KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Người Thổ đón Tết, vui Xuân
Tin đăng ngày: 27/3/2018 - Xem: 31
 

 

                                                                                      Quán Vi Miên

                                                                                      Đinh Xuân Uy

           Tết đến, xuân về, mọi người hoàn tất những công việc cần thiết để tập trung vào ăn Tết, chơi Tết. Với người Thổ, thường thì công việc đồng áng đã phải tạm gác lại vào sáng ngày 25 tháng Chạp. Nhà nào có cô dâu chưa cưới thì phải “đi Tết” nhà gái. Lễ vật gồm 1 đôi gà, 5 kg nếp, 1 gói trầu cau (6 miếng trầu đã têm, 6 miếng cau đã bửa), 1 chai rượu. Nhà nào có tục thờ “Bà Trầy” (như là “mo” của người Thái) hay làm nghề “phù thủy” (phù phép chữa bệnh, đuổi tà ma, v.v.) thì làm Lễ sắp ấn (tạm nghỉ việc bói toán và cúng bái chữa bệnh). Lễ tiến hành lúc chập tối (từ khoảng 4 giờ chiều đến 8 giờ đêm). Trước đây, sáng 25 Tết đàn ông vào rừng săn bắn để có thêm thịt thú dùng trong những ngày Tết. Người Thổ (nhánh Mọn ở xã Hạ Sơn, Quỳ Hợp, Nghệ An) ăn Tết không có nhiều cá, nhưng nhất định phải có 1 đĩa cá to để dành cho Lễ tơm tru (cúng trâu). Ngày hôm đó, đàn bà và em nhỏ vào rừng lấy củi, hái lá dong, lá chuối rừng, đem về để gói bánh các loại. Ngày 27 Tết, mổ trâu (trước đây, sau này có bò), gọi là “hóa kiếp” cho trâu, chứ không gọi là “giết” vì trâu đã giúp con người làm ra “cơm có ló nhiều” (Cơm có, lúa nhiều), và “Cơm đệp kháng đăm, cơm chăm kháng mười” (Cơm nếp tháng 5, cơm tẻ tháng 10). Ngày 29 Tết, người ta đi đón dâu (chưa cưới) về ăn Tết. Đàn ông đi tảo mộ. Người ta phát sạch cỏ cây mọc trên mộ. Đắp lại những chỗ bị lõm. Sửa sang lại ngôi mộ cho đẹp như mới. Sau đó thắp 1 que hương cắm lên mộ, “mời” người dưới mộ về nhà ăn Tết với con cháu. Ngày 30 Tết, tất cả mọi nhà mổ lợn. Các bộ phận con lợn được phanh ra, trong đó chú ý bộ lòng, làm sạch để luộc cúng tổ tiên. Ngày hôm nay cũng là ngày trồng cây nêu. Họ tìm chặt cây tre, cây mét cao, thẳng nhất, chặt đem về trồng nơi chái nhà, chỗ đặt cối giã gạo. Cây nêu phải cao ngang nóc nhà, có khi còn cao vượt lên trên mái nhà. Họ treo trầu cau, đồng tiền đồng, tiền kẽm, thỏi vàng (giả), v.v. trên cây nêu. Xung quanh nhà, nơi chuồng lợn, chuồng gà, chuồng trâu, v.v. người ta cắm các cây lau cù (lau đã ra hoa trắng). Đàn bà, con gái thì giã bột để gói bánh; rửa lá dong, lá chuối để gói bánh chưng. Bánh phải nấu chín trước 3 - 4 giờ chiều. Khoảng 4 giờ chiều thì nhà nào nhà nấy bày mâm cúng, mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Nếu chủ nhà không biết “cúng” thì phải mời/nhờ người biết cúng về cúng cho, chứ tuyệt đối không được cúng “xuề xòa”! Lúc này, người ta lấy 4 - 5 bông lúa (gọi là “khựa”), buộc lên 4 góc gác bếp, gọi là “lúa khang đăm” (lúa sang năm), để năm mới được mùa to! Đêm đó, cả nhà ngồi quây quần tiếp tục gói các loại bánh truyền thống (nếu chưa gói xong). Giao thừa, chủ nhà bày một mâm cúng gia tiên bằng rượu, trầu cau, bánh rán hoặc bánh trôi. Thanh niên, trẻ nhỏ ra suối “tắm nước tiên”. Người Thổ quan niệm lúc giao thừa là lúc nước trong lành nhất, các nàng tiên ở trên trời cũng xuống tắm. Vì vậy, ra tắm lúc này sẽ gặp “may mắn, khỏe mạnh” suốt cả năm! Sáng mồng 1 Tết, mọi nhà đoàn tụ, thờ cúng ông bà cha mẹ và các vị thần khác. Đó là các vị Thổ thần, Long mạch, Quản Xuân (riêng đối với họ Đinh). Quản Xuân là một vị tướng của Bà Trầy (mo). Lễ cúng này gọi là “Chặp nghè”, gồm có xôi gà, bánh trôi, bánh rán, trầu cau, hương rượu. Lễ cúng được tiến hành tại Đền. Cúng xong, ăn uống tại chỗ. Ngày này (mồng 1 Tết), người Thổ quan niệm nếu có con chó nào đến nhà thì đó là điềm tốt, nên họ cho chó ăn uống “như người” vậy. Những người già, có uy tín trong làng thì đi thăm hỏi, chúc Tết từng nhà trong làng. Sau đó mọi người mới đi chúc Tết lẫn nhau. Đến nhà nào cũng được mời ăn uống vui vẻ. Buổi trưa, người ta lại sửa soạn cúng tổ tiên. Lễ cúng này đặc biệt là có mâm của con cháu trong làng bưng đến (nếu chủ nhà là người cao tuổi, được xem là “thủ chỉ”). Chủ nhà cảm ơn, rót rượu mời lại con cháu, nhón lấy 1 ít thức ăn “tượng trưng”, và trả lại mâm cho con cháu mang về ăn trưa. Buổi chiều, người ta tổ chức cúng Thành hoàng làng, thần Cao Sơn Cao Các tại nhà trưởng họ (không làm đền thờ riêng). Đây thực chất là lễ cúng “họ”, mỗi năm, 3 nhà làm mâm lễ 1 lần. Cúng xong, tổ chức ăn uống chung, để lại cho nhà trưởng họ 1 ít gọi là “mâm trầu nước”. Tối mồng 1 Tết nhà nào có người già thì tổ chức lễ mừng thọ, gọi là “Vái xết”, tức là “Làm vía Tết”, thực chất là làm lễ yến lão cho ông bà cha mẹ. Thông gia, hoặc nhà có “bạn kết nghĩa” cũng nhân dịp này bưng mâm lễ đến để mừng thọ cho người già luôn. Mâm vía (tran vái) đặt đối diện với bếp, phía trên cửa sổ trong nhà, gọi là “bóóng trên troong nhà”. Mâm lễ có trầu (12 miếng) cau (12 miếng), 12 chạc vái (vía) bằng sợi gai, 12 đồng tiền vái (vía), hương rượu và 1 chum rượu cần. Các con số 12 ở trên ứng với quan niệm con người có 12 vía (hồn). Con cháu và bà con trong làng biết nhà nào có người “lên lão” thì đều có mâm lễ bưng đến “chúc thọ”. Người cúng vái (vía) phải là Mo vái. Bài cúng là lời chúc mừng ông bà cha mẹ sống thọ, mong từ nay trở đi luôn được mạnh khỏe, tiếp tục “sống thọ” với con cháu. Cúng xong, con cháu lấy chạc vái (sợi gai) buộc vào tay (buộc vía) cho người được mừng thọ; ngược lại, người được mừng thọ cũng “chúc sức khỏe” cho con cháu bằng cách dùng sợi gai “buộc vía” vào tay con cháu. Người nào giàu có thì mừng thọ cha mẹ, ông bà bằng vòng bạc, vòng vàng (gọi là “trằm vái”), vừa đeo “trằm” vào tay cha mẹ, ông bà, vừa nói lời “chúc mừng”. Cúng xong, mo và con cháu gắp thức ăn ngon cho cha mẹ, ông bà ăn (vài miếng tượng trưng); cha mẹ, ông bà rót rượu mời lại mo và bà con đến mừng. Sau đó gia chủ dọn mâm cỗ ra thết bà con làng xóm. Ăn xong, mọi người uống rượu cần, vui chơi. Nam nữ hát “dâu ời” (dân ca giao duyên): “Tôi mềng óóng rạo chum chình/ Phải óóng pằng chặc cho mềng mần tôi” (Ta - mình uống rượu chung tình/ Phải uống bằng chắc (nhau), chúng mình làm đôi). Đôi nào thấy “ưng ý” thì rủ nhau đi “ngủ mái” (ủ con mái, dộộng con bảo); họ tìm nơi vắng vẻ để tâm tình một cách đứng đắn, trong sáng. Lễ mừng thọ trong dịp Tết đúng là “sự kiện” làm tăng ý nghĩa của Tết Thổ. Nó làm “đầm ấm” hơn cái Tết đối với mọi người. Mồng 2 Tết, nhà nào có dâu (chưa cưới) về ăn Tết, thì sửa soạn lễ vật cho con trai tiễn cô dâu về lại nhà. Lễ vật ấy dùng để cúng ông bà, tổ tiên đằng ngoại. Ngày hôm nay là ngày “chơi Tết”. Các trò chơi dân gian được tổ chức: kéo co, khua luống, đánh cồng chiêng, đi chơi xuân, v.v. Ngày mồng 3 Tết, người Thổ làm lễ “cúng đưa”, tức là “đưa ông bà, tổ tiên trở về trời”. Họ soạn một đôi gánh và bỏ tất cả xôi thịt, bánh trái, trầu cau, rượu, v.v., những thứ mà người nhà chưa “động” đến, nghĩa là thức ăn đó vẫn còn nguyên, để cho ông bà, cha mẹ đem đi “ăn” ở thế giới bên kia, ở mường trời. Riêng đối với nhà/dòng họ nào có “Bà Trầy” (mo), thì tối mồng 3 Tết cho đến rạng ngày mồng 5 Tết, người ta tổ chức Lễ hội Bà Trầy. Đây là lễ hội có tính chất tín ngưỡng (nay hầu như không còn). Lễ hội này được tổ chức hàng năm hoặc cứ 3 năm 1 lần, tùy điều kiện. Hàng năm tổ chức 1 lần gọi là tiểu lễ, 3 năm làm 1 lần gọi là đại lễ. Tộc trưởng chủ trì lễ hội. Bày mâm cúng tổ tiên, ông bà, mâm cúng Vua cha Ngọc hoàng cùng tướng lĩnh, các quan nhà Vua thủy tề. Mâm lễ gồm 4 cỗ xôi con gà, 1 chai rượu, 1 đĩa trầu cau (trầu lá cau quả), 2 chén nước lã, mấy chén không để rót rượu, bỏng lúa, nồi cháo nhỏ gọi là “mâm hoa cháo nổ”. Đại lễ phải có thêm 1 chum rượu cần. Các mâm lễ được đặt lên bàn thờ Khoánh Khinh. Có tấm vải tự dệt (Pải Cầu Tàng) làm đường đi cho Ngọc hoàng cùng các tướng lĩnh của ngài, nối từ Khoánh Khinh đến Hoóng Toòng (gian ngoài), hai bên tấm vải gài các bông lúa. Khi hành lễ thì chủ cúng và các người phụ lễ múa theo đều phải “chui qua” tấm vải này. Chủ cúng đội Mâm Chè (có nước, trầu cau, rượu, nến) đi trước, bà Trầy (mo) múa “lên đồng” theo sau. Múa từ bàn thờ Khoánh Khinh đến Hoóng Toòng, tức là hết sàn nhà. Sau đó lại quay trở lại, bà Trầy lại múa theo sau. Đến nơi thì cúi lạy trước bàn thờ. Nghỉ một lúc khoảng 30 phút thì lại làm lại, múa tiếp. Tiểu lễ diễn ra 1 ngày, đại lễ thì 2 đêm 1 ngày. Sau đó là vui chơi, ăn uống, đánh cồng, hát đối đáp, theo điệu “dầu ơi”. Tiểu lễ có 5 điệu múa, đại lễ có 7 điệu múa.

Upload

Điệu cồng chiêng của người Thổ ở Nghệ An trong dịp lễ hội 

Sáng mồng 4 Tết, tổ chức Lễ tơm tru (cúng trâu). Đây là lễ “cảm ơn trâu” đã cùng/ giúp người cày bừa một năm qua, và sẽ cày bừa trong năm tới. Mâm lễ gồm có con gà luộc, các món thịt, bánh trái, và không thể thiếu cá (như đã nói ở trên), v.v. Lời cúng thể hiện tình cảm của người với trâu: “Tru ếnh tru oáng/ Cả đăm dâu khó nhọc, vất vả/ Năm mới cầu mong cho trâu mạnh khỏe/ Cùng với chủ cày bừa/ Làm ra cơm nếp tháng 5, cơm tẻ tháng 10/ Cho lúa đầy nhà/ Gà vịt đầy chuồng/ Mong vị Thổ thần phù hộ cho trâu/ Ăn cỏ ngoài rừng không bị hổ báo làm hại…”. Cúng xong, người ta đặt cái ách lên vai trâu, vỗ về, nói lời cảm ơn trâu, và cho trâu ăn bánh, ăn xôi chấm muối.

Ngày mồng 5 Tết, là ngày phường săn (ngày xưa) lấy làm “ngày may mắn”, tổ chức Lễ xang lái (quăng lưới săn thú, săn thật hoặc săn tượng trưng) đầu năm. Hôm đó mà “săn” được thú to thì cả năm coi như “Án thực moong nại, cái moong cả” (săn được nhiều thú vật to lớn).

Ngày mồng 6 Tết, là ngày tiếp tục vui chơi. Người nào chưa đi chúc Tết anh em, họ hàng, bà con xa gần thì đi thăm hỏi. Ngày mồng 7 Tết là ngày khai hạ. Ngày này là ngày “pổ nêu” (hạ nêu). Người ta hạ cây nêu xuống, các thứ treo trên cây nêu rơi rụng xuống, mọi người tranh nhau nhặt, xem đó là “lộc” năm mới. Ai nhặt được nhiều thì năm tới sẽ gặp nhiều may mắn! Các nhà làm lễ cúng khai hạ: cúng thổ công, long mạch, thành hoàng làng, Quản Xuân (đối với người họ Đinh), cúng lễ đón ông Táo trở về.

Bảy ngày Tết cổ truyền của người Thổ kết thúc. Tết Thổ từ xưa đến nay đã có nhiều thay đổi, nhưng những gì tốt đẹp nhất, văn hóa, nhân văn nhất, đậm màu sắc dân tộc nhất, thì vẫn còn mãi với thời gian.

 

                                                                                                              

     

                            

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Nhân Ngày Chiến thắng 30/4, nghĩ về chữ “Thắng (26/4/2018)
Hình rồng thêu trên váy của phụ nữ Thái Nghệ An (16/4/2018)
Bài Chòi cổ Trung bộ - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (5/4/2018)
Người Thổ đón Tết, vui Xuân (27/3/2018)
Chú cẩu trong đời sống văn hóa người Việt (2/3/2018)
Văn hóa tộc người trong bối cảnh kinh tế thị trường (Khảo sát sự biến đổi trong văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An) (1/3/2018)
Người Nghệ ở Hà Nội - Giao lưu và tiếp biến văn hóa (19/12/2017)
Những dấu ấn của Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An năm 2017 (19/12/2017)
Lễ trưởng thành (19/12/2017)
Quam hặc - Bùa yêu (7/11/2017)
Tên đường ở thành phố Vinh thời thuộc Pháp (5/10/2017)
Tục "rửa chân cô dâu" trong đám cưới của người Thái (25/9/2017)
ASEAN - Việt Nam: 22 năm đồng hành và tầm nhìn phía trước (11/9/2017)
Phát huy vai trò định hướng dư luận của báo chí cách mạng trong giai đoạn hiện nay (11/9/2017)
“Những lá thư thời chiến Việt Nam” - Thông điệp từ trái tim (11/9/2017)
CHUYÊN SAN KHXH & NV
Chuyên san KHXH&NV số 11/2017
Chuyên san KHXH&NV số 11/2017
SÁCH MỚI
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
VIDEO CLIPS
Loading the player...
Tạp chí Truyền hình KH-Cn số tháng 4/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 3/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 2/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 1/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 12/2017
TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH KH&CN SỐ 11/2017
Tạp chí truyền hình KH-CN số 10/2017
Tạp chí truyền hình tháng 9/2017
Chuyên đề truyền hình số 8/2017
Chuyên đề truyền hình số 7/2017
Tạp chí truyền hình KH&CN số 1/2007
Tạp chí truyền hình KH&CN số 12/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 11/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 10/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 9/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 8/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 7/2016
TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH SỐ 6/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 5/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 4/2016
ALBUM ẢNH
Hôm nay: 222 | Tất cả: 1,184,428
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ
Nghiên cứu KH
Sách
Chuyên san
Tài liệu
LIÊN KẾT WEBSITE
THÔNG TIN CẦN BIẾT
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0913.076.389 - 0982.097.091
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn