ĐIỀU TRA XÃ HỘI
Về đề xuất đưa tác phẩm “Chí Phèo” ra khỏi chương trình Ngữ văn 11?
Tin đăng ngày: 5/4/2018 - Xem: 112
 

 Nguyễn Văn Toàn

Truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao (1917-1951) là một trong những tác phẩm văn học hiện thực xuất sắc trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Tác phẩm đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 11 từ khá lâu. Tuy nhiên, vào ngày 5-12-2017, trên báo Vietnamnet (cơ quan chủ quản là Bộ Thông tin và Truyền thông) lại có bài “Nên đưa tác phẩm “Chí Phèo” ra khỏi chương trình Ngữ văn 11?” của tác giả Nguyễn Sóng Hiền, hiện là nghiên cứu sinh Trường ĐH Newcastle (Australia).

Tác giả Nguyễn Sóng Hiền “đứng trên góc độ giáo dục” đặt ra 3 câu hỏi: “Chí Phèo đại diện cho ai?”, “Chí là người tốt hay xấu?”, “Chí đáng thương hay đáng lên án?” và tự lần lượt trả lời rằng: “Chí đơn giản chỉ là một đứa trẻ không được giáo dục, và không thể là đại diện hay điển hình cho một tầng lớp nào trong xã hội”, “Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu”, “Chí đã giết người trong lúc say, đó là hành vi không phải của một con người. Cho dù ở bất kỳ xã hội nào, những hành động đó đều đáng bị lên án và cách ly ra khỏi đời sống xã hội”.

Cá nhân tôi cho rằng quan điểm của tác giả Nguyễn Sóng Hiền về truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao như đã nêu ở trên là xuất phát từ quan điểm xã hội học dung tục. Tác giả không thấy được cái ẩn ý của tác giả Nam Cao thông qua nhân vật Chí Phèo để bộc lộ hiện thực xã hội đương thời.

Upload

Tác phẩm điện ảnh cùng tên "Chí Phèo"

1. Về hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn “Chí Phèo”. Truyện ngắn này được nhà văn Nam Cao viết và cho xuất bản năm 1941.

Lúc đó đã gần 80 năm nước ta bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột khiến “hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa”[1]. Trong “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ sự bóc lột tàn ác của bọn thực dân Pháp: “Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng”. Điều này cũng được biết qua hàng loạt tác phẩm văn học, mà tiêu biểu là “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố.

Đây là năm thứ hai của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945).  Ở nước Pháp, bọn tư bản ngóc đầu dậy, lật đổ chính phủ của Mặt trận Bình dân Pháp (nòng cốt là Đảng cộng sản Pháp) khiến phong trào dân chủ 1936-1939  ở nước ta bị đàn áp. Sau đó, thực dân Pháp liền “phát xít hóa” bộ máy thống trị ở nước ta, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, chĩa mũi nhọn vào Ðảng Cộng sản Đông Dương. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp lên tới cực điểm.

Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Ngày 23-9-1940 phát xít Nhật vào Đông Dương, nhân dân ta bị “một cổ đôi tròng” dưới ách tàn bạo Pháp – Nhật, chẳng khác nào “kiếp ngựa trâu”[2]. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn”.

Ngày 22-11-1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ở 20/21 tỉnh, thành phố ở Nam Kỳ, kéo dài từ đêm 22 rạng sáng 23-11 đến ngày 31-12-1940. Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch và làm chủ các trụ sở. Ở Vĩnh Long, chính quyền cách mạng cấp quận đã được thành lập tại Vũng Liêm. Ở Mỹ Tho, chính quyền cách mạng ở vùng khởi nghĩa tồn tại trong 40 ngày; một nơi khác, nhân dân lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu thóc gạo của kẻ thù chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân. Trong bão táp cách mạng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu được giương cao.

Nếu vào thời kỳ đầu, Nam Cao (tên thật là Trần Hữu Tri) vẫn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn nhưng đứng trước hiện thực xã hội như thế ông lập tức thay đổi suy nghĩ. Và thế là truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời vào năm 1941.

Sau đó, khi viết “Sống mòn” (1944), Nam Cao cho rằng: “Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”. Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”.

Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc. Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: “Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn”.

  1. Về ba quan điểm của tác giả Nguyễn Sóng Hiền, tác giả lại cho rằng:

Một là, “Chí Phèo” là đại diện điển hình cho người nông dân nước ta trước Cách mạng Tháng Tám chứ “không thể là đại diện hay điển hình cho một tầng lớp nào trong xã hội”.

 Chí đi “ở cho nhà này nhà nọ” tức là làm đầy tớ cho nhà giàu, cho địa chủ rồi năm hai mươi tuổi “làm canh điền cho ông lý Kiến”, tức là đã nha nhập vào giai cấp nông dân. Và Chí lại là “anh canh điền khoẻ mạnh”.

Nhưng vì bị lý Kiến vu oan là lấy lúa thóc (thực ra là vì ghen) nên Chí bị giải lên huyện rồi bị đi tù. Bảy tám năm sau, khi ra tù, đến nhà Bá Kiến (tức lý Kiến ngày xưa), Chí nói: “bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn”, chỉ xin được “đi tù” thì được Bá Kiến “nói khéo” là nếu đòi được 50 đồng từ đội Tảo thì sẽ cho Chí hết đề Chí làm ăn.

Sau khi đòi được tiền, Bá Kiến “đưa luôn cho anh đầy tớ chân tay mới luôn năm đồng” rồi nói “bán cho anh mảnh vườn; không có vườn đất thì làm ăn gì?”. Và “Chí Phèo “vâng dạ” ra về. Mấy hôm sau, cụ bá bảo lý Cường cho hắn năm sào vườn ở bãi sông cắm thuế của một người làng hôm nọ. Chí Phèo bỗng thành ra có nhà”.

Như vậy, Chí dù bị tha hóa đến mức nào cũng chỉ là một người nông dân. Và đã là người nông dân thì ước mơ của họ là có nhà, có vườn. Chí muốn vậy và Bá Kiến, một tay địa chủ cũng biết rõ như vậy. Bởi vậy, hắn đã “ăn chặn” của Chí 45 đồng để đổi lấy “năm sào vườn ở bãi sông cắm thuế của một người làng” và chỉ cho Chí có 5 đồng để uống rượu.

Đọc đến đây, ta thấy tội nghiệp cho Chí và người nông dân nói chung trước Cách mạng Tháng Tám. Vì họ, người nông dân, dù có là bần cố nông, là “lưu manh hóa” cũng bị giai cấp địa chủ lợi dụng bằng cách này cách khác.

Hai là, “Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu”, có đúng không? Đọc truyện “Chí Phèo”, ta thấy Chí Phèo chỉ biết rạch mặt ăn vạ chứ không như Năm Thọ, binh Chức.

Năm Thọ “vốn là một thằng đầu bò đầu bướu”, từng kình nhau với lý Kiến và bị can tội vào một vụ cướp nên bị bắt. Sau Năm Thọ bị lý Kiến vận động cho đi tù. Trốn tù, hắn vác dao dọa giết lý Kiến. Lý Kiến phải đưa một trăm đồng bạc và thẻ mang tên một người lương thiện cho hắn trốn đi.

Chí cũng không như binh Chức tuy như “cục đất”, “Ai bảo sao thì ư hữ làm vậy, mới quát một tiếng, thì đã đái ra cả quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ chứ chẳng dám ho hoe gì”, “đứa nào xoay cũng chịu” nhưng sau khi đi lính cho thực dân Pháp lại can tội “giết người”, trốn về làng, vác dao đến nhà Bá Kiến đòi tiền và sau làm tay sai cho Bá Kiến.

Còn Chí Phèo là “một thằng hiền lành như đất”. Nhưng sau khi ra tù như “thằng sắng cá”, “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông thày tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. Nhưng Chí Phèo tới nhà Bá Kiến chỉ biết rạch mặt ăn vạ, kêu làng kêu nước.

Chí Phèo vì sao bị tha hóa? Đó là do ngục tù thực dân phong kiến. Nó khiến Chí “bao giờ cũng say. Nhưng cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận”.

Trong “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: thực dân Pháp đã “rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược”. Như vậy, chính rượu là tác nhân khiến Chí Phèo bị tha hóa. Và rượu chính là do thực dân phong kiến sử dụng để thực thi chính sách ngu dân.

Nam Cao sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Cha ông là Trần Hữu Huệ (1890-1967) thợ mộc, làm thuốc, mẹ là Trần Thị Minh, làm vườn, làm ruộng, dệt vải. Bởi vậy, Nam Cao đã khắc họa Chí Phèo rất rõ nét. Sau này, trong “Đôi Mắt”, qua nhân vật Độ, Nam Cao thú nhận mình rất gần gũi với nông dân: “Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương”.

Tác giả Nguyễn Sóng Hiền cho rằng Chí Phèo là xấu vì “Chí uống rượu say rồi cưỡng bức Thị Nở”.

Nhưng Thị Nở là “một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn” cơ mà?

Nhưng vì sao Chí Phèo, “anh canh điền khoẻ mạnh” vừa bóp chân bà ba của lý Kiến (một người đàn bà còn trẻ, người “phốp pháp”, má “hây hây”) lại “run run” nhưng Chí Phèo lại thích được gần gũi với một người đàn bà như Thị Nở?

Đó là tại vì bà ba của lý Kiến trong mắt Chí chỉ là “cái con quỷ cái”, “chỉ nghĩ đến sao cho thỏa nó chứ có yêu hắn đâu”. Việc đó Chí “chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì”.

Còn Thị Nở? Vì Thị Nở “không sợ cái thằng mà cả làng sợ hắn” như “Có lần trong lúc Chí Phèo ngủ, thị lại vào cả nhà hắn để rọi nhờ lửa nữa, có lần thị xin của hắn một ít rượu về để bóp chân; hắn mải ngủ càu nhàu bảo thị rằng: ở xó nhà ấy, muốn rót bao nhiêu thì rót, để yên cho hắn ngủ. Và lắm lúc thị ngạc nhiên: sao người ta ghê hắn thế?”.

Khi Chí Phèo quan hệ với Thị Nở thì “Thị Nở bỗng nhiên bật cười. Thị Nở vừa rủa vừa đập tay lên lưng hắn. Nhưng cái đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giúi lưng hắn xuống.... Và chúng cười với nhau...”.

Sau khi quan hệ với Thị Nở, Chí Phèo lại nghĩ: “Không, hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả. Vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều”. Vì “Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải doạ nạt hay là giật cướp. Hắn phải làm gì cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng”.

Và Chí Phèo và Thị Nở đã yêu nhau: “Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe toét cười. Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên”, “Và hắn say thị lắm”.

Và :“Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người? Ðó là cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi”.

Sau đó, Chí Phèo và Thị Nở còn chung sống như vợ chồng trong sáu ngày: “Thị phát khẽ hắn một cái, làm cái vẻ không ưa đùa. Sao mà e lệ thế. Xấu mà e lệ thì cũng đáng yêu. Hắn cười ngất, và muốn làm thị thẹn thùng hơn nữa, hắn véo thị một cái thật đau vào đùi. Lần này thì không những thị nẩy người. Thị kêu lên choe choé. Thị nắm cổ hắn mà giúi xuống. Chúng tỏ tình với nhau… Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi. Chúng cũng nhận thấy thế, và nhất định lấy nhau”.

Sự quan hệ nam nữ của Chí Phèo và Thị Nở sau cái đêm ở vườn chuối không phải là một sự cưỡng bức từ một phía. Nó xuất phát từ nhu cầu bản năng từ cả hai phía khác giới. Chí Phèo và Thị Nở sống cô đơn, lẻ loi, không ai đoái hoài đến họ, không ai tán tỉnh họ. Họ sống trong cõi người nhưng không được tình yêu thương của con người. Họ đến với nhau đó chính là một sự hợp lý. Nếu không có chuyện Thị Nở ra bờ sông tắm rồi nằm ngủ têng hênh trong vườn chuối của Chí Phèo và Chí Phèo thèm khát thị thì sẽ không có một mối tình Chí Phèo và Thị Nở. Thị Nở cảm thấy: “Thị thấy như yêu hắn: đó là một cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn. Một người như thị Nở càng không thể quên được”.

Cái tài của Nam Cao là đã miêu tả tình yêu nam nữ giữa Chí Phèo và Thị Nở một cách rất hợp tình hợp lý. Hợp lý vì Chí Phèo “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Một cái ước mơ vô cùng giản dị mà trước khi bị đi tù thì Chí Phèo thường mơ đến!

Ba là, Chí Phèo giết Bá Kiến là đáng lên án?

Bá Kiến- kẻ bị Chí Phèo giết là ai?

Bá Kiến là lý trưởng, chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Ðại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc kỳ nhân dân đại biểu, “khét tiếng đến cả trong hàng huyện”.

Bá Kiến là kẻ đè đầu cưỡi cổ người nông dân mà ăn. Như Nam Cao viết: “Ở cái làng này, dân quá hai nghìn, xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn”.

Bá Kiến là kẻ “biết thu phục những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù” để “Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là có thể sai nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình”. Bởi “Có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế. Thuế một năm có một lần nếu chỉ trông vào đấy thì bán cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba, bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng”.

Bá Kiến là kẻ “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”!”.

Nam Cao xây dựng nhân vật này dựa trên cảm hứng từ nhân vật Tào Tháo trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung (Trung Quốc). Trong truyện Bá Kiến hay có “cái cười Tào Tháo”.

Theo Báo Điện tử Chính phủ thì: “Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp. Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất. Trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê, cấy rẽ”[3].

Còn nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong bài thơ “Đất nước” đã viết về bọn thực dân và tay sai :

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da...”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác. Làm việc Chính, là người Thiện. Làm việc Tà, là người Ác. Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”.

Như vậy, những kẻ như Bá Kiến nếu không bị trừng trị thì còn gì là công lý? Nam Cao đã dùng Chí Phèo giết Bá Kiến để nói hộ tiếng nói của lòng mình. Đó là, cần phải lật đổ cái chế độ thực dân phong kiến thối nát đến tận cùng này. Và đã có những điều làm cho Nam Cao suy nghĩ. Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 đã nổ ra. Lá cờ đỏ sao vàng đã bay phất phới. Thực dân phong kiến địa chủ đã từng bị trừng trị, đã bị một phen khiến vía cơ mà! Do đó trong “Chí Phèo”, tên địa chủ, tên tay sai cho thực dân Pháp, tên mọt dân hại nước như Bá Kiến đã bị người nông dân bị đẩy vào đường cùng, không lối thoát như Chí Phèo trừng trị đích đáng!

Do đó, tháng 4-1943, chỉ sau 2 năm viết “Chí Phèo”, theo lời kêu gọi của Đảng, nhà văn Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc.

Năm 1945, trong Cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã.

Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư ký tòa soạn báo “Cứu quốc” ở Việt Bắc. Tại chiến khu, năm 1948 Nam Cao gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.

Nam Cao nêu quyết tâm: “sống đã rồi hãy viết”. “Sống” là cầm súng chiến đấu với kẻ thù, sẵn sàng làm anh “tuyên truyền viên nhãi nhép” đem ngòi bút phục vụ công nông binh. Ông vui vẻ nhận ra “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”.

Cũng sau Cách mạng tháng Tám, thông qua nhân vật Độ trong “Đôi mắt”, Nam Cao đã có cái nhìn hoàn toàn khác về người nông dân. Ông nhận ra người nông dân “răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn” nhưng “lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm”.

Như vậy, từ “Chí Phèo” (1941) đến “Sống mòn” (1944) và đến “Đôi mắt” (1948) đã làm nên một nhà văn Nam Cao tài danh trên văn đàn nước Việt! Người nông dân trong ông, cũng như ông, đã thực sự giác ngộ cách mạng, góp phần cùng toàn dân tộc làm nên những chiến công hiển hách cho cách mạng!

Và nhà văn Nam Cao cũng đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, Nghệ thuật (đợt 1, 1996) cho các tác phẩm: “Nhật ký ở rừng”, “Đôi mắt” (truyện ngắn), “Sống mòn” (tiểu thuyết), “Truyện ngắn chọn lọc” (xuất bản năm 1964), “Chí Phèo” (truyện ngắn), “Nửa đêm” (truyện ngắn).

 

  

 Chú thích

 [1] Trích: “Đường Kách Mệnh” (1927) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

[2] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 của Đảng (tháng 5-1941).

[3] Xem: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/kinhtexahoi

Điều tra xã hội khác:
Khái niệm truyện cổ tích thần kỳ (13/4/2018)
Đôi điều cảm nhận về Thơ xuân Việt Nam thời trung đại (2/3/2018)
Hiện tượng lạm dụng ngôn ngữ ngoại lai trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay (4/12/2017)
Đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (5/10/2017)
Xuân Diệu - Nhà thơ của thân phận con người (7/9/2017)
Nghỉ hè đối với học sinh phổ thông (3/7/2017)
Nhà thơ Xuân Diệu nói về giảng văn (23/5/2017)
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐÔNG NAI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VÀ PHONG TRÀO TÌNH NGUYỆN CỦA SINH VIÊN (31/3/2017)
VẺ ĐẸP CÂU ĐỐI TẾT CỦA NỮ SĨ HỒ XUÂN HƯƠNG (24/1/2017)
Tên một số nhân vật trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) cần phải được viết đúng (30/12/2016)
TÌM NÉT MỚI TỪ 9 GƯƠNG MẶT THÂN QUEN (Đọc “Hé gương cho người đọc” - Đỗ Lai Thúy) (13/12/2016)
TIẾNG VIỆT HÔM NAY - SỰ TRONG SÁNG VÀ VẤN ĐỀ CHUẨN HÓA (29/11/2016)
BÀN THÊM VỀ VIỆC TỔ CHỨC KỲ THI QUỐC GIA THPT (29/11/2016)
DẤU ẤN CÁ NHÂN, XỨ SỞ VÀ THỜI ĐẠI TRONG THƠ VĂN NGUYỄN XUÂN ÔN (30/8/2016)
NỀN TẢNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ THANH ĐIỆU TIẾNG THÁI (26/7/2016)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,128 | Tất cả: 1,418,982
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp