DIỄN ĐÀN
Thực hiện quy định của hiến pháp về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Tin đăng ngày: 27/3/2018 - Xem: 528
 

 

Th.S Nguyễn Văn Đổng

 Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, một nhà nước mà ở đó, quyền con người không chỉ được tôn trọng trong các tuyên bố chính trị hay ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo đảm trên thực tế thông qua nhiều cơ chế khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS). Mặc dù, TTHS là lĩnh vực không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…, nhưng có thể thấy, quyền con người trong TTHS dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất, hậu quả để lại cũng thường là nghiêm trọng nhất, bởi nó động chạm trực tiếp đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của mỗi cá nhân. Bởi vậy, thực hiện quyền hiến định trong TTHS là một trong những cơ chế hữu hiệu để bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong điều kiện xây dựng và vận hành Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay. Bài viết này sẽ đề cập, phân tích quy định về quyền con người và việc bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2013; khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền con người, từ đó đưa ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và tăng cường bảo vệ quyền con người trong thực tiên đời sống pháp luật.

Upload

  1. Quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và vấn đề bảo đảm quyền con người

Tiếp thu tinh thần về quyền con người của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện thông qua quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một số quyền mới là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm bổ sung quan trọng về quyền con người trong chương II, là một bước tiến đáng kể về tư duy nhà nước pháp quyền và thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định quyền sống; quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghiên cứu và thụ hưởng các kết quả khoa học; quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành,…. Hiến pháp năm 2013 cũng đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đó là “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (khoản 2, Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.

Hiến pháp năm 2013 khẳng định mạnh mẽ mọi công dân Việt Nam đều  có quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; được nhà nước bảo hộ, không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai và được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình. Đó chính là những quyền con người cơ bản trong lĩnh vực tố tụng hình sự được ghi nhận và đảm bảo bằng các quy định của Hiến pháp.

Hiến pháp năm 2013 còn có một điểm rất mới là đã không còn các quy định theo cách thức được Nhà nước thừa nhận các quyền con người, mà quyền con người ở đây đã có sự phân biệt khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân. Theo đó quyền con người được hiểu là quyền tự nhiên vốn có của con người từ khi sinh ra; còn quyền công dân trước hết cũng là quyền con người nhưng việc thực hiện nó gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà nước bảo đảm đối với công dân của nước mình và “nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước” (Điều 6) và Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo cũng như phải bảo vệ cho những quyền đó được thực hiện trên thực tế. Đáng chú ý trong Hiến pháp 2013 cũng đã có sự thể hiện rõ sự thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, quyền nào là nhóm quyền được áp dụng đối với mọi cá nhân với tư cách là quyền con người, quyền nào là nhóm quyền chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam với tư cách là các quyền công dân. Quyền con người cũng là quyền công dân, nhưng phải có một sự phân định rạch ròi, những thứ mà mọi người được hưởng thì đó là nhân quyền (quyền con người); những gì công dân được hưởng thì đó là quyền công dân và mục đích cuối cùng của Hiến pháp là được sinh ra để đảm bảo quyền con người, quyền công dân.

Như vậy, về cơ bản Hiến pháp năm 2013 đã tiếp thu quy định của Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa. Sự tiếp thu này là phù hợp với thời kỳ toàn cầu hóa và để những quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp được đầy đủ hơn. Đây cũng là điều kiện để Việt Nam thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liên Hợp quốc trong nhiệm kỳ 2014 - 2016.

Với tinh thần đó, hoàn toàn có thể khẳng định, Hiến pháp năm 2013 đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy định rõ ràng, đúng đắn và đầy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đặc biệt, việc Hiến pháp năm 2013 quy định rõ nét về quyền con người trong lĩnh vực TTHS đã tạo nền tảng pháp lý cao nhất để bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực này được hiện thực hóa đầy đủ bởi các quy định của pháp luật TTHS nói chung và BLTTHS nói riêng.

  1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đảm bảo quyền con người

2.1. Các quyền con người cơ bản cần được bảo đảm trong tố tụng hình sự

Trong lĩnh vực TTHS, khi quyền lực cưỡng chế của nhà nước bị lạm dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao. Có nhiều quyền con người có thể bị tác động trong lĩnh vực này, tuy nhiên trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập đến những quyền bị tác động tương đối phổ biến nhất, đó là các quyền sau đây:

Thứ nhất, quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện: Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”. Sau đó, được cụ thể hóa hơn tại Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR). Tiếp thu tinh thần đó, luật TTHS Việt Nam có sự quy định rõ ràng về các biện pháp ngăn chặn để hạn chế tới mức thấp nhất sự tùy tiện trong việc bắt, giam giữ người. Điều 10 và Điều 11 BLTTHS năm 2015 quy định rõ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người” và “Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác”.

Thứ hai, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục. Cũng với tinh thần ghi nhận giá trị chuẩn mực pháp luật quốc tế, Điều 10, 11 và 13 của BLTTHS năm 2015 quy định đảm bảo về mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục. Như vậy, quyền này có thể bị vi phạm ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng trong TTHS là rõ nét nhất, đặc biệt là tại giai đoạn điều tra khi việc truy bức, dùng nhục hình người bị nghi ngờ phạm tội có thể được sử dụng như là cách nhanh nhất để lấy lời khai người bị buộc tội,… và vì vậy, BLTTHS đã quy định bằng những điều luật cụ thể để ngăn chặn sự xâm phạm quyền cơ bản này của con người.

Thứ ba, quyền được xét xử công bằng, nhanh chóng, không bị trì hoãn: Quyền này được đề cập tại Điều 10 UDHR - quyền được xét xử công bằng và công khai và tại điểm c khoản 3 Điều 14 ICCPR - Người bị buộc tội được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý. Thừa nhận quyền cơ bản này, Điều 25 BLTTHS năm 2015 quy định: Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng. Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.

2.2. Chủ thể được bảo đảm thực hiện quyền hiến định trong tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự xét cho cùng là quá trình giải quyết trên cơ sở pháp luật các xung đột giữa một bên là nhà nước với một bên là người bị cho đã thực hiện một hành vi tội phạm. Tuy nhiên, tham gia tố tụng hình sự còn có nhiều chủ thể khác nhau, bởi vậy, thực hiện các quy định của Hiến pháp về quyền con người trong tố tụng hình sự cần áp dụng đối với các chủ thể sau đây:

Thứ nhất, bảo vệ quyền con người của bên bị buộc tội: Trong TTHS, bên bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Bảo vệ quyền của những người này được thể hiện bằng việc quy định các quyền của người bị buộc tội, và tương ứng với nó là nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2105, quyền con người của người bị buộc tội được thể hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc khá đồ sộ và được cụ thể hóa trong các chế định về chứng minh, chứng cứ, các biện pháp ngăn chặn, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng; trong các quy định về xét xử của Tòa án và vấn đề minh oan cho người bị oan,…

Về quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) nước ta quy định khá đầy đủ các quyền của người bị buộc tội như: quyền được biết mình bị buộc tội về tội gì; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình; quyền được chứng minh sự vô tội của mình bằng việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; quyền được khiếu nại các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền được tham gia phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa; quyền không bị xét xử một cách quá chậm trễ thể hiện các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố vụ án, thời hạn điều tra, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử,… Chẳng hạn, hết thời hạn tạm giữ nếu cơ quan điều tra không có căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ; nếu hết thời hạn điều tra không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả lại cho họ trạng thái bình thường của người vô tội và xin lỗi công khai, bồi thường nhà nước,… (Điều 58, 59, 60, 61 BLTTHS năm 2015).

Bên cạnh đó, theo quy định của Hiến pháp, khi một người bị buộc tội thì họ phải được xét xử tại Tòa án một cách độc lập, công khai và công bằng. Cụ thể hóa nguyên tắc này, Bộ luật TTHS nước ta có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Tòa án, trong đó ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc xét xử, đồng thời quy định các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử. Đó là việc quy định cụ thể thời hạn xét xử cho từng loại tội cụ thể; quy định quyền của bị cáo trước tòa (tự mình bào chữa, nhờ người bào chữa, tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội); quy định quyền kháng cáo và nguyên tắc hai cấp xét xử (xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm). Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng, đúng trình tự thủ tục cho người bị buộc tội.

Đặc biệt, khi bàn đến quyền con người trong TTHS, không thể bỏ qua đối tượng đặc thù, đó là người bị buộc tội là người chưa thành niên. Mặc dù về nguyên tắc, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước tòa án và bảo đảm quyền được xét xử công bằng, tuy nhiên, đối với những người có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau thì không thể quy định giống nhau một cách cứng nhắc. Theo đó, Bộ luật TTHS Việt Nam đã giành cho người chưa thành niên bị buộc tội một thủ tục TTHS riêng. Đó là những quy định hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm giữ, tạm giam; quy định việc có mặt của người đại diện trong quá trình TTHS; quy định thành phần Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân là cán bộ đoàn thanh niên, giáo viên,…

Ở một góc độ khác, bảo vệ quyền của người bị buộc tội còn được thực hiện thông qua việc quy định nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Khi thực hiện quyền năng của Nhà nước trong tố tụng hình sự, để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn, trong đó có thể hạn chế một số quyền tự do của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, sự hạn chế tự do của người bị buộc tội phải đảm bảo nguyên tắc, tránh lạm quyền dẫn tới vi phạm quyền con người. Pháp luật TTHS Việt Nam quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú,… cũng như các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự khác như khám người, khám chỗ ở, v.v.. Tất cả các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự trên đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Xu hướng phát triển chung của TTHS là hạn chế ở mức thấp nhất việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, đồng thời mở rộng các biện pháp khác “mềm” hơn như bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú,… Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế trong TTHS đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của người bị buộc tội. Ngoài ra pháp luật còn quy định về chế tài để xử lý những hành vi bắt tạm giữ, tạm giam quá mức cần thiết hoặc trái pháp luật của những người tiến hành tố tụng.

Thứ hai, bảo vệ quyền con người của người bị hại.

Trong TTHS, nạn nhân của tội phạm tham gia tố tụng với tư cách người bị hại không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ. Ở phương diện quyền con người nói chung, người bị hại đã bị tội phạm xâm phạm bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản cũng như các quyền lợi ích hợp pháp khác. Trong TTHS, quyền của người bị hại biểu hiện ở chỗ được yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền con người của mình. Đó là: quyền được đưa ra các yêu cầu đối với cơ quan tiến hành tố tụng; quyền được đưa ra các tài liệu, đồ vật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền được tham gia, giám sát các hoạt động TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền được khiếu nại, kháng cáo các quyết định, bản án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Đặc biệt, người bị hại có quyền được bảo vệ an toàn trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, thông tin cá nhân, bí mật đời tư,… Chẳng hạn như trong các tội xâm phạm tình dục (Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm trẻ em),… Bộ luật TTHS quy định phải xử kín.

Thứ ba, bảo vệ quyền con người của người làm chứng.

Đối với bất cứ quốc gia nào, sự tham gia TTHS của người làm chứng cũng đều được đánh giá cao trong việc góp phần phát hiện tội phạm. Thậm chí có lúc, có nơi người ta coi lời khai của người làm chứng như một loại chứng cứ có giá trị nhất. Chính vì vậy, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi khác của người làm chứng để họ thực hiện tốt vai trò làm chứng của mình là yêu cầu mang tính bắt buộc. Bộ luật TTHS năm 2015 đã có những bước tiến dài, đồng thời đảm bảo tính khoa học, trong việc bảo vệ người làm chứng như: quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng (Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015). Thực tế cho thấy, làm chứng trong vụ án hình sự là nghĩa vụ hết sức nặng nề đối với người làm chứng. Bên cạnh việc phải khai trung thực các tình tiết của vụ án, người làm chứng và gia đình họ phải đối mặt với những đe dọa nguy hiểm từ phía tội phạm và những người liên quan đến tội phạm. Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người của người làm chứng là nghĩa vụ của nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo cho quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được chính xác và toàn diện.

  1. Một số vấn đề về thực trạng đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự

Từ những quy định trong Hiến pháp và BLTTHS, quyền con người trong TTHS ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong thời gian qua, hoạt động TTHS nói chung, xét xử nói riêng còn bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc làm giảm hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS. Trong đó nổi lên một số vấn đề sau:

Một là, sự độc lập của Tòa án còn hạn chế. Theo quy định của pháp luật, chức năng xét xử thuộc duy nhất về Tòa án. Tuy nhiên, sự xét xử đó có được độc lập không lại là vấn đề khác. Độc lập xét xử nghĩa là Tòa án sẽ quyết định những vấn đề của vụ án phù hợp với sự đánh giá khách quan của mình và sự hiểu biết của mình về pháp luật mà không chịu sự tác động trực tiếp hay gián tiếp, bởi bất kỳ ai, cơ quan hay tổ chức nào. Độc lập là yếu tố quan trọng nhất giúp cho Tòa án xét xử một cách khách quan và công bằng. Tuy vậy, trên thực tế, sự độc lập không phải khi nào cũng được đảm bảo triệt để, làm ảnh hưởng đến việc xét xử, ảnh hưởng đến các quyền con người trong TTHS - và để có sự độc lập đó, không phải chỉ Tòa án muốn là được.

Bằng nguyên tắc hiến định Tòa án “thực hiện quyền tư pháp” được chính thức quy định từ Hiến pháp năm 2013 (Điều 102), hy vọng rằng sự độc lập của Tòa án sẽ được củng cố vững chắc nền tảng pháp lý, đồng thời có cơ chế để vận hành thông suốt, hiệu quả, theo đúng nghĩa của nguyên tắc này.

Hai là, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được bảo đảm triệt để. Việc ghi nhận quyền bào chữa trong Hiến pháp và BLTTHS cũng như trước đó là sự ra đời của Luật Luật sư năm 2006, cùng với đội ngũ Luật sư ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, cho thấy nỗ lực lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm nhân quyền này. Tuy vậy, trên thực tế, quyền này vẫn chưa được tồn tại với đúng vị trí của nó trong TTHS, hay nói cách khác là vẫn bị vi phạm dưới rất nhiều hình thức. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được thực hiện, thực hiện không kịp thời, không đầy đủ quyền bào chữa và còn nhiều hạn chế trong bảo đảm cho Luật sư thực hiện quyền bào chữa.

Ba là, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn nhiều bất cập. Hiện nay vấn đề này được quy định tại chương XXVIII của phần thủ tục đặc biệt trong BLTTHS 2015 và những khiếm khuyết về pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đáng kể. Tuy nhiên, những quy định cần thiết để bảo đảm quyền lợi cho người chưa thành niên thì chưa đủ đồng thời những quy định đã có thì chưa được thực hiện chuẩn xác. Ví dụ: Điều 415 BLTTHS quy định: “Những người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên, quy định này chỉ mang tính hình thức vì trên thực tế, cả CQĐT, VKS và Tòa án đều chưa có lực lượng nhân sự chuyên biệt để tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên.

Bốn là, tình trạng tồn đọng án, án quá hạn luật định, án lưu hạ do các cơ quan tiến hành tố tụng chưa giải quyết kịp thời tương đối lớn. Hàng năm, các Tòa án chỉ xét xử 85% - 90% các vụ án thụ lý trong năm; đặc biệt, nhiều vụ án kéo dài nhiều năm, vi phạm thời hạn theo quy định của BLTTHS. Ngoài ra, do quy định căn cứ giám đốc thẩm chưa rõ ràng, bao gồm cả pháp luật và sự việc, nên nhiều vụ án được xét xử nhiều lần, kéo dài quá trình xử lý vụ án, gây thiệt thòi cho quyền lợi cũng như tâm lý của người phạm tội, thậm chí có một số trường hợp chết trong thời gian bị tạm giam,...

Năm là, tình trạng bắt, giam giữ người tùy tiện, truy tố, xét xử oan, sai vẫn còn tồn tại. Theo số liệu điều tra, truy tố, xét xử hàng năm thì số người tạm giữ được trả tự do vì không phạm tội hoặc xử lý hành chính còn khá nhiều. Tuy số liệu này không hoàn toàn phản ánh việc bắt giam tùy tiện nhưng cũng khiến chúng ta đặt một câu hỏi rằng: tại sao CQĐT không cân nhắc việc tạm giữ ngay từ đầu đối với những trường hợp này. Hay thực tế vẫn còn không ít những vụ án, do đã khởi tố, bắt tạm giam nên quá trình giải quyết, dù không đủ chứng cứ khách quan vẫn cố buộc tội, xét xử và kết án dẫn đến vi phạm nghiêm trọng quyền cơ bản của con người.

  1. Một số yêu cầu, giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Thể chế hóa tinh thần Hiến pháp năm 2013, vấn đề bảo vệ quyền con người trong TTHS đã được quy định khá rõ ràng, đầy đủ và tiến bộ trong Bộ luật TTHS năm 2015 cũng như các đạo luật liên quan. Để những quy định đó của pháp luật thực sự đi vào đời sống tư pháp nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người trong TTHS, cần tạo ra những chuyển biến thực chất và duy trì thành nề nếp một số vấn đề sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền con người, trong đó có quyền con người trong TTHS, với tư cách là giá trị của nhân loại. Đồng thời xác định khả năng, điều kiện tiếp thu các giá trị đó vào hoàn cảnh Việt Nam trên các phương diện lập pháp và thực tiễn. Nói cách khác, cần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người nói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng, từ đó vận dụng một cách hợp lý và hiệu quả vào thực tiễn Việt Nam.

Hai là, quyền con người trong TTHS không chỉ đặt ra trong việc phát hiện xử lý tội phạm mà còn một khía cạnh hết sức quan trọng là không làm oan người vô tội. Dưới góc độ đó, pháp luật TTHS Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung theo hướng ghi nhận đầy đủ các quyền con người trong TTHS trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Chẳng hạn, trong thời gian tới, cần nghiên cứu để có các quy định cụ thể nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người trong TTHS như quy định về quyền được im lặng, quyền không buộc phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình v.v..

Ba là, bên cạnh việc ghi nhận những quyền của người bị buộc tội, điểm cần quan tâm nhất của TTHS nước ta đó chính là cơ chế bảo đảm thực thi các quy định đó trong thực tế. Đến nay, về mặt pháp luật thực định thì một số quyền như: quyền bào chữa, quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa, người bị buộc tội,… đã được ghi nhận trong pháp luật TTHS, nhưng chưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng để những người này thực hiện các quyền đó trong thực tiễn. Theo góc nhìn đó, việc hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp cũng như cơ chế thực hiện chúng là yêu cầu quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Bốn là, bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng có nghĩa là nếu người nào có những hành vi xâm phạm đến quyền con người trong lĩnh vực này thì phải gánh chịu các chế tài nghiêm khắc. Nói cách khác, để bảo vệ hữu hiệu quyền con người trong TTHS thì vấn đề quan trọng đặt ra là phải quy định rõ trách nhiệm của những người/cơ quan tiến hành tố tụng trong trường hợp họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình. Chẳng hạn, một vụ án bị chậm trễ đưa ra xét xử, một quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không hợp lý, không hợp pháp,… thì những chủ thể liên quan phải chịu trách nhiệm gì, hình thức chế tài ra sao cần được xác định rõ trong pháp luật TTHS.

Năm là, pháp luật TTHS cần quy định cụ thể cơ chế bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng trong vụ án hình sự, tránh tình trạng những người này bị trù dập, bị trả thù, bị đe dọa... Điều này đặt ra đòi hỏi, bên cạnh việc quy định trong các văn bản pháp luật thì trong thực tế cần thiết lập cơ chế hữu hiệu để bảo vệ những người tố giác tội phạm, người làm chứng (chẳng hạn xây dựng chương trình bảo vệ nhân chứng như một số quốc gia trên thế giới đã áp dụng).

Sáu là, cần nâng cao nhận thức về quyền con người cho các bên trong quan hệ TTHS. Trước hết, cần giáo dục kiến thức về quyền con người cho những người tiến hành tố tụng, cụ thể là các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán… để góp phần hạn chế sự xâm phạm quyền con người từ phía cơ quan công quyền. Đối với người bị buộc tội, cần nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền con người của họ bằng việc tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá trình tố tụng như thuê người bào chữa, chi phí thu thập chứng cứ, đơn giản hóa các thủ tục tố tụng,… Chỉ khi nào thế và lực của hai bên buộc tội và gỡ tội đạt được thế quân bình ở mức tương đối thì quyền con người trong tố tụng hình sự mới được đảm bảo trên thực tiễn./.

 

Diễn đàn khác:
Định giá lại “nông nghiệp, nhà nước, văn minh”? (16/10/2018)
Hướng đi nào cho nông thôn mới? (9/10/2018)
Đôi điều suy ngẫm về đạo đức công vụ trong tình hình hiện nay (11/9/2018)
Vẻ đẹp cá tính người phụ nữ trong bài thơ "Bánh trôi nước" (10/9/2018)
Dùng một lần (7/9/2018)
Đánh vần thì đánh, đừng đánh thầy Đại (7/9/2018)
Khi nông dân chán... đại học (6/9/2018)
Đối thoại với nhà nghiên cứu Trương Công Anh về kinh doanh rừng tổng hợp (31/8/2018)
Với cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay - Đôi điều tôi muôn nói (31/8/2018)
Về sách giáo khoa bậc phổ thông - Như tôi hiểu và mong muốn (8/8/2018)
Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ (7/8/2018)
Quản trị nhân lực công (7/8/2018)
Tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng! (2/8/2018)
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm (2/8/2018)
Hình thành dần thói quen làm khoa học cho doanh nghiệp (20/7/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 506 | Tất cả: 1,466,073
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp