GIỚI THIỆU CHUNG
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn
Tin đăng ngày: 13/4/2018 - Xem: 231
 

Đào Tam Tỉnh

 

 Upload

Sắc phong Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn lưu tại nhà thờ Nguyễn Khắc, Nam Đàn

Họ Nguyễn Khắc ở xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là một dòng họ lớn, sản sinh ra một số nhân vật văn hóa khoa bảng nổi tiếng ở xứ Nghệ. Trải qua thời gian lịch sử với nhiều biến đổi thời cuộc, tài liệu dòng họ bị mất mát, phân tán nhiều, khó tìm lại được. Để giúp cho việc nghiên cứu về dòng họ, chúng tôi thấy cần thiết phải tập hợp, giới thiệu các tài liệu về họ Nguyễn Khắc còn rải rác ở các nơi lưu trữ và dân gian địa phương, đặc biệt là các tài liệu Hán Nôm quý hiếm.

Dòng họ Nguyễn Khắc còn lưu giữ được bản gia phả chữ Hán và đã được phiên dịch sang Quốc ngữ. Gia phả ghi chép từ ông tổ Nguyễn Khắc Văn cho đến đời thứ 12. Đây cũng là dòng chính họ Nguyễn Khắc ở Hồng Long rồi phát tích ra các chi ở các nơi khác. Quyển tiếp theo ghi tiếp từ đời thứ 13 cho đến ngày nay.

Di sản tài liệu Hán Nôm liên quan đến dòng họ Nguyễn Khắc chủ yếu viết về hai ông tổ là Nguyễn Khắc Văn và Nguyễn Khắc Thiệu, dòng chính ở Nha Môn, Nam Đàn, Nghệ An và Nguyễn Khắc Niêm ở Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đó là các tài liệu viết về tiểu sử, đậu đạt khoa bảng, sự nghiệp làm quan qua văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám, sắc phong thần, văn bia mộ tưởng niệm, sách lịch sử quốc gia (Đại Việt sử ký toàn thư), bài vị, đại tự, câu đối và sách địa chí, lịch sử địa phương…

Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 10 (1628), đời Lê Thần Tông có ghi về Nguyễn Khắc Văn như sau:

Cho đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân 14 người/ Nguyễn Khắc Văn: Phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, xếp thứ 7/14 người (khoa này lấy đỗ 1 Đệ nhất giáp đệ tam danh - Thám hoa là Giang Văn Minh; 3 Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) và 14 Đệ tam giáp), Đỗ Văn Ninh. Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội - H, VH-TT, 2000, tr. 206-301.

Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)/  Ngô Đức Thọ CB (H, Văn học, 1993 - Tr. 535) có ghi:

Nguyễn Khắc Văn (1567 - ?), người phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. Nguyên quán xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì… Cha của Nguyễn Khắc Thiệu. 62 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Quang lộc Tự khanh. Khi mất được tặng chức Lễ bộ Hữu Thị lang.

Sau khi thi đậu, ông được triều đình cử giữ các chức vụ quan trọng và có nhiều công lao đóng góp cho triều đình, đất nước, được lòng dân khen ngợi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch. T.3- H, KHXH, 1998- Tr. 229) có ghi:

Canh Ngọ, Đức Long năm thứ 2 [1630]… Tháng 10… Bấy giờ bọn khâm sai võ tướng phần nhiều cậy thế thân cận có công, không theo chiếu lệnh, lấy lạm của dân, công nhiên hối lộ, thải người già, miễn bắt lính, điên đảo bất công, nhiều lần bị chất vấn, quở trách, mà quan duyệt tuyển ở Thanh Hoa là bọn Thái Bá Kỳ càng quá lắm. Duy có bọn Cao Ty, Trần Vĩ… Nguyễn Khắc Văn… là thận trọng giữ phép, không phạm pháp, được lòng dân nhiều, dân đều ca ngợi…

Tháng 11, sai Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Phó tướng Tây Quận công Trịnh Tạc thống lĩnh tướng sĩ bản bộ và các dinh cơ dưới quyền cùng quan lính châu Bố Chính trấn giữ xứ Nghệ An; lấy Thái bộc Tự khanh Giang Văn Minh làm Đốc thị. Lại sai Thái bảo Nhạc Quận công Bùi Sĩ Lâm trấn thủ xứ Thanh Hoa, lấy Tự khanh Nguyễn Khắc Văn làm Đốc đồng, đều vâng mệnh ra trấn. Đi đến đâu ban hành lệnh cấm, trong cõi yên lặng…

Ông làm quan trong thời đại có nhiều biến động (Lê - Trịnh), nhưng không a dua với bọn cơ hội mà luôn giữ được đạo đức trong sáng, làm quan thanh liêm, nghiêm túc, rất được lòng dân, nên triều đình đã cử ông làm quan Đốc đồng Thanh Hoa, rồi Tả Đô đốc đồng tri, Tả lãnh sứ, được ban tước Văn Phương hầu (tước hầu thơm tên: Văn). Sau khi nghỉ hưu, ông đã chọn đất Nha Môn, bên bờ tả ngạn sông Lam trong xanh, nơi đất lành chim đậu làm quê hương thứ hai và xây dựng làng quê ngày càng trù phú, phát tích cho con cháu mãi mãi về sau. Ông mất tại đây và được con cháu về sau xây dựng lăng mộ to đẹp. Nhân dân đã xây đền thờ và thờ ông là vị thần linh Thành Hoàng của làng. Đúng như bài vị ở Long Môn đã ghi về ông:

戊辰科同進士出申光祿寺卿之神梨朝敕封翊保中興大神

Mậu Thìn khoa Đồng Tiến sĩ xuất thân, Quang lộc Tự khanh chi Thần, Lê triều sắc phong Dực bảo Trung hưng đại thần.

Các triều đại đều có sắc phong thần cho ông, nhưng nay chỉ còn lại 3 bản sắc phong triều Nguyễn, tiêu biểu như sắc sau:

敕乂安省南壇縣林盛社龍門村奉事黎朝永怍戊辰科進士歷頒光祿寺卿之神護國庇民稔著靈應向來未有預封四今丕丞耿命緬念神庥著封為端肅翊保中興之神隼仍舊奉事神其相佑保我黎民欽哉成泰拾五年拾壹月貳拾陸日

Sắc Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Lâm Thịnh xã, Long Môn thôn phụng sự Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa Tiến sĩ lịch ban Quang lộc Tự khanh chi thần. Hộ quốc ti dân nhẫm trứ linh ứng hướng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh miễn niệm thần hưu trước phong vi Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần, chuẩn nhưng cựu phụng sự thần kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân. Khâm tai!

Thành Thái thập ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập lục nhật.

Tạm dịch: Sắc cho thôn Long Môn, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phụng sự vị thần: Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa tiến sĩ, đương triều ban chức Quang lộc Tự khanh. Thần có công lao hộ quốc, giúp dân linh ứng rõ rệt, từ trước đến nay đã được dự phong. Nay, Trẫm gánh vác mệnh lớn, trông lại sự che chở của thần, nên phong là Đoan túc Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy giúp đỡ che chở cho dân ta! Hãy nghe theo!

Ngày 26 tháng 11 năm Thành Thái thứ 15 (1903).

Con trai của Nguyễn Khắc Văn là Nguyễn Khắc Thiệu (còn gọi là Năng Thiệu), sinh năm 1611 - mất năm 1668. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi, nối được nghiệp thi thư đèn sách của cha, nên đi thi cũng đậu tiến sĩ. Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Phúc Thái năm thứ nhất (Đời Lê Chân Tông - 1643) có ghi về ông:

Cho đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2 người:

Nguyễn Khắc Thiệu: Phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương…

Khoa thi này lấy đậu 9 người, 2 Đệ nhị giáp và 7 Đệ tam giáp, Nguyễn Khắc Thiệu đứng đầu, như vậy là ông đậu Đình nguyên - Hoàng giáp, thật là vẻ vang cho dòng họ và đất nước. Ông ra làm quan trải giữ nhiều chức tước và có công lớn xứng với lời trong bài văn bia này đã ghi: Hiền tài là nguyên khí của nhà nước…

Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam có ghi:… Nguyễn Năng Thiệu (1611-1668), con của Nguyễn Khắc Văn. 33 tuổi đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quí Mùi, niên hiệu Phúc Thái 1 (1643), đời Lê Chân Tông. Làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, tước Quận công, bị giáng xuống Lễ bộ Tả Thị lang, tước bá/ Theo TT: Ngay khi giữ chức Tả Thị lang bộ Lễ, Nguyễn Năng Thiệu đã được ban tước Dương Quận công. Năng Thiệu là người chất trực, làm quan thanh bạch, có giúp bàn việc quân/ Khi mất (9/1668) được tặng Lễ bộ Thượng thư, được ban tên thụy là Trung túc, thọ 58 tuổi. (Tr. 554).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép về Nguyễn Năng Thiệu:

Mậu Tuất [Thịnh Đức] năm thứ 6 [1658]… Tháng 11, sai Bồi tụng Nguyễn Năng Thiệu làm Tham thị ở dinh Tả quốc.

Canh Tý [Vĩnh Thọ] năm thứ 3 [1660]. Tháng 11, ngày 17, Thống lĩnh quan Phú Quận công Trịnh Cán sai bọn thuộc tướng Lê Thì Hiến, Hoàng Nghĩa Giao; Tham thị Lê Sĩ Triệt, Nguyễn Năng Thiệu chia đường đi đánh giặc. Thì Hiến, Sĩ Triệt từ bờ biển qua đất Cương Gián (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) tiến đi; bọn Nghĩa Giao, Năng Thiệu theo đường bộ qua các nơi Lũng Trâu, Mạn Trường (Thiên Lộc, nay thuộc huyện Can Lộc) tiến đi. Lại hạ lệnh cho thống suất và đốc suất các đạo điều chỉnh bị quân dưới quyền, ngày đêm cố công sức đánh công kích bốn mặt. Tiếng thanh la và tiếng trống vang trời. Thế giặc rối loạn lung tung không biết trở tay ra sao.

Ngày 18… phá được quân giặc ở đất An Điềm (Thiên Lộc)… Ngày 19… lại phá được giặc ở Phù Lưu Thượng… Giặc thua to chạy trốn, ta thu được hết 7 huyện Nam Hà…

Tân Sửu… Mùa hạ, tháng 4, xét công dẹp giặc thu lại bờ cõi… Lại cho bọn Trần Văn Tuyển, Nguyễn Năng Thiệu… có công bàn mưu tính kế… Năng Thiệu làm Ngự sử đài Phó đô ngự sử, Dương Quận công…

Giáp Thìn, tháng 6… Lấy Nguyễn Năng Thiệu làm Lại bộ Tả Thị lang… Tháng 11, lấy… Nguyễn Năng Thiệu làm Lễ bộ Thượng thư…

Qua Đại Việt sử ký toàn thư, thấy được Nguyễn Năng Thiệu là người văn võ song toàn, khi có sự biến quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong đánh chiếm vùng đất Nam Hà (tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), ngài được cử làm tướng cầm quân, có công bàn mưu tính kế cùng các tướng khác đánh tan được giặc, lấy lại được vùng đất đã mất. Ông được ban tặng các chức tước xứng đáng lên đến Bồi tụng, rồi Thượng thư bộ Lễ, tước Dương quận công. Khi mất, nhà vua thương tiếc ban cho ông tên thụy là Trung túc (người trung thành và nghiêm túc). Bài vị Thần tổ Nguyễn Khắc Thiệu ở Long Môn như sau:

高祖考梨朝上書步例爵郡公字克紹瑞忠夙神位

Cao Tổ khảo Lê triều Thượng thư bộ Lễ, tước Quận công, tự Khắc Thiệu, thụy Trung Túc Thần vị.

Văn bia:

Bài vị thỉ tổ khắc trên bia đá ở nhà thờ đại tôn tại xã Sơn Hòa như sau:

Nguyễn tộc thỉ tổ linh bi: Thỉ tổ Lê triều Vĩnh Tộ Mậu Thìn Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Tả Đô đốc Quang lộc Tự khanh, Văn Phương hầu Nguyễn Tướng công, Khâm mông Hoàng triều sắc phong: Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần, Tái mông Đăng trật, gia tặng Quang ý Trung đẳng thần. Thục nhân, hiệu Ôn mục thần hiệu. 

Thần tổ mộ phần bi ký

Cổ lai cao khoa hiển hoạn giai khả truyền vưu khả truyền giả. Cư quan thanh bạch di hậu nhân lưu dịch nghiệp hy long vạn đại như kiến nhi khoa danh hoạn nghiệp dĩ truyền.

Ngã Thần tổ tiên Long thành Thanh Trì Hoàng Liệt xã nhân dạ tịch Thọ Xương Hà Khẩu phường đăng Lê Vĩnh Tộ Mậu Thìn khoa Tam giáp Tiến sĩ đệ sĩ Quang lộc Tự khanh tịch Thanh Hoa xứ Đốc đồng. Long Đức sơ phụng xung duyệt tuyển các sứ dân đinh sử xưng cư quan hữu liêm tiết thanh thận thủ pháp đắc quân dân tâm sở vị thanh bạch di tử tôn minh đức viễn hỷ.

Tôn trưởng công húy Thiệu kế đặng Phúc Thái Quý Vị khoa Nhị giáp Đình nguyên sĩ Lễ bộ Thượng thư hữu dĩ thanh bạch văn ư thế nhất môn tề mỹ thiên cổ lưu phương đăng khoa lục.

Khả cải dạ tầm di cư vu Thanh Hóa hựu di cư vu ngã Hoan trạch Nam Đàn huyện chi Lâm Thịnh xã cử tử nhị trưởng lưu thử thổ thứ bốc cư vu Thanh Chương huyện (kim thuộc Nam Đàn) Thanh Đàm thôn. Trưởng chi tôn hựu di vu Hương Sơn huyện Yên Ấp xã Thịnh Xá thôn. Tam phái tử tôn kế kế thừa thừa thế hữu linh văn cưu đức danh thị hựu dụ cửu nhi dụ trưng hy tiết phụng.

Hoàng triều sắc phong Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần bào cổn vinh bao tàng thu tăn sắc.

Kim linh phần hiện tại Lâm Thịnh xã Long Môn thôn Cây Sung xứ Tự Đức niên gian bản tộc trình khất trúc lăng. Thừa Anh Sơn phủ thụ Nguyễn Doãn Tựu đại nhân để khảm y cờ sở thỉnh. Duy Tân Đinh Hợi niên Nam Đàn huyện doãn Tôn thất Thung đại nhân thừa tỉnh đường nghi sức phương cư chiếu lệ kính ty lăng chi tứ biên các nhị thập nhất quan xích. Bản tộc nhân thử tăng quảng doanh trúc bi đắc áp khoát. Đệ niên dĩ trọng xuân nguyệt vọng nhật (thập ngũ nhật) tam phái hội đồng cung hành tỉnh tảo dụng thị bất vong mỹ cảnh thịnh truyền ư thị hồ tại. Tôn ngưỡng bằng tiên ấm lãm tế sĩ đồ lai duy tự khôi ư thanh bạch sử tử tôn thị cù niên tiền dao tỉnh tốt kim hảm thừa chi quận thụ muỗi cong nghi đắc tùy chư tôn trưởng cung chi chiêu bái đồng niệm Thần tổ cư quan chi tháo dụ hậu chi mưu phàm đắc chi ngã gia tiên sở truyền thuật giả huân cao thê thác như hoặc kiếm chi cẩn chí vu thạch dĩ thọ.

Khải Định bát tuế trọng xuân nguyệt thập ngũ nhật…

Tôn Khắc Niêm bái hoạch.

Dịch nghĩa:

Văn bia phần mộ thần tổ

Xưa nay việc thi cử đỗ đạt làm quan đều có thể truyền, còn việc làm quan thanh bạch để đời sau con cháu được hưởng hy vọng muôn đời rạng rỡ lại càng nên truyền vậy!

Thần tổ ta trước ở Long Thành, Thanh Trì, Hoàng Liệt xã, hộ tịch ở huyện Thọ Xương, phường Hà Khẩu, đỗ Tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn năm Vĩnh Tộ triều Lê, làm quan đến Quang lộc Tự khanh, từng làm Đốc đồng xứ Thanh Hoa, đầu thời Long Đức vâng mệnh vua sung duyệt tuyển dân định các xứ. Sử ghi khen làm quan thanh liêm, có phép tắc cẩn thận, được lòng quân dân, gọi là thanh bạch. Minh đức ấy truyền cho con cháu mãi mãi.

Tôn tướng công Khắc Thiệu kế thế đăng khoa, đời Phúc Thái, khoa Quý Vỵ đỗ Nhị giáp Tiến sĩ Đình nguyên, làm quan đến Lễ bộ Thượng thư, lại được người đời tôn kính khen thanh bạch. Một nhà tế mỹ tiếng thơm muôn thuở đăng khoa đáng kính vậy!

Trước dời vào Thanh Hoa, rồi lại vào Hoan Châu, huyện Nam Đàn, xã Lâm Thịnh, sinh hai con đều thi đỗ. Trưởng ở lại đất ấy, thứ bốc cư đến thôn Thanh Đàm, huyện Thanh Chương (nay là Nam Đàn). Cháu của chi trưởng lại di cư sang làng Thịnh Xá, tổng An Ấp, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Con cháu ba phái kế kế thừa tuân theo đức cũ càng lâu càng sáng vậy.

Nay đội ơn Hoàng triều sắc phong Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần bào cổn vinh bao trung thu tăng sắc.

Nay linh phần ở xã Lâm Thịnh, thôn Long Môn, xứ Cây Sung.

Thời vua Tự Đức, họ ta có trình xin đắp thêm lăng mộ. Quan lớn Nguyễn Doãn Tựu đến xem và duyệt y lời khẩn cầu. Năm Tân Hợi thời vua Duy Tân, huyện doãn huyện Nam Đàn là Tôn Thất Thung, vâng mệnh quan tỉnh cho mở rộng 4 bên theo lệ luật gồm 24 công xích. Nhân đó họ ta tăng khu mộ rộng rãi, đẹp đẽ. Hàng năm đến ngày rằm tháng 2 ba phái hội đồng tảo mộ, sửa sang quét dọn, quang cảnh thêm sáng sủa, đẹp đẽ.

Cháu nghĩ đến phúc ấm xưa, được đứng trong hàng quan lại, cũng lấy điều thanh bạch làm trọng để con cháu mai sau noi theo. Nay được lệnh về tỉnh cùng quận, xin cùng các vị tôn trưởng chiêm bái, ghi nhớ tiết tháo của Thần tổ lúc làm quan với ý đồ để lại cho đời sau sáng tỏ, gia tiên chúng ta truyền thuật, Huân cao thế Thác như được thấy trước mặt. Kính ghi vào đá để được lâu dài.

Khải Định năm thứ 8 ngày rằm tháng 2

Cháu Nguyễn Khắc Niêm… bái hoạch.

(Người dịch: Nguyễn Xuân Triêm)

Tài liệu chữ Hán về Nguyễn Khắc Niêm: Nguyễn Khắc Niêm (1888-1954) người xã Yên Ấp, huyện Hương Sơn (Đăng khoa lục chép sinh năm 1886), đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906), 21 tuổi (đúng ra là 19 tuổi) đỗ Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), giữ chức Thừa chỉ sung Kiểm giáo, rồi Tu nghiệp Quốc Tử Giám, ra Đốc học Nghệ An, Tri phủ Anh Sơn, Án sát rồi Bố chánh Nghệ An, Thị lang, rồi Tham tri bộ Lễ, Tuần phủ Khánh Hòa, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hóa (1941), tặng Hiệp biện Đại học sĩ (Thái Kim Đỉnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (từ đời Trần đến đời Nguyễn)).

Sách Khoa bảng Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình qua tài liệu Mộc bản triều Nguyễn/ Cục Văn thư và lưu trữ. Trung tâm lưu trữ Quốc gia IV/ Phạm Thị Huệ CB… H., Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2012. Phần Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh đỗ khoa thi Đình: Khoa thi Đình năm Đinh Mùi - niên hiệu Thành Thái thứ 19 (1907).

Nguyễn Khắc Niêm 阮克拈 Sắc ban Đệ nhị giáp (Tiến sĩ xuất thân). Quê quán: Xã An Ấp, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đỗ Cử nhân khoa thi năm Bính Ngọ (1906). Đỗ Tiến sĩ xuất thân năm 22 tuổi. Ông từng đỗ đầu khoa thi Hội. (Hồ sơ số H62, Đinh Mùi khoa Đình thí, mặt khắc I, tr. 94-95).

Sau khi thi đỗ, được cùng các vị tân khoa triều kiến vua Thành Thái, ông đã đọc 4 câu khi được vua đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc gia:

尊族大規/尊祿大危/尊才大盛/尊佞大衰                                                   

Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy.

Tôn trọng nòi giống, được hòa hợp lớn/Tôn lợi bổng lộc, sẽ đại nguy nan/Tôn trọng tài năng, gặt hái phồn thịnh/Tôn điều siểm nịnh, ắt phải suy vong.

 Dòng họ Nguyễn Khắc Hồng Long từ các vị tổ Nguyễn Khắc Văn, Nguyễn Khắc Thiệu đã để lại một di sản truyền thống văn hóa khoa bảng rạng rỡ cho quê hương, đất nước và nhiều thế hệ con cháu tiếp tục phát huy cho đến tận ngày nay. Nó cũng thể hiện qua các đại tự, câu đối của dòng họ còn để lại đến ngày nay:

奉祖堂 Phụng tổ đường  靈應神  Linh ứng thần

黃烈清持留今科榜

龍門臨盛照古名人

Hoàng Liệt Thanh Trì lưu kim khoa bảng;

Long Môn Lâm Thịnh chiếu cổ danh nhân.

愛國莫忘祖

仁民先睦親

Ái quốc mạc vong tổ;

Nhân dân tiên mục thân.

名將功臣留國史

文科武敕朗家風

Danh tướng công thần lưu quốc sử;

Văn khoa võ sắc lãng gia phong.

科宦前朝枝派面

清名後世萬尊長

Khoa hoạn tiền triều chi phái diện;

Thanh danh hậu thế vạn tôn trường.

一堂照睦封神巋

萬古英伶日月恆

Nhất đường chiếu mục phong thần vị;

Vạn cổ anh linh nhật nguyệt hằng.

曆代文武科名達

來今流福祿爵卿

Lịch đại văn võ khoa danh đạt;

Lai kim lưu phúc lộc tước khanh.

Di sản tài liệu Hán Nôm về họ Nguyễn Khắc còn tồn tại, lưu trữ ở một số nơi còn chưa sưu tầm, khai thác được hết. Công việc này còn dành cho con cháu trong dòng họ và các nhà nghiên cứu tiếp tục truy tìm và tập hợp lại, giúp ích cho việc giáo dục truyền thống địa phương, quê hương, đất nước và cho các thế hệ trẻ.

Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,210 | Tất cả: 1,419,064
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp