DIỄN ĐÀN
Bàn về việc người xưa "Tiến cử, lựa chọn" và chuyện "Một người làm quan cả họ làm quan" ngày nay
Tin đăng ngày: 18/4/2018 - Xem: 411
 

                                                                            Nguyễn Đình Trung

         Upload

Ảnh minh họa

Thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin nói chung, các trang mạng nói riêng thường có các bài viết, đưa tin, bình luận về những người “làm quan”. Trong đó có nhiều bài viết về những tấm gương cán bộ đảng viên có năng lực, trình độ và thể hiện phẩm chất, đạo đức của người cán bộ vì dân, vì nước; ở góc độ nào đó họ đều là những công bộc thực sự của dân, đã tạo niềm tin, hiệu ứng tốt trong phong trào thi đua xây dựng đất nước phồn vinh và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng cũng có không ít bài viết về những ông “quan cách mạng”, “quan phụ mẫu”, cho rằng mình có quyền và muốn nói gì, viết gì, làm gì Đảng không biết, Chính phủ cũng hay, mà dân cũng không hiểu và đều phải nghe theo. Không. Họ đã nhầm, người dân bây giờ không thụ động và không còn dốt nát như họ nghĩ. Dân biết tuốt.

          Trên Báo An ninh thế giới gữa tháng, số 114, tháng 7 năm 2017 có đăng bài “Một người làm quan” của tác giả Ngô Nguyệt Hữu. Mở đầu tác giả viết: “Chuyện này vừa đau xót, vừa phẫn nộ, đáng tiếc lại là chuyện không mới. Một chuyện không mới nghĩa là chuyện đã cũ, chuyện đã cũ nghĩa là chuyện đã được nói từ ngày này qua ngày khác. Kỳ lạ thay cái chuyện ấy nói mãi vẫn nóng hổi, vẫn bức xúc, nói mãi vẫn không nguôi một nỗi niềm cảm xúc khó tả trong lòng nhân dân - Chuyện một người làm quan”.

Ngô Nguyệt Hữu bảo chuyện đã được nói từ ngày này qua ngày khác, nhưng theo tôi, phải nói là “chuyện đã nói từ đời này qua đời khác, từ đời xửa đời xưa rồi” mới đúng.

          Xin chia sẻ bài viết của tác giả. Nhất là phần đầu bài viết: “Ông (Giáo sư Đặng Hùng Võ) có nói thêm vài câu nữa, Ngô tôi không tiện trích dẫn, bởi dẫu sao lời gan ruột cũng không hẳn thuận tai người nghe. Mà tôi thì tài hèn sức mọn, phận mỏng manh như tơ nhện làm sao đủ sức gánh gồng”. Và đoạn kết, lại viết “Còn nhiều lắm những câu chuyện một người làm quan tương tự như Ngô vừa kể. Nhưng để xử lý, để làm rõ, để giành lại sự nghiêm minh, liêm chính cho chuyện làm quan ấy còn xa vời lắm. Nhất là trong bối cảnh chỉ thấy mỗi Chính phủ kiến tạo là đang chuyển động đầy quyết tâm”.

Vâng, thưa Ngô tác giả, tôi và nhiều người khác cũng thế, thậm chí tài còn hèn, sức còn mọn và phận còn mỏng manh hơn cả tác giả. Thôi thì xin chia sẻ và dám đứng về phía tác giả, ủng hộ tác giả coi như đã là gan dạ lắm lắm. Có điều, khi một người dám nói lên sự thật, nói lên điều đúng đắn và những người dám chia sẻ, dám đứng về phía sự thật lại phải tự coi là dũng cảm và bản lĩnh… thì thật là điều đáng phải suy ngẫm.

Trong lịch sử Trung Quốc (TQ) và Việt Nam ta có ghi nhiều tích truyện về những tấm gương sáng trong việc tiến cử và lựa chọn, sử dụng hiền tài, như gương của Sử Hạo (tự là Trực Ông, người huyện Ngân ở Minh Châu - TQ) từng tiến cử Trần Chi Mậu (người luôn nói xấu mình) lên chức quan Châu Quận vì “không có khái niệm về thù hận”; tiến cử Mạc Tế (người luôn chỉ trích mình) phụ trách việc chiếu mệnh vì “không thể vì việc tư mà để ảnh hưởng đến việc công”; hay gương Bào Thúc Nha nhường chức Tể tướng cho Quản Trọng (725 - 645 TCN, một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng thời Xuân Thu - TQ), còn mình thì tự nguyện ở dưới trướng, làm phụ tá, vì một mặt Bào Thúc Nha biết trước Quản Trọng sẽ làm nên đại nghiệp; mặt khác không nghĩ chuyện được mất của bản thân, mà lấy lợi ích quốc gia làm trọng. Tề Hoàn Công nghe lời khuyên của Bào Thúc Nha vì đại nghĩa mà không tính toán chuyện thù hận, dùng đại lễ đón tiếp và phong Quản Trọng làm Tể tướng. Sau đó Quản Trọng đã giúp Tề Hoàn Công làm nên đại nghiệp, nước Tề yên bình, từ nước yếu thành mạnh, xưng bá các chư hầu, thành bá chủ trong “ngũ bá thời Xuân Thu. Vì thế, trong “Quản Trọng luận”, Tuân Tuần viết: “Chuyện trị an nước Tề ta không viết về Quản Trọng mà viết về Bào Thúc Nha. Câu này quả vừa đúng đắn lại sâu sắc. Tấm lòng ngay thẳng, chí công vô tư của Bào Thúc Nha được người đời sau ca tụng...

Trong bài viết này, tôi không bàn về các ông “quan cách mạng”, không sưu tầm, viết lại hết được những tấm gương của những ông quan thanh liêm thuở trước, về những người tiến cử, người được tiến cử và người có quyền lựa chọn, sử dụng hiền tài…, mà chỉ xin trích, viết cụ thể hơn một tý về tấm gương theo sử sách ghi lại của Kỳ Hề trong “Lã Thị Xuân Thu - Khứ Tư” là câu chuyện “ngoại cử kẻ thù, nội cử người thân” và về Bài luận văn xuất sắc của Nguyễn Trực (1417 - 1473, đã đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ, cập đệ nhất danh Trạng nguyên. Là Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Được Vua ban sắc Quốc tử giám thi thư. Sau này, khi được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, TQ, gặp dịp thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực xin dự thi và đỗ Trạng nguyên, được các sỹ phu nể phục, nên được xưng tặng là Lưỡng quốc Trạng nguyên) trong kỳ thi Đình năm 1442 (Nhâm Tuất) với đề thi do Vua Lê Thái Tông (sinh năm 1423, con thứ 2 của Lê Lợi, lên ngôi từ 1433 - 1442, lấy niên hiệu Thiệu Bình) ra đề và hỏi về đường lối dùng người, yêu cầu các thí sinh hiến kế “tiến cử bậc quân tử, thoái bỏ kẻ tiểu nhân”, để cho các quan thời nay soi vào và cùng Đảng, Nhà nước quyết tâm thực hiện Chính phủ kiến tạo.

  1. Nội dung tích truyện về Kỳ Hề đại khái là: Kỳ Hề (còn gọi là Kỳ Hoàng Dương, quan đại phu nước Tấn thời Xuân Thu (TQ), là người chí công vô tư, lòng dạ ngay thẳng, biết lấy đại cuộc làm trọng, không tính nhỏ mọn chuyện ân oán cá nhân khi tiến cử hiền tài. Kỳ Hề làm huyện lệnh huyện Nam Dương, khi đã ngoài bảy mươi tuổi, cáo lão về hưu. Tấn Bình Công (vị Vua thứ 31 nước Tấn Chư hầu nhà Chu, con của Tấn Điệu Công) hỏi có ai có thể thay thế được Kỳ Hề. Ông đã giới thiệu Giải HồTấn Bình Công ngạc nhiên vì biết giữa nhà Kỳ Hề và Giải Hồ có tư thù, nên hỏi: “Ta nghe nói Giải Hồ là người thù của nhà ngươi, sao nhà ngươi lại còn tiến dẫn?”. Kỳ Hề trả lời: “Chúa công hỏi ai là ngươi giỏi (có thể thay thế được thần),chứ có hỏi ai là người thù của thần đâu!”. Tấn Bình Công khen ngợi và trao chức Huyện lệnh Nam Dương cho Giải Hồ (Trong hồi 60, Đông Chu Liệt Quốc lại ghi: Tấn Bình Công sai người đi triệu Giải Hồ. Giải Hồ chưa kịp đến nhận chức thì đã ốm chết).

Giải Hồ là người ngay thẳng, công tư phân minh, có quan hệ rất thân với quan đại phu Triệu Giản Tử. Sau này Triệu Giản Tử cần tìm người đảm nhận chức Tướng quốc, Giải Hồ tiến cử Kinh Bác Liễu vì nhận thấy chỉ có Kinh Bác Liễu mới có đủ năng lực giữ chức Tướng quốc (mặc dù Kinh Bác Liễu là người đã cướp vợ của Giải Hồ). Quả nhiên Kinh Bác Liễu xử lý mọi việc chuẩn mực phân minh. Sau này khi Kinh Bác Liễu biết chính Giải Hồ tiến cử mình thì đến nhà cảm tạ, nhưng Giải Hồ nói: “Tôi tiến cử ngài là việc công, vì ngài có đủ năng lực gánh vác được công việc đó, nhưng chuyện tư giữa chúng ta thì tôi và ngài không thể đội trời chung”.

Khi Giải Hổ chết, Tấn Bình Công lại hỏi Kỳ Hề: “Ngoài Giải Hổ thì ai có thể đảm nhận được chức này”?, Kỳ Hề cho rằng: “Sau Giải Hồ thì không ai bằng Kỳ Ngọ”. Tấn Bình Công nghi ngờ sự công tâm của Kỳ Hề nên hỏi: “Thế Kỳ Ngọ không phải là con nhà ngươi sao?”. Kỳ Hề trả lời: “Chúa công hỏi ai là người giỏi, chứ có hỏi ai là con của thần đâu!”. Tấn Bình Công theo lời, trao cho Kỳ Ngọ chức trung quân uý. Các quan đại phu, đều lấy làm bằng lòng… Khổng Tử biết chuyện này liền khen: Tề Hoàng Dương đúng là người hay! Ông ta tiến cử người ngoài thì không tránh né kẻ thù địch với mình; tiến cử người nhà thì không vì là con mình mà ngần ngại. Người như thế đúng là chí công vô tư”.

  1. Nội dung cơ bản đề thi Đình năm 1442 của Vua Lê Thái Tông và bài luận văn xuất sắc của Nguyễn Trực là:

Đề thi của Vua: "Thời Đường Ngu, nhân tài có nhiều, nhưng người tài được dùng thì rất ít; sao nhân tài khó tìm vậy! Đến Đế Nghiêu sáng suốt hiểu người là thế, mà trong triều vẫn còn lũ Tứ hung; sao tiểu nhân khó biết vậy?”. Ngoài ra Vua còn hỏi: “Đức Thái tổ Cao hoàng đế ta lấy được thiên hạ, nhiều phen xuống chiếu cầu hiền mà không có một ai ứng tuyển, trong khi ấy thì bọn Hãn, bọn Xảo ngầm nuôi mưu gian. Trẫm từ khi lên ngôi tới nay, gắng sức trị nước, thế mà việc chọn nhân tài vẫn mịt mở thăm thẳm; bọn Ngân, bọn Sát lại gian ngoan chúa ác. Sao người quân từ khó tìm, kẻ tiểu nhân khó biết như vậy?.

Các ngươi hãy đem hết hiểu biết của mình để trả lời, trẫm sẽ đích thân xem xét”.

Bài làm của Nguyễn Trực (tôi chỉ xin trích một số nội dung cơ bản và phân tích đại ý):

- Bàn về việc Vua yêu cầu “đem hết hiểu biết của mình để trả lời”, Nguyễn Trực cho rằng “Thần là kẻ ngu muội, đâu dám xét bàn trước bề trên, nhưng đã thẹn vâng chiếu sáng, dám đâu không trung thực phi bầy để đáp lại mệnh lớn của Thiên Tử”.

Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mà còn khiêm tốn đến vậy thì Ngô Nguyệt Hữu nhận là tài hèn sức mọn, phận mỏng manh như tơ nhện làm sao đủ sức gánh gồng, thì cũng đúng thôi. Tuy nhiên Nguyễn Trực lại nói: “Thần tài năng chưa được bác cổ thông kim, dẫu hàng ngày ngu dốt, vẫn muốn được bề trên soi xét. Huống nay được dịp trình bầy, dám đâu không dốc hết hiểu biết của mình kính cẩn trả lời”. Thì chúng ta cũng vậy thôi, tuy không đủ sức gánh gồng, nhưng vẫn nên phải có đôi lời bàn thảo, mong đất nước đổi mới, phát triển vì tiến cử và chọn được hiền tài.

  - Nói về trách nhiệm của người tiến cử và người lựa chọn, sử dụng nhân tài, Nguyễn Trực nêu “Tiến cử người quân tử, lui bỏ kẻ tiểu nhân, ấy là bản tâm của bậc thánh nhân trị nước. Còn như người quân tử bị lui bỏ, mà kẻ tiểu nhân được tiến cử thì đâu phải là nguyện vọng của Thánh nhân”.

Đối với câu trả lời này, nếu tôi, tôi sẽ chỉ viết: “Tiến cử người quân tử, lui bỏ kẻ tiểu nhân, ấy (người tiến cử và người lựa chọn, sử dụng) là bậc thánh nhân trị nước. Còn ngược lại thì đâu phải là Thánh nhân”. Viết như tôi là trở thành chỉ trích bề trên, chỉ trích lãnh đạo là phạm thượng, không những không được khen, không được thưởng mà chắc chắn còn bị trách phạt nữa. Thực đáng khâm phục Nguyễn Trực. Ông đúng là người tài, thi đõ và được chọn làm Lưỡng quốc Trạng nguyên là phải. Bái phục.

- Về nguyên nhân Vua hỏi ”Thời Đường Ngu, nhân tài có nhiều, nhưng người tài được dùng thì rất ít; sao nhân tài khó tìm vậy! Đến Đế Nghiêu sáng suốt hiểu người là thế, mà trong triều vẫn còn lũ Tứ hung; sao tiểu nhân khó biết vậy?” và câu hỏi “Thái tổ Cao hoàng đế…, đã nhiều phen xuống chiếu cần hiền, mong tìm được nhân tài trị nước, thế mà không có một ai ứng tuyển”, Nguyễn Trực chỉ rõ là: “Bởi đạo của kẻ tiểu nhân dễ tiến mà khó lui, dễ dùng mà khó bỏ. Đại gian như trung, đại nịnh như tín, chúng vào hùa kết đảng, thậm chí dẫn dắt tiến cử lẫn nhau; chúng dùng lời nói khéo để trái mệnh vua, giả cách kính nhường để gây tội ác” và cho rằng “Bọn Ngân, bọn Sát lừa dối bề trên, hãm hại hiền tài, lấy bọn theo mình làm giỏi, lấy bọn múa mép làm tài, mua quan bán tước, hối lộ ngang nhiên... Những việc như vậy, đâu phải vì nước tiến cử nhân tài, vì vua lựa chọn bề tôi? Do vậy mà người quân tử khó tìm, kẻ tiểu nhân khó biết”. Đồng thời, theo Nguyễn Trực: “tự mình chọn người hiền là đạo người làm vua, nhưng tiến cử tài năng là chức trách của bậc đại thần. Bọn Hãn, bọn Xảo ngầm nuôi mưu gian ghen ghét, che lấp hiền tài, cất nhắc bè lũ. Bản thân chúng đã chả ra gì, thì làm sao tiến cử được nhân tài”.

Quả đúng, người tiến cử, người lựa chọn, sử dụng và người được tiến cử mà thuộc hạng người vừa ngu dốt, vừa gian lại vừa nịnh, vừa tham lam và cửa quyền lại xa rời thực tế… thì rất dễ bị dối lừa, dễ sai đường lạc lối và gây ra nhiều tội ác. Thời nay ở ta có sự “một kẻ làm quan cả họ làm quan” mà vẫn “đúng quy trình” là do cái nạn lừa dối, nịnh bợ  bề trên, hãm hại hiền tài; lấy bọn theo mình làm giỏi, lấy bọn múa mép làm tài, mua quan bán tước, hối lộ ngang nhiên... như Lưỡng quốc Trạng NguyênNguyễn Trực đã chỉ ra.

Ở đời, Đạo quân tử mạnh thì đạo tiểu nhân suy; đạo quân tử suy thì đạo tiểu nhân mạnh. Quân tử và tiểu nhân như âm với dương, không thể cùng song song vận hành; như thủy với hỏa, không thể cùng chứa trong một bình. Người nào tốt, kẻ nào xấu; người nào liêm khiết, tài giỏi, mẫn cán, kẻ nào ngu dốt, tham lam, lơ là, lười biếng, giữ ghế ăn hại, thất đức, bất tài, gian ngoan chứa ác… đều bộc lộ rõ ràng. Cho nên bậc bề trên, bậc lãnh đạo mỗi khi dùng người phải bình tĩnh, chuyên tâm, phải thử thách, khảo xét thận trọng, phải gần gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sỹ chính trực… để họ đưa đi đúng đường, đặt vào chỗ không lầm lỗi. Như vậy thì “trăm quan đông đảo, đều giữ phong cách người quân tử, có đáng lo gì quân tử không được tiến cử, kẻ tiểu nhân không bị đẩy lùi”.

Câu chuyện Kỳ Hề tiến cử con trai, gợi lên cho chúng ta rõ ràng rằng việc “cha truyền con nối” trong giới chính trị đã có từ thuở trước, và ngày nay, nếu nhìn từ góc độ nghề nghiệp, yếu tố di truyền và truyền thống gia đình có thể cũng có ý nghĩa tốt đẹp nhất định. Dù không phải tất cả, song con cái của các thương nhân thường có sự nhạy bén về kinh doanh; con cái của giới lãnh đạo cũng có thể có sự nhạy bén về chính trị? Công bằng mà nói, nếu một người làm quan tiến cử, lựa chọn người nhà mình làm quan được như gương Kỳ Hề, Sử Hạo, Bào Thúc Nha… mà lớp hậu duệ của họ trước cuộc sống đạm bạc, vẫn biết hài lòng, tâm tình vẫn tĩnh lặng bình an, có thể miễn nhiễm được những mê hoặc bất tận, vẫn giữ được một trái tim thuần khiết chứa đựng trí tuệ và tài hoa, có thể nhìn thấu chính mình, thật sự đủ tầm để đảm đương trọng trách và phát huy tốt truyền thống của gia đình trong sự nghiệp “chèo lái” đất nước, có thể phát huy tiềm năng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đảm nhận, biết tôn Tộc (coi trọng việc chung, việc đại sự quốc gia) và tôn Tài (coi trọng tài năng) cùng góp sức chấn hưng đất nước, bảo yên Tổ quốc như Giải Hồ, Kỳ Ngọ, Quản Trọng, Mạc Tế… thì tốt quá, chắc chắn được Đảng, Chính phủ, nhân dân ghi nhận, được đời sau ca tụng, không có gì phải bàn cãi ầm ĩ. Nên nhớ rằng, xưa kia Kỳ Hề tiến cử con, vì ông xét việc chứ không xét người, Kỳ Hề vô tư đến mức dám tiến cử người thù địch, thì mới có thể tiến cử con nên không phải hổ thẹn.

Còn ngược lại, lòng người như mặt nước, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua đã có thể khuấy động, gợn sóng. Huống hồ một cơn lốc quét ngang, nếu chẳng chú tâm, lòng người sẽ nổi sóng, không cách nào trở lại với bản tính thuần thiện nguyên sơ của con người được, nhất là khi cuộc đời đầy rẫy sự mê hoặc của nhà lầu và xế hộp, vàng bạc và mỹ nữ, danh lợi và địa vị… các “quan” chỉ biết tôn Lộc (coi nặng tiền tài, bổng lộc, vật chất) và tôn Nịnh (thích nịnh hót, bợ đỡ) đi ngược lại các tấm gương sáng của các hiền nhân, trong cả lĩnh vực giáo dục, lẫn tiến cử, lựa chọn nhân sự các cấp… thì sẽ khó tránh lời đàm tiếu, bị hậu thế muôn đời trách cứ.

Mong sao những quân tử, những hiền nhân chân chính, có nhân, có nghĩa… được xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội chúng ta. Mà những quân tử, hiền tài thì chỉ có thể được sinh ra từ một nền giáo dục văn minh, tốt đẹp, chứ không thể từ một nền giáo dục mà  điểm, bằng cấp được quy ra từ các “Ệ” của tiền TỆ, hậu DUỆ và quan HỆ … Và tất nhiên, mọi người đều phải được có cơ hội thi thố khách quan trong “tiến cử”, được tuyển chọn công khai, công bằng, chí công vô tư, bất kể thân hay sơ bằng, chứ không phải từ câu cửa miệng “đúng quy trình” chung chung… mà kết quả vẫn là “một người làm quan cả họ làm quan”, thì người dân sẽ tâm phục khẩu phục. Xin đừng để một tác giả chỉ có tài hèn sức mọn và phận mỏng manh như tơ nhện như Ngô Nguyệt Hữu phải mãi lo lắng vì “Còn nhiều câu chuyện một người làm quan tương tự như Ngô kể…”.

Người dân bao giờ cũng rất tinh tường. Sau khi được bổ nhiệm “đúng quy trình”, việc các cán bộ hậu duệ được tiến cử kia làm được gì, sẽ là thước đo tốt nhất để đánh giá người “tiến cử” họ có phải là những Kỳ Hề, Sử Hạo, Bào Thúc Nha?; người “lựa chọn, sử dụng” họ có thật sự là những Tấn Bình Công, Tề Hoàn Công hay Vua Lê Thái Tông… ngày xưa được mọi người tôn trọng? Mạnh Tử nói (đại ý): Không thể chỉ trách cứ người mình dùng, không thể chỉ chê bai việc chính sự. Duy bậc Đại nhân mới biết sửa lỗi lầm của mình. Vua có nhân, có nghĩa thì ai cũng sẽ có nhân có nghĩa; Vua chân chính thì quan quân, bách tính trăm họ chân chính. Vua chân chính cả nước sẽ bình yên.

Mong lắm thay.

 

Diễn đàn khác:
Định giá lại “nông nghiệp, nhà nước, văn minh”? (16/10/2018)
Hướng đi nào cho nông thôn mới? (9/10/2018)
Đôi điều suy ngẫm về đạo đức công vụ trong tình hình hiện nay (11/9/2018)
Vẻ đẹp cá tính người phụ nữ trong bài thơ "Bánh trôi nước" (10/9/2018)
Dùng một lần (7/9/2018)
Đánh vần thì đánh, đừng đánh thầy Đại (7/9/2018)
Khi nông dân chán... đại học (6/9/2018)
Đối thoại với nhà nghiên cứu Trương Công Anh về kinh doanh rừng tổng hợp (31/8/2018)
Với cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay - Đôi điều tôi muôn nói (31/8/2018)
Về sách giáo khoa bậc phổ thông - Như tôi hiểu và mong muốn (8/8/2018)
Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ (7/8/2018)
Quản trị nhân lực công (7/8/2018)
Tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng! (2/8/2018)
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm (2/8/2018)
Hình thành dần thói quen làm khoa học cho doanh nghiệp (20/7/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 475 | Tất cả: 1,466,042
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp