ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ
Đền Chín Gian với thực hành tâm linh của người Thái Nghệ An
Tin đăng ngày: 11/4/2018 - Xem: 448
 

Sầm Văn Bình

Upload

Đền Chín Gian tại huyện Quế Phong sau khi phục dựng

* Lịch sử hình thành:

Từ ngày xửa, ngày xưa, Tạo Mường ở Luông Phả Bàng (Cố đô Luang Phrabăng- Lào bây giờ) đã sinh được 2 người con trai, anh là Ló Ỳ, em là Ló Ai. Cả hai đều thông minh, khoẻ mạnh hơn người nhưng người em vốn tham lam và đố kỵ, thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh nên đã giết chết anh rồi vứt xác xuống dòng sông Mã. Xác Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước xuống hạ nguồn, bị vướng lại ở một cái phai. May nhờ có một con quạ bay qua tưởng là người chết, nhưng thấy cái xác còn cử động nên tiếp cho một liều thuốc tiên. Ló Ỳ sống lại, tìm vào một vùng gần đó xin ăn. Nơi đây vốn không có người cai quản, lại thường xuyên loạn lạc, hơn nữa nhân dân thấy Ló Ỳ khoẻ mạnh, xuất thân dòng dõi cao quý nên đã tôn anh làm Tạo, nhờ đó đất xưa giờ trở nên phồn thịnh hơn.

Nhớ ơn con quạ đã cứu sống Tạo mường của mình, dân ở đó đã đặt tên cho mường của mình là Mường Cả Dả (mường Quạ Cứu - nay là xã Hội Xuân, huyện Quan Hoá - Thanh Hoá). Được ít năm, vì quá thương cha mẹ già, Tạo Ló Ỳ đã trao quyền cho người khác để trở về quê cũ, nhưng không biết đường lại lạc sang một vùng đất khác, nơi này đất lành người Thái quần tụ cũng đã đông nhưng vẫn chưa có người cai quản nên chưa thành mường, thành bản.

Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đất đầu tiên nơi đây. Trải qua thời gian, Ló Ỳ liền đưa dân đi khai phá và lập thêm các mường mới. Vùng đất đầu tiên do Tạo Ló Ỳ cai quản được gọi là Mường Tôn (Mường chủ, Mường gốc) bao gồm các bản Piếng Chào, bản Đô, bản Giang (Châu Kim), bản Đỏn Cớn (Mường Nọc), bản Pỏi, bản Đỉn Đảnh (Châu Thôn), mường Chơ Le (Tri Lễ). Các mường được lập sau là Mường Quáng, Mường Chừn, Mường Pắn, Mường Puộc, Mường Pha Quèn, Mường Miểng, Mường Chón.

Dưới tài đức cai quản của Tạo Ló Ỳ cuộc sống đã khác xưa nhiều. Nhưng ông trời vẫn thường gây nên thiên tai lũ lụt, bởi vậy, dân các mường đã xin Tạo cho dựng một ngôi đền ở Mường Tôn, lấy chỗ cúng trâu cầu Trời xin mưa thuận, gió hoà, mùa màng no ấm. Tiếng địa phương gọi đền là Tến Xớ Quái (đền Hiến Trâu) nhưng vì có chín gian nên đổi thành Tến Cau Hong (đền Chín Gian).

Từ thế kỷ 18 trở về trước, đền Chín Gian được dựng trên đỉnh Pú Chò Nhàng (cao trên 350 m), phía Tây Bắc Mường Tôn (cách bản Khoẳng- Châu Kim) hơn 2 km.

* Ý nghĩa tâm linh:

Upload

Chín 9 trâu, trong đó có 6 trâu đen và 3 trâu trắng được đặt trước đền Chín Gian

Theo quan niệm về hồn vía và thể xác, một người Thái khi chết được con cháu dâng cúng trâu cho để đem theo hồn trâu về trời. Lời các thầy cúng thầy mo hát kể có nêu: "Con trai dâng cúng trâu sừng mập/ Dâng cho trâu sừng đẹp về Mường Bôn gieo mạ/ Về Mường Then cấy lúa ruộng sâu/ Dâng cho trâu một sẽ thành trâu đàn/ Lúc còn sống buộc dây mây để dắt/ Giờ hãy lấy dây xe bằng sợi chỉ/ Dắt hồn trâu về Mường Then"…

Đêm trước ngày đưa ma, một thầy mo hoặc thầy cúng sẽ hát kể lời hát đưa hồn ma và hồn trâu về Mường Then. Người hát dù là thầy mo hay thầy cúng cũng phải thuộc vào bậc cao tay, nếu không thì linh hồn của thầy mo cũng khó tìm được đường quay trở lại dương trần, sẽ sinh ốm đau bệnh tật… Bởi lúc hát kể, thầy mo mặc nhiên cho linh hồn của mình đưa tiễn hồn người chết và hồn trâu lên Mường Then, qua nhiều cửa ải nơi lành nơi dữ khó bề định liệu. Trong lời hát, thầy mo sẽ phải trang bị cho bản thân những thứ bùa chú để trấn yêu ma theo quan niệm của người Thái, đại loại như: bộ áo của chồn bay, bộ da của nhím rừng, hào quang của rồng, oai linh của hổ v.v… Trên đường đi, hồn người chết dắt hồn trâu đi trước, hồn thầy mo chỉ cầm roi theo sau để giục trâu. Và thầy mo cũng chỉ tiễn hồn đi đến ranh giới phân chia giữa ba mường (mường trời- mường dương gian- mường âm phủ) là thầy mo phải đưa hồn mình trở về.

Các thầy mo của người Thái ở Miền Tây Nghệ An đa số đưa tiễn hồn người chết và hồn trâu theo đường qua núi Pu Quai ở huyện Quế Phong, nơi có Đền Chín Gian. Lời hát đưa tiễn hồn của một thầy cúng khá nổi tiếng đã được ghi chép lại dài hơn 4000 câu, mỗi dịp hát tiễn đưa phải thâu đêm suốt sáng. Tùy theo từng nơi cư trú khác nhau mà nội dung lời hát tả cảnh đường đi của các thầy mo sẽ khác nhau, quãng đường cũng đi qua các địa danh khác nhau. Cho dù ở gần hay ở xa, hồn ma của người chết luôn luôn được thầy mo đưa tiễn về núi Pu Quai. Lời thầy mo hát tả cảnh núi Pu Quai có đoạn như sau: "Đến đây rồi, nhìn lên trời thấy mịt mờ mây đen vần vũ/ Dưới gầm trời nơi đây thiên hạ gọi Pu Quai/ Đường lên Mường Then vẫn còn xa lắm"... Thế nhưng đi thêm một chặng nữa, qua các địa danh (không có trong thực tại) mang tên Lôm Pha Phốc Pha Phàn, Lôm Huông, Lôm Quang… thì đến “tì dạp phạ dạp đẻn phỉ đẻn cốn”- tức là ngã ba phân định giữa mường trời, mường người và mường âm phủ… Như đã nói ở trên, đến đây thì thầy mo không dám đi theo để tiễn hồn ma nữa mà chỉ tả cảnh cho hồn ma biết về chặng đường phải đi tiếp để làm sao lên được đến Mường Then.

* Việc thực hành tâm linh trong lịch sử:

Đoạn trích sau đây được lấy nguyên văn từ một văn bản cổ viết bằng chữ Thái Qùy Châu:

"…Còn 2 huyện Thúy Hà và Quế Phong từ tổ tiên lưu truyền lại là phải thờ Đền Chín Gian. Đền đó là thờ Đức Mẹ ở trời, do đó phải bầu một người làm Chau Hua để trông coi mọi việc trong đền khi thờ cúng. Nhưng ông đó phải chọn các người trong họ Lo Căm (tức Sầm, Cầm) rồi bầu 2 người đàn ông làm phục dịch, sai khiến xem việc trong đền. Ba ông ấy không được mặc quần dài, chỉ mặc áo Thái thân dài đến mắt cá chân, khi không làm Chau Hua nữa mới được phép mặc quần dài. Lúc thờ ở đền thì Chau Hua phải kiêng cữ, mùa hè không được quạt, ngứa ngáy trong người không được gãi; rồi bầu lấy một bà làm Bà Đồng để khi nào thờ đền sẽ mời hương hồn Bà Trời lên đồng với bà ấy. Rồi việc thờ Đền Chín Gian cứ mỗi năm trong phủ thờ một lần. Năm nào cũng đến tháng 8 là kỳ thờ đền. Sắp đến kỳ thờ đền thì Chau Hua thông báo để 9 tổng trong phủ biết, để mọi người dân quyên góp tiền bạc mua trâu. Cứ mỗi tổng một con trâu và 30 thúng gạo và các lễ vật khác như tơ, vải. Tổng nào cũng phải cho đủ lễ để nạp cho Chau Hua. Rồi mỗi tổng cử một ông để đến ngày thờ đến thì đưa trâu chuẩn bị làm lễ của tổng mình đi tắm rửa sạch sẽ, sau đó sẽ dắt về buộc vào cột gỗ đã chôn sẵn theo quy định của Chau Hua cho 9 tổng.

Sau khi giết trâu, trâu được thui và mổ ruột xong rồi lấy nguyên cả thân trâu đến đặt tại gian nhà thờ của tổng mình chứ không để chồng lên nhau. Rồi mỗi tổng có một bà Mo Một để cúng lễ trâu của tổng mình. Mỗi bà Mo Một có một người con gái để phục dịch bà Mo ấy- người ấy không được rời đi đâu khi các bà Mo đang cúng, khi nào xong việc thờ cúng lại phải về nhà ở của Chau Hua.

Rồi trong những ngày thờ đó ai đến phục dịch việc thờ cúng trong đền nếu là đàn ông thì ai cũng phải mặc áo dài Thái như Chau Hua; còn các bà đến phục dịch thì phải mặc "xưa lồm" (áo lễ) dài đến tận đầu gối; ngoài ra ai đến chơi tại đền cũng phải mặc như vậy, nếu không mặc theo như thế thì không được đến nhà thờ ấy, người quán xuyến việc này là Chau Hua, ai không chấp hành thì Chau Hua có quyền bắt phạt.

Trong các ngày thờ Đền Chín Gian thì vợ Chau Hua bắt buộc phải ở trong buồng tại nhà không được đi đâu. Trong nhà Chau Hua gian ngoài được đặt một bếp lửa, ai đến chơi nhà không được giẫm chân vào nền bếp đó.

Xong việc thờ Đền Chín Gian rồi thì về nhà Chau Hua. Lúc ấy tại nhà Chau Hua mới mở vò chum rượu to và cắm vào vò 9 cần để thờ cúng Pò Then.

Tất cả mọi người phục dịch ở trong đền trong các ngày thờ đó cùng đến ngồi xung quanh vò rượu để uống hầu Pò Then. Trong số người đến đó phải có một người biết hát nhuôn, xuối, lăm và hiểu biết các bài trường ca của người Thái; người ấy phải hát được 9 bài và đánh trống khua chiêng được 9 hồi. Nếu ai không biết đánh trống khua chiêng đủ điều thì Chau Hua sẽ phạt uống rượu.

Tất cả những người uống rượu ở đấy phải uống được 9 lần, nếu có say mà nhờ người khác đến cầm cần rượu giúp cũng không được, dù có say cũng phải uống đến 9 lượt mới xong xuôi.

Việc thờ cúng Đền Chín Gian hoàn tất, chín con trâu ấy (vật cúng) thì bà Mo Một tổng nào cúng con nào được biếu đầu con trâu ấy đưa về nhà. Bà Mo ấy đến nhà những người phục dịch làm thịt đầu trâu cho mọi người dân trong bản cùng đến ăn. Rồi thịt con trâu đó được chia làm 3 phần: Chau Hua một phần, các bà Mo một phần, phần còn lại chia cho các tổng các xã, xã chia cho các bản và bản chia cho từng gia đình. Khi nào những người phục dịch ở đền đưa thịt trâu về đến bản thì tất cả bản đó phải kiêng trong 3 ngày: Mờ sáng không được giã gạo và không được đánh trống khua chiêng, qua 3 ngày đó mọi việc mới được trở lại bình thường.

(…) Nên phải ghi chép vào sách này để lưu truyền mai sau.”

Những năm đầu thế kỷ 20 lễ hội lớn được tổ chức hàng năm. Mỗi kỳ lễ hội là một dịp để nhân dân bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên nhưng cũng là dịp để đua tài qua những trò chơi dân gian đặc sắc: vui gì hơn có "tặp xạc", "vít cón" (nhảy sạp, ném còn). Tiếng trống, chiêng tế lễ, tiếng reo hò của đám hội kéo dài hàng mấy ngày liền. Đến năm 1972, do nhiều nguyên nhân đền bị xuống cấp trầm trọng, các hoạt động lễ hội vì thế cũng bị gián đoạn.

Upload

 

Nghi tiết chém trâu tại Lễ hội đền Chín Gian huyện Quế Phong

* Thực hành tâm linh sau phục dựng:

Đền Chín Gian sau chiến tranh chống Mỹ bị tàn phá trơ trụi, hoang tàn. Trước nhu cầu hoạt động văn hoá tâm linh của nhân dân, cuối năm 2003, UBND huyện Quế Phong đã quyết định khởi công xây dựng tôn tạo đền Chín Gian. Năm 2005, một cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức nhằm đánh giá tôn vinh đền thờ thiêng liêng, tín ngưỡng của dân tộc Thái. Được sự hỗ trợ của Uỷ ban Dân tộc Trung ương, Sở Văn hoá Nghệ An, huyện Quế Phong tổ chức phục chế nguyên trạng đền trên nền đất cũ. Từ ngày 14- 16/ 6/ 2006, Lễ hội Đền Chín Gian được tổ chức lại sau mấy chục năm mong ngóng của bà con. Người Thái ở miền Tây Nghệ An đã có nơi hội tụ linh thiêng và lễ hội Đền Chín Gian hàng năm trở thành lễ hội văn hoá dân tộc của cả vùng. Từ bấy đến nay, Lễ hội Đền Chín Gian đều đặn được tổ chức định kỳ hàng năm, thời gian từ 14- 16/ 2 âm lịch.

Trên nền ngôi đền cũ, một ngôi đền mới mang đậm dáng nét ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái đã dựng lên khang trang giữa đỉnh Pu Pỏm khoáng đạt. Toàn bộ cấu trúc đền với cầu thang lên xuống, hoa văn dọc các lan can đều gợi cho đồng bào cảm giác thân thuộc và gần gũi. Trước sân, hướng vào mặt chính đền là chín con trâu trắng (Quái Hảo) đắp bằng xi măng nằm phủ phục. Nội thất đền đều làm bằng các vật liệu hiện đại nhưng vẫn giữ nguyên cách bài trí chính của nhà sàn. Các bàn thờ, đồ tế giản đơn nhưng trang trọng. Có hai câu đối bằng chữ Thái cổ Qùy Châu được treo trang trọng trước gian thờ chính (của Mường Tôn) với nội dung nhắc nhở con cháu hãy ghi nhớ công lao lập bản dựng mường của các bậc tổ tiên. Trước mặt đền là cánh đồng của xã Châu Kim rộng mênh mông với dòng Nậm Giải uốn quanh từ chân đỉnh Pú Chờ Nhàng. Đền tựa lưng vào núi Tèn Cắng, sau nữa là dãy núi Nộc Yêng mênh mông, sừng sững xa mờ.

Thường mỗi kỳ lễ hội, lễ vật không thể thiếu đó là con trâu mộng chưa dùng trong cày kéo, không có khiếm khuyết trên cơ thể. Ngoài ra, mỗi mường có thêm 9 con lợn con, 90 con gà nhỏ và 90 gắp cá sông nướng. Nay, để phù hợp, không nhất thiết phải đủ lễ vật như xưa, nhưng vẫn đảm bảo tất cả những chi tiết dù nhỏ nhất phục vụ trong lễ hội.

Như trước đây thì cứ đến ngày định trước, Tạo mường tập hợp các bô lão, chức dịch và trai tráng trong chín mường rước lễ, gồm cá, gà, lợn, rượu, trâu. Đoàn rước do Tạo mường dẫn đầu, đến các bô lão chức dịch, lễ vật, tiếp đó là ông ạp (ông tắm trâu), bà mo mường, các xảo lực mỏ (người con gái đẹp) và cuối cùng là đoàn người tham dự lễ hội của mường. Ngày nay, việc tập hợp có thể do đại diện của các vị bô lão hoặc người uy tín trong mường; còn chức dịch thay bằng đại diện các hội đoàn thể… Đoàn người nối nhau, uốn quanh qua các bản, các làng, qua khe, qua suối, tất thảy đều hướng về đền. Tới nơi, các mường chia nhau đưa lễ vật vào gian dành cho mường mình, ở đó đã có sẵn 9 mâm tre, 9 sạp nứa, 3 mâm gỗ (riêng Mường Tôn là 5 mâm gỗ). Các sạp được kê thành 4 tầng. Chính giữa mỗi gian đặt 1 chum rượu cần với 9 cần trúc cắm sẵn.

Quan niệm của đồng bào Thái cho rằng, đường về mường Phạ (mường Trời) nơi ở của vua Trời và Tạo Ló Ỳ có nhiều cửa ải, qua mỗi cửa ải phải cúng một thứ lễ vật cho vị thần giữ cửa. Bởi vậy, ngày thứ nhất người ta chỉ cúng bằng cá, gà và lợn. Ngày thứ 2 mới làm lễ "Hắp Quái" (lễ nộp trâu) trước khi giết trâu.

Tại lễ này, bà mo chủ dẫn Tạo mường, ông ạp và các cụ già cầm đuốc đi quanh con trâu của mường 3 vòng tỏ ý đồng lòng dâng trâu. Tiếp đó, ông ạp đưa trâu xuống tắm tại bến sông Tà Tạo với 9 lần khoát nước tượng trưng và dắt trâu theo hướng khác lên đền. Sau khi trâu được buộc vào lắc quái (cây cột buộc trâu), trước mỗi cột này đều có một cây đa của mỗi mường, ông ạp vung dao chém vào cổ trâu tượng trưng. Thịt trâu khi xẻ xong được đặt lên bậc sạp cao nhất của nơi để lễ vật. Bà mo tiếp tục làm lễ "Hắp Quái" đến hết ngày thứ 3 mới xong. Lễ xong, thịt được đem chế biến tại chỗ và chia đều cho mọi người cùng thưởng thức.

Thời gian gần đây, trong phần lễ có quá nhiều đại diện của chính quyền các cấp và khách quý được mời- thường đại diện lãnh đạo các ban ngành trong huyện và cả ở cấp tỉnh. Lượng khách mời đến quá đông khiến trong thời gian lễ chính, đồng bào địa phương và đồng bào Thái nói chung, rất khó chen chân vào để tham gia. Tình trạng như thế cần được hạn chế, hoặc có thể dành riêng ra một buổi (trước lễ chính 1 ngày chẳng hạn) để các vị khách quý đến thực hành tâm linh một cách thoải mái và kính cẩn.

Phần lễ trang trọng kết thúc, bắt đầu cho những hoạt động náo nhiệt, vui tươi của phần hội. Cuộc thi bắn nỏ với mỗi mường 9 chàng trai đua tài. Các cuộc thi khác như kéo co, vật dân tộc, nhảy sạp, múa vòng, ném còn cũng thu hút đông đảo các chàng trai cô gái tham gia. Nhưng được chú ý hơn cả vẫn là những lời hát diễn xướng tình tứ qua các hình thức xuối, lăm, nhuôn. Những lời hát này ngoài chúc tạo mường sống lâu, chúc 9 bản mười mường yên vui, hạnh phúc còn là lời hát giao duyên, tìm bạn. Hoạt động này không chỉ quanh khu vực đền mà còn lan đến các bản lân cận và kéo dài đến tận mấy ngày sau./.

(Bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau)

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Đất và người xứ Nghệ khác:
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
Đền Chín Gian với thực hành tâm linh của người Thái Nghệ An (11/4/2018)
Phan Kính - Người học trò xuất sắc và thành đạt của đất Lam Hồng (2/3/2018)
Mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc (31/1/2018)
Nhạc sĩ Vy Phong với dân ca Nghệ Tĩnh (giai đoạn 1975 - 2000) (19/12/2017)
Đại thi hào Nguyễn Du là hậu duệ Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (19/12/2017)
Nhân vật khoa bảng qua tư liệu địa phương chí Hán Nôm của tỉnh Nghệ An (4/12/2017)
Hiệu buôn Yên Xuân và những người con tiêu biểu của xã Linh Sơn (7/11/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,441 | Tất cả: 1,301,617
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn