng giữa năm vào tháng 11 của nông lịch. Mỗi tháng chia làm 4 tuần, có tuần 7 ngày, có tuần 8 ngày. Hằng tháng từ ngày 24 đến ngày 29 hoặc 30 là tuần thứ 4. Lịch Thái hàng tháng lấy ngày mồng 1 âm lịch làm “gốc”. Ví dụ năm nay (2017) ngày mồng 1 tháng 1 âm lịch, tức  mồng 1 Tết Nguyên đán Đinh Dậu là ngày 28 tháng 1 dương lịch, thì lịch Thái cũng gọi ngày đó là mồng 1 tháng 1. Nhưng tên gọi các ngày trong tháng thì lịch Thái có tên riêng. Ví dụ ngày mồng 1 Tết Nguyên đán Đinh Dậu là ngày Ất Mão, thì ngày này lịch Thái gọi là ngày Hặp Mậu, tính chất/tín ngưỡng nó cũng khác. Các tháng lịch Thái có tên riêng, tính chất/tín ngưỡng riêng.

Trước hết, hãy xem các tháng lịch Thái (cùng với tên gọi) tương ứng với tháng âm lịch như thế nào?          

- Bươn chiếng:   - tháng giêng; tương ứng với tháng: - 7 âm lịch.

          - Bươn nhì         - 2                                                           - 8

          - Bươn xám        - 3                                                 - 9

          - Bươn xỉ           - 4                                                  - 10

          - Bươn hà            - 5                                                - 11

          - Bươn hốc         - 6                                                  - 12

          - Bươn chết        - 7                                                  - 1

          - Bươn pẹt         - 8                                                  - 2

          - Bươn cầu         - 9                                                  - 3

          - Bươn xíp         - 10                                                - 4

          -Bươn xíp ết                - 11                                                - 5

          - Bươn xíp xóng - 12                                              - 6

          Các tháng đó đứng 1 mình, hay được cặp đôi (theo cách họ phân chia/ phân loại):

- Tháng 1, là tháng ở một mình (ơn hặc dủ), lẻ, gọi là Cấn Cóng.

          - Tháng 2&3, tháng đôi, có cặp, chẵn, gọi là Xiềm Cóng.

          - Tháng 4, ở một mình, lẻ như tháng 1, gọi là Kím Cóng.

          - Tháng 5&6, tháng đôi, chẵn như các tháng 2&3, gọi là Khoá Hỏ.

          - Tháng 7, tháng ở riêng, lẻ như các tháng 1, 4, gọi là Kím Ngoai.

          - Tháng 8&9, tháng đôi, chẵn như các tháng 2&3, 5&6, gọi là Xiềm Ngoai.

          - Tháng 10, tháng ở riêng, lẻ như các tháng 1, 4, 7, gọi là Cấn Xá.

          - Tháng 11&12, tháng đôi, chẵn như các 2&3, 5&6, 8&9, gọi là Khóa Ngang.

          Từ lẻ chẵn ở đây không phải chỉ ngày, mà là chỉ khái niệm: lẻ (một mình) và chẵn (có đôi/có cặp). Như vậy, 1 năm có 4 tháng lẻ, 8 tháng chẵn; cộng: 12 tháng.

Đến lượt các ngày trong tháng cũng được chia thành lẻ/chẵn. Cụ thể, tháng lẻ, đủ mỗi tháng 30 ngày, thì tháng đó chia làm 3 tuần, mỗi tuần 8 ngày, trong đó 24 ngày làm việc, 6 ngày dự phòng (tiếp khách, mưa gió, ốm đâu…). Quy định tên ngày theo cơ số 9; hết 9 ngày đó thì lại quay lại từ đầu; tính cho đến hết tháng. Cụ thể:

          - Ngày 1 gọi là Cấn Cóng (lẻ)

          - 2           -        Xiềm Cóng (chẵn)

          - 3          -       Kím Cóng (lẻ)

          - 4          -       Khóa Hỏ (chẵn)

          - 5          -       Kím Ngoai (lẻ)

          - 6          -        Xiềm Ngoai (chẵn)

          - 7          -       Cấn Xá (lẻ)

          - 8          -       Khóa Ngang (chẵn)

          - 9 (quay lại) - Cấn Cóng (lẻ)…(cho đến hết tháng).

          Các ngày trong tháng lẻ/chẵn như sau (vì dài nên chỉ trích 1 tháng lẻ và 1 cặp tháng chẵn làm ví dụ):

          - Tháng lẻ: tháng 1, là tháng Cấn Cóng (lẻ), thì mồng 1, 9, 17, 25 của tháng là ngày Cấn Cóng (lẻ). Mồng 2 là ngày Xiềm Cóng (chẵn), thì 10, 18, 26 cùng là ngày Xiềm Cóng (chẵn). Mồng 3 là ngày Kím Cóng (lẻ), thì 11, 18, 27 cùng là ngày Kím Cóng (lẻ). Mồng 4 là ngày Khóa Hỏ (chẵn), thì các ngày 12, 20, 28 cùng là ngày Khóa Hỏ (chẵn). Mồng 5 là ngày Kím Ngoai (lẻ), thì các ngày 13, 21, 29 cùng là ngày Kím Ngoai (lẻ). Mồng 6 là ngày Xiềm Ngoai (chẵn), thì các ngày 14, 22, 30 cùng là ngày Xiềm Ngoai (lẻ). Mồng 7 là ngày Cấn Xá (lẻ) thì các ngày 15, 23, cũng là ngày Cấn Xá (lẻ). Mồng 8 là ngày Khóa Ngang (chẵn), thì các ngày 16, 24 cùng là ngày Khóa Ngang (chẵn).

          - Tháng chẵn: các tháng 2&3 là tháng Xiềm Cóng (chẵn), thì mồng 1, 9, 17, 25 trong 2 tháng này là ngày Xiềm Cóng (chẵn). Mồng 2, 10, 18, 26 là Kím Cóng (lẻ). Mồng 3, 11, 19, 27 là Khóa Hỏ (chẵn). Mồng 4, 12, 20, 28 là Kím Ngoai (lẻ). Mồng 5, 13, 21, 29 là Xiềm Ngoai (chẵn). Mồng 6 , 14, 22, 30 là Cấn Xá (lẻ). Mồng 7, 15, 23 là Khóa Ngang (chẵn). Mồng 8, 16, 24 là Cấn Cóng (lẻ). Mồng 9, 17, 25 là Xiềm Cóng (chẵn).

          Như vậy, người Thái có/quan niệm/quy ước các tháng và các ngày lẻ/chẵn riêng. Đằng sau quan niệm/quy ước đó là cơ sở của triết lý âm dương - khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ.

 2.2. Khái niệm đực - cái

Hãy xét ngày ở một khía cạnh/quan niệm khác của người Thái:

          - Cấn Cóng (lẻ) là ngày Phí hươn pỏ kẻ, tức là ngày Ma nhà đàn ông (đực).

          - Xiềm Cóng (chẵn) là ngày Vắn lực chai, - ngày Vía con trai (đực).

          -  Kím Cóng (lẻ) là ngày Phí hươn lung tá, - ngày Ma nhà đằng ngoại (cái).

          - Khóa Hỏ (chẵn) là ngày Nghên vằng, - ngày Vắng vẻ (không chia đực/cái).

          - Kím Ngoai (lẻ) là ngày Quàng phạ, - ngày Trời quang (không chia đực/cái).           

          - Xiềm Ngoai (chẵn) là ngày Vắn mẻ nhinh, - ngày Vía đàn bà (cái).

          - Cấn Xá (lẻ) là ngày Nghên phí một, - ngày Ma Một (Một là 1 môn phái của thầy Mo), ngày thiêng/kiêng.

          - Khóa Ngang (chẵn) là ngày Nghên phí môn, - ngày Ngày ma Môn (Môn là 1 môn phái của thầy Mo), ngày thiêng/kiêng.

          Như vậy, ngoài khái niệm đối lập chẵn/lẻ, người Thái từ xa xưa cũng đã có khái niệm đối lập về đực/cái. Một lần nữa, cơ sở của triết lý âm dương của họ được củng cố.

2.3. Bằng chứng từ phong tục

          Từ lâu rồi, người Thái quan niệm ngày chẵn/số chẵn là mang ý niệm

đầy đủ, trọn vẹn, tốt đẹp. Nên trong các việc trọng như cưới hỏi, làm nhà, v.v., họ thường chọn tiến hành vào các ngày chẵn, và cho những ngày đó là ngày tốt. Nhưng ngày chẵn/số chẵn cũng lại được/bị họ xem là ngày/số không phát triển, không tốt. Nên người Thái gọi ngày chẵn ngày ma; số chẵn số ma! Vậy, ngày ma/số ma

ấy chỉ dành cho ma (thế giới âm) mà thôi! Bằng chứng là người Thái không làm cầu thang có bậc thang số chẵn; mà chỉ làm bậc thang có số lẻ (như 5, 7, 9…). Gian nhà cũng chỉ làm số lẻ (3 gian, 5 gian)… Cầu thang có bậc thang số chẵn (làm mới) là để khiêng ma (quan tài) từ trên nhà sàn xuống, đưa đi mai táng; nhà (nhà mồ) có số gian chẵn là để cho ma ở! Khi mở rượu cần thì họ cắm vòi trúc theo số lẻ, mặc dầu khi vào cuộc uống thì có thể số người chẵn hoặc lẻ. Nếu số người chẵn, thì cái vòi trúc thừa ra đó cũng chẳng sao. Ngược lại, cắm số vòi trúc chẵn, thì người ta bảo: “Rượu ma đấy!”. Hoặc: “Chúng mày mở rượu cho cho ma uống hay sao?”, v.v. Đó là tâm lý lưỡng phân cố hữu của con người/loài người.

          Như vậy, trong ý niệm của người Thái có thế giới âm (của ma) và thế giới dương (của người). Cũng tức là họ cho thế giới này có 2 thực thể đối lập – nền tảng của triết lý âm dương.

  1. Kết luận

          Từ xa xưa, người Thái đã nhìn nhận thế giới/vũ trụ này có 2 thực thể đối lập: thế giới âm thế giới dương. Trong thế giới ấy, xét về mặt thời gian, tồn tại tháng/ngày chẵn/lẻ. Từ đó có số chẵn/lẻ. Cũng từ đó có tín ngưỡng về âm/dương, đực/cái, chẵn/lẻ, tốt/xấu, v.v. Có phong tục tập quán thể hiện những tín ngưỡng đó. Hoặc ngược lại, có tín ngưỡng về âm dương, rồi mới có phong tục tập quán biểu hiện về triết lý âm dương?

Nói về cơ sở triết lý âm dương của người Thái, như trên đã nói, là một vấn đề lớn và hóc búa của khoa học xã hội-nhân văn Thái. Mong các bậc thức giả bàn luận thêm.

 

Chú thích

(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_d%C6%B0%C6%A1ng

(2) Đậu Kỷ Luật, Nghệ thuật tạo hình văn hóa dân gian (Folklore) Thái – Quy luật âm dương của Kinh dịch trên khăn Piêu, trong sách Văn hóa các dân tộc miền núi Nghệ An do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An và Nxb Nghệ An in năm 2017, tr. 289-301.  

Tài liệu tham khảo

(1) Nguyễn Doãn Hương, Phép tính lịch cổ truyền của người Thái ở Nghệ An/ Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 36 (10/2002), tr. 16 - 17.

(2) Lò Văn Lả, Giới thiệu lịch Thái (phần 1)/ Kỷ yếu Hội thảo Thái học lần thứ 1 (Hà Nội, ngày 25 - 26/11/1992), Nxb. VHDT, H., 1992, tr.253-261.

(3) Lò Văn Lả, Giới thiệu lịch Thái (phần 2)/ Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb. VHDT, H., 1998, tr. 401-414.

(4) Quán Vi Miên, Lai nham – Lịch Thái/ Tạp chí Nguồn sáng dân gian, H., số 4 (49) – 2013, tr. 67-81.

(5) Quán Vi Miên-Vi Khăm Mun-Đinh Xuân Uy, Lịch Thái ứng dụng Lễ hội Bà Trầy, Nxb KHXH, H., 2015, tr. 11-72.

(6) Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Nxb. KHXH, H., 1977, tr.487 - 489.

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh (25/5/2018)
Bác Hồ nói về sự nghiệp khoa học - kỹ thuật (24/5/2018)
Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian (21/5/2018)
Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm ở Hà Nội (21/5/2018)
Kho báu văn hóa từ các ngôi cổ tháp (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 527 | Tất cả: 1,294,388
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn