DIỄN ĐÀN
Hôn nhân ở xứ Nghệ - Xưa & Nay
Tin đăng ngày: 2/3/2018 - Xem: 282
 

Nguyễn Tâm Cẩn - Phan Bá Hàm

  I. Hôn nhân ngày xưa

Upload

Người xưa nói: “Phối thất chi tế, vạn phúc chi nguyên” - việc hôn nhân là nguồn gốc của muôn sự hạnh phúc. Theo sách Thuyết văn: hôn là nhà của người vợ, nhân là nhà của người chồng. Như vậy hôn nhân là sự chung sống của vợ chồng. Cũng tương tự như vậy, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân giải thích: hôn nhà gái, nhân nhà trai chỉ việc cưới xin. Tuy nhiên theo giải thích của Đào Duy Anh chữ “hôn” nguyên nghĩa là chiều hôm vì theo tục lễ xưa, lễ cưới thường tổ chức vào buổi chiều tối. Còn theo Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (điều 3).

Hàng vạn năm về trước, khi xã hội con người còn rất lạc hậu thì chưa có hôn nhân. Đến thời kỳ phong kiến, các tục lễ về hôn nhân mới hình thành và có hệ thống ngày càng chặt chẽ.   Thuở ấy hôn nhân chưa có pháp luật bảo vệ nên người ta đặt ra nhiều lễ nghi trang trọng để ràng buộc hai bên.

Xây dựng gia đình là việc hệ trọng trong cuộc đời mỗi người. Người xưa quan niệm việc hôn nhân là để sinh con đẻ cái, duy trì và phát triển nòi giống cho nên việc hôn nhân của con cái là do cha mẹ và anh em họ hàng quyết định. Đối với các gia đình giàu có, người vợ ngoài việc sinh đẻ, nhất là sinh con trai để nối dõi tông đường còn là người lao động làm mọi việc trong nhà và ngoài đồng, là người nuôi dưỡng cha mẹ chồng lúc về già, người thừa kế mẹ chồng quản lý gia đình... Theo tinh thần: “Dâu là kế thế, rể là người dưng”.

Trong hôn nhân xưa trai gái không được tự do tìm hiểu, yêu đương mà chủ yếu là do “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Đã có không ít trường hợp các bậc cha mẹ đã hẹn ước với nhau khi con còn nhỏ tuổi, thậm chí có những trường hợp hai bên gia đình đính ước khi người con mới ra đời. Tuổi kết hôn ngày xưa cũng rất thấp, chỉ là: “Gái thập tam, nam thập lục”. Vì thế, xã hội thời đó đã có cảnh:

Lấy chồng từ thuở mười ba

Đến khi mười tám thiếp đà năm con.

Ra đường thiếp hãy còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”.

(Ca dao)

Nhìn chung hơn kém nhau một vài tuổi là vừa. Đến khoảng 24-26 tuổi mới xây dựng gia đình đã bị cho là muộn.

Vì tục lễ ngày xưa là: “Nam nữ thụ thụ bất thân” (chữ thụ đầu là trao cho, chữ thụ sau là nhận lấy). Trai gái trao cho nhau cái gì đều không được đưa trực tiếp mà phảỉ nhờ người khác hay đặt ở đâu đó rồi bên kia đến nhận lấy. Nam nữ thanh niên cùng lứa thân mật với nhau sẽ bị xã hội cho là thiếu đứng đắn và rất khó lấy được vợ hoặc chồng gần. Còn lấy vợ không có mai mối sẽ bị dư luận chê cười cho là mắc phải “bùa yêu”.

Do đó trong hôn nhân ngày xưa, vai trò của người mai mối, ở nhiều địa phương gọi là người làm mối rất quan trọng. Nam nữ cách làng hiếm khi được gặp nhau, thậm chí có đám đến lễ ăn hỏi mới biết mặt nhau. Việc chọn người mai mối cũng rất cẩn thận, thường là người có tuổi tác, đứng đắn được bà con láng giềng kính nể và quan trọng là phải có gia đình hòa thuận, đông con cháu…

Bên nhà trai nhờ người làm mối giới thiệu với nhà gái. Nếu được hay không người làm mối sẽ báo lại với nhà trai. Cũng có những trường hợp bên gái chưa đồng ý, người làm mối phải đi lại hàng chục lần phân tích, thuyết phục cho đến khi đi đến kết quả, có trường hợp phải kéo dài hàng năm.

Như vậy việc chọn dâu rể ngày xưa chủ yếu là theo ý muốn của người lớn. Ngoài việc hợp tuổi và gia đình “môn đăng hộ đối”, các ông bà thường mong con cái lấy được chồng gần, vợ gần và gặp được: “Dâu hiền, rể thảo”. Người con dâu được gọi là “hiền” trước hết phải đảm bảo được bốn tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh, ở đó:

- Công là công việc, khả năng lao động (trong đó có cả sức khỏe), thực hiện và quán xuyến công việc gia đình.

- Dung là nhan sắc, kể cả hình thể con người.

- Ngôn là lời ăn tiếng nói. Người phụ nữ phải ăn nói nhẹ nhàng, thùy mị. 

- Hạnh là hạnh kiểm, nết na, cách ăn ở, đức tính của người phụ nữ.

Còn việc chọn rể, ngoài yêu cầu “thảo” tức là người tử tế, tốt bụng, rộng rãi, không keo kiệt còn là người khỏe mạnh, con nhà khá giả, có học thức... Ở vùng Bắc Nghệ An cũng có câu ca dao:

Ham chi ruộng cả ao liền

Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ. 

Ngày xưa từ khi gia đình người con trai tiến hành dạm hỏi một người con gái cho đến khi tiến hành lễ cưới phải trải qua một chặng đường dài. Ở vùng Nghệ Tĩnh thông thường phải thực hiện những lễ chính sau đây (thường gọi là lục lễ):

1. Lễ chạm ngõ, dân gian gọi là lễ tấp rào. Qua người làm mối sau khi biết được gia đình nhà gái đã đồng ý thì bên nhà trai sắm một lễ mọn đưa đến nhà gái, ngỏ lời hỏi người con gái. Thành phần tham gia thường có đại diện họ nội (có thể là tộc trưởng) cha hoặc anh trai trưởng chàng rể và một vài người anh em thân cận có uy tín. Lễ vật chỉ có chai rượu với trầu cau. Bên nhà trai cũng bố trí vài người chủ yếu là họ nội để tiếp khách. Mục đích chính của lễ này là muốn báo cho mọi người biết cô gái đã có nơi ăn hỏi rồi.

2. Lễ vấn danh: là lễ bên nhà trai đến hỏi tên tuổi cô gái. Vì sao lại như vậy? Bởi vì ngày xưa con gái hầu hết không được đi học, cũng không phải vào sổ họ, sổ làng nên rất ít người được đặt tên mà thường cứ gọi là: con Chắt, con Ả, con Hoe, con Em,... Đến lễ này nhà gái buộc phải đặt cho con cái tên. Khi cưới về nhà chồng, người vợ lại được gọi theo tên chồng, khi có con lại gọi theo tên con đầu nên không ít người sau khi trưởng thành vẫn không biết tên mẹ mình là gì.

Việc hôn nhân xưa, ngoài những quan hệ thông thường, có hai vấn đề rất được coi trọng là tuổi con trai và con gái có hợp với nhau không và gia đình phải môn đăng hộ đối. Đành rằng có câu: “Nhất con gái hơn hai, nhì con trai hơn một” nhưng việc xem tuổi của đôi bên cũng rất quan trọng. Cho nên trong lễ vấn danh là dịp để đôi bên tìm hiểu xem đôi trai gái có xung khắc hay không, nếu có thì cuộc hôn nhân có thể không thành. Ngoài ra cũng ngầm hiểu là đôi bên có “môn đăng hộ đối” không? Tức là hai gia đình phải tương xứng với nhau về địa vị xã hội, về điều kiện kinh tế. Rất ít khi nhà quyền quý lại thông gia với nhà bạch đinh, nghèo khổ.

3. Lễ ăn hỏi: Đây là lễ quan trọng, là nghi thức đính ước truyền thống trong một cuộc hôn nhân. Nhà trai đem cau trầu, rượu, bánh trái, lợn, xôi hoặc gạo nếp... đến nhà gái chính thức hỏi vợ cho con mình. Với các nhà khá giả, lễ vật tương đối nhiều. Số người tham dự mỗi bên cũng phải đủ thành phần đại diện cho cả họ nội, họ ngoại của cô dâu, chú rể. Sau lời phát biểu của đại diện nhà trai và nhà gái thường nhà gái bố trí cho cô dâu ra chào họ. Đáp lại đại diện nhà trai có “món quà” tặng cô dâu. Nhà gái nhận lễ và đôi bên chính thức trở thành thông gia.

Sau động tác nhận lễ nhà gái đặt một phần lễ vật (phải có cau trầu, rượu) lên bàn thờ gia tiên báo cáo ông bà tổ tiên. Khi lễ xong, bánh trái trầu cau được nhà gái “lại quả” cho nhà trai một phần đem về phân phát cho họ hàng anh em. Số này để nhà trai đưa về biếu và “thông báo” cho anh em họ hàng biết con trai mình đã đính hôn. Bên nhà gái cũng dùng một phần cau trầu, bánh trái phân phát cho anh em để “thông báo” như bên nhà trai.

Sau ăn hỏi thường phải một năm hoặc hơn mới được cưới. Từ đó mùa nào thức ấy nhà trai phải mang lễ vật sang tết (biếu) nhà gái. Ở nhiều làng xã vùng Nghệ Tĩnh lễ tết này thường diễn ra hai lần trong năm vào tháng năm và tháng chạp và lễ vật cũng thường là thủ lợn với năm hoặc mười chiếc bánh khô, về sau là một cân thịt lợn. Nhà nghèo khó cũng phải hai chục cá thửng. Nhiều nơi đêm 30 tết chàng rể tương lai phải có một chục quả cam đẹp đến tết bố mẹ vợ. Rồi sau khi cưới nếu cha mẹ vợ còn sống mỗi năm hai lần chàng rể vẫn phải đi tết.

4. Lễ xin cưới: Khi điều kiện đã chín muồi, phần lớn là qua người làm mối nhà trai biết được nhà gái đã đồng thuận thì tiến hành xin cưới. Lễ này cũng tổ chức đơn giản, chỉ có người cha (nếu cha đã mất hay già yếu thì anh trai) và một vài người trong họ đưa chai rượu và cau trầu đến nhà gái đặt vấn đề xin cưới. Tùy hoàn cảnh của cô gái có khi rất dễ dàng, nhà gái chủ động gợi ý nhưng cũng có không ít trường hợp do cô gái còn non trẻ, nhà gái muốn con trưởng thành hơn hoặc có khi do hoàn cảnh neo đơn thường là do gia đình có nhiều miệng ăn mà thiếu lao động, gặp hoàn cảnh đó việc đi xin cưới có thể diễn ra nhiều lần.

Đặc biệt ngày xưa có tục cưới bôn tang.  Khi cha mẹ hay ông bà nội của cô dâu hay chú rể mất theo tục lễ phải chờ ba năm (thực chất là 27 tháng) hết tang mới được cưới. Trong hoàn cảnh đó nhà gái cũng phải chấp thuận cho cưới bôn tang hay cưới chạy tang. Tức là cưới vội vàng khi người chết còn nằm đắp chiếu trên giường chưa phát tang. Trường hợp này lễ cưới vẫn có mâm cỗ và thường diễn ra vào chiều tối, mọi nghi thức nổ pháo hay vui chơi hát hò đều miễn hết.

5. Lễ cưới: (một số nơi gọi là đám cưới) chỉ được tổ chức khi hai bên không có tang ma. Trước lúc cưới qua người làm mối, nhà gái thường có tục thách cưới vì người xưa cho rằng nếu không nhà gái sẽ mang tiếng “cho không” con mình hoặc người con gái có chuyện giấu kín phải cưới ngay để giải nguy. Đây là một phong tục xấu biến hôn nhân thành chuyện gả bán. Bên nhà gái cũng thường “giơ cao đánh khẽ”. Gặp khó khăn nhà trai xin bớt một ít vẫn cho. Nhưng cũng có nơi có bà cô, ông chú khó tính, để nâng giá trị của cháu mình vẫn đòi thách cưới nhiều thứ vòng nhẫn, hoa tai, tiền bạc, quần áo, khăn nón, cau rượu, bánh trái... nhất là hàng chục mâm đám cưới, có khi quá nhiều, nhà trai không lo nổi đành phải bỏ cuộc hoặc khất lần lựa lâu dài.

Trước khi cưới một hai ngày có tục dẫn lễ. Nhà trai phải cử người đưa các lễ vật mà nhà gái thách đòi đến nạp cho nhà gái. Lễ vật tương đối nhiều có khi một đến hai người gánh mới hết, thường là 5 hoặc 10 kg thịt lợn, vài yến gạo nếp, mấy chục chiếc bánh chưng, quần áo, nữ trang, cau mấy buồng, trầu mấy chục liền, rượu mấy chục chai,...

Cũng trước khi cưới nhà trai phải nạp cheo, tức là khoản nạp cho làng xã bên nhà gái. Nếu lấy nhau trong làng xã thì có châm chước bớt cho một ít. Khi chưa có đăng ký kết hôn thì tờ nạp cheo cho làng cũng có giá trị như tờ giấy kết hôn vậy. Ca dao xưa có câu:  

Nuôi lợn thì phải vớt bèo

Lấy vợ thì phải nạp cheo cho làng.

Hoặc câu tục ngữ: Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối.

Tiền cheo thường khoảng một, hai quan đến năm, bảy quan hoặc nhiều hơn tùy theo hoàn cảnh và Hương ước của làng. Làng sẽ căn cứ vào số tiền nạp cheo nhiều hay ít để quy định gọi tên chàng rể mới là anh Hiệu, anh Bộ, anh Nhiêu, anh Nho... và nếu nạp tiền ít thì gọi là anh Sở, anh Học. Không ít trường hợp cái danh hiệu mà làng đặt cho được mang suốt đời đã đành mà sau khi chết rồi người ta vẫn gọi theo tên đó, nhất là cái tên ông Hiệu, ông Bộ. Trường hợp cưới vợ mà không có tiền nạp cheo cho làng thì chàng rể phải đi đánh mõ cho làng một năm hoặc nhiều hơn.

Trước khi cưới một ngày còn có lễ tơ hồng. Khi làm lễ người ta bày hương án ngoài sân bên nhà gái, dùng xôi gà, trầu cau, rượu,... để tế ông Nguyệt lão (hay ông Tơ bà Nguyệt), tế xong hai vợ chồng vào lạy cha mẹ vợ.

Trong ngày cưới, trước khi họ nhà gái xuất phát, nhà trai phải cử một vài người cao tuổi đem theo trầu rượu đến nhà gái để làm lễ xin dâu. Đây cũng là dịp để thăm dò số lượng người đi và lường trước thời gian. Giờ đưa dâu phải chọn giờ hoàng đạo, tùy theo quãng đường đi dài ngắn để chọn giờ. Nếu hai nhà không xa trong làng hay hai làng gần nhau thường tổ chức vào buổi trưa, có nơi vào buổi chiều tối. Nếu một trong hai bên còn “có bụi” tức có tang trong họ thì giờ tổ chức đám cưới phải sau 12 giờ trưa. 

Lễ cưới được tổ chức rất long trọng. Nhà trai phải dọn cỗ, tổ chức ăn uống thịnh soạn để đón nhà gái và cô dâu. Số mâm do nhà gái đòi trước, thường từ hai mươi đến năm sáu chục mâm. Những đám cưới to có thể đến trăm mâm. Ngày xưa khi tổ chức đám cưới nhà trai phải làm thịt một vài con lợn thịt đã được nuôi béo từ trước. Các đám cưới to phải mổ thịt một con bò.

Đi đầu đám cưới là một ông già chủ hôn trong họ nội. Cô dâu ra đi khỏi nhà không được quay đầu trở lại. Khi đám cưới gần đến nơi, nhà trai phải cử một người phụ nữ ăn mặc đẹp bưng cơi trầu đứng ở cổng để chào họ nhà gái. Khi cô dâu vừa đi vào cổng, họ nhà trai phải có một bà thường là người đông con cháu ra đón và dẫn cô dâu vào buồng. Sau này thay việc đó bằng động thái khác là: một người đàn ông cao tuổi thường là chú, bác trong họ nội ra dẫn cô dâu và chú rể vào thắp hương kính viếng ông bà cha mẹ đã quá cố trước khi ra dự đám cưới.

Theo tục lễ trước đây, cha mẹ không đi đám cưới con và do cô dâu còn ít tuổi, có khi chỉ mới 14-16 tuổi kinh nghiệm cuộc sống còn ít nên thường có người phù dâu đi theo hướng dẫn và an ủi. Phù dâu thường là cô gì hay chị em thân thích và là người khôn ngoan có gia đình hạnh phúc. Vì không được tìm hiểu nhau, nghĩa là chưa có tình yêu, sự hiểu biết của người con gái về người chồng tương lai của mình là rất ít, nhất là những đám cưới khác làng xã, những đám cưới do cha mẹ, anh em đôi bên xếp đặt... và cũng muốn thể hiện là mình không muốn sống xa gia đình cha mẹ, nên trong nhiều đám cưới cô dâu đi lấy chồng rất buồn, không ít trường hợp cô dâu khóc sướt mướt từ đầu chí cuối nên vai trò của người phù dâu rất quan trọng. Có trường hợp đi được nửa đường cô dâu còn bỏ trốn, phải mất nhiều thời gian tìm kiếm đám cưới mới tiếp tục được.

Như trên đã nói, theo phong tục ngày xưa cha mẹ không đi đám cưới con. Do đó sau lễ cưới thường tổ chức vào buổi trưa thì đến chiều tối, nhà trai mời một số đại diện của họ nhà gái sang chơi để biết nhà, dân gian gọi là lễ tập hậu. Trường hợp cưới buổi chiều thì lễ tập hậu tổ chức vào ngày hôm sau. Tham gia đoàn này thường có mẹ cô dâu, đại diện các o, các dì, các mự… phần đông là phụ nữ, khoảng dăm bảy người sang giao lưu trò chuyện với các thành phần tương ứng bên nhà trai. Để tiếp khách đặc biệt này, nhà trai cũng phải dọn một số mâm cỗ. Đây là dịp để bà mẹ và các o, dì, mự… biết nhà chàng rể để rồi sau này khi sinh nở biết nơi qua lại phục vụ mà không phải hỏi thăm nhà, vì hỏi thăm nhà con, cháu gần thì dễ bị người ta chê cười.

Cách tổ chức đám cưới ngày xưa rất tốn kém nên nhiều chàng trai nhà nghèo đến kỳ hạn ba năm vẫn không đủ tiền để cưới vợ. Trường hợp này nhiều khi nhà gái phải giúp đỡ hoặc anh em phải cho vay mượn. Nhiều đôi vợ chồng cưới xong nợ nần chồng chất phải mất mấy năm mới trả xong.

6. Lễ hồi môn: Sau lễ cưới một hai ngày, vợ chồng cùng bố mẹ phải sắm một cỗ xôi gà sang bên nhà cha mẹ vợ cúng gia tiên. Cúng xong hai bên cùng ăn cỗ, trò chuyện để thắt chặt tình thông gia. Bắt nguồn từ câu: “Xuất tất cáo, phản hồi tất diện” nói rằng: Khi ra khỏi nhà phải cáo tổ tiên, nay lấy chồng rồi, vợ chồng phải trở về trình diện trước tổ tiên, gia đình. Rất nhiều nhà giàu nhân dịp này đã có “của hồi môn” cho con nhằm giúp đỡ đôi vợ chồng trẻ. Của hồi môn nhiều hay ít tùy theo hoàn cảnh chú rể, điều kiện kinh tế và số con nhiều hay ít của cha mẹ vợ. Thông thường là vài ba sào ruộng hoặc ngôi nhà ba gian. Cũng có trường hợp cho hai, ba mẫu ruộng và một con trâu.

Có nơi sau lễ này vợ chồng đón bố mẹ vợ sang chơi nhà trai. Đây là một tục lễ đẹp ngày nay cũng nên duy trì vì nó giáo dục con cái biết quý trọng bố mẹ vợ cũng như bố mẹ chồng và thắt chặt tình thông gia và là dịp để giới thiệu chú rể với anh em bên nhà gái.

II. Hôn nhân sau Cách mạng tháng Tám

Upload

Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là trong kháng chiến chống Pháp, tục lễ hôn nhân đã căn bản có những thay đổi lớn. Về mặt pháp lý đã có những quy định tiến bộ làm thay đổi nhiều tập tục lạc hậu như: trai gái được tự do tìm hiểu, nam nữ bình đẳng, hôn nhân một vợ một chồng, cấm tảo hôn, cấm cưỡng ép hôn nhân, cấm lấy vợ lẽ, hạn chế yêu sách của cải trong cưới hỏi...

Tuy nam nữ được tự do tìm hiểu nhưng trong nhiều trường hợp là qua một người bạn trung gian, hoặc có khi cùng cơ quan đơn vị được tổ chức công đoàn hay phụ nữ giới thiệu. Sau khi hai bên tìm hiểu đi đến quyết định rồi mới báo cho cha mẹ và họ hàng đôi bên được biết.

Tuy nhiên ở các làng xã nông thôn vùng Nghệ Tĩnh, nhất là đối với các gia đình nề nếp, điều kiện kinh tế không quá thiếu thốn, quá trình hôn nhân từ khi tìm hiểu cho đến lúc cưới tuy có đơn giản hơn nhưng các lễ chính vẫn được giữ lại. Với lễ chạm ngõ hay được tiến hành đơn giản, người cha hoặc anh cả cùng với một vài người trong họ đem chai rượu cùng đĩa trầu đến nhà người con gái đặt vấn đề xin phép cho hai cháu được tìm hiểu. Còn lễ vấn danh không thành lễ nhưng thay vào đó là những dịp chơi nhà nhau. Sau lễ chạm ngõ đôi bên mời nhau “sang chơi cho biết nhà”. Những cuộc chơi và nói chuyện này giúp gia đình đôi bên hiểu thêm về đối tượng của mình. Số người tham gia thường là dăm bảy người trong đó có cha hoặc mẹ cô dâu chú rể. Lễ vật mang theo cũng đơn giản gồm chai rượu và một ít quà bánh. Về phía đón tiếp cũng có những thành phần tương tự và hai bên cùng ăn chung bữa cơm để trao đổi chuyện trò liên quan đến hai cháu. Một yêu cầu nữa là giúp bên kia hiểu thêm về gia đình và anh em họ hàng thân cận của nhau để đi ra còn biết mà chào hỏi.

Đối với lễ ăn hỏi vẫn tổ chức tương đối trọng thể, phải đủ thành phần mỗi bên như ngày xưa. Động tác cô gái ra chào họ nhà trai vẫn có, nhưng có nơi là chú rể xin phép họ nhà gái vào đón cô dâu ra trình diện hai họ. Việc cha mẹ và người thân hai bên tặng quà cho cô dâu chú rể như dây chuyền, nhẫn vàng... và các đồ trang sức có giá trị với ý nghĩa để làm kỷ niệm, để làm vốn... cũng thường được tiến hành tại đây. Khi thấy điều kiện đã chín muồi, bên nhà trai cử vài ba người sang nhà gái đặt vấn đề xin cưới. Nhà gái cũng phải mời một số người thân cận là đại diện họ nội đến tiếp chuyện. Nếu nhà gái đồng ý, nhà trai sẽ trình bày chi tiết lịch trình tiến hành lễ cưới để nhà gái biết.

Việc tổ chức lễ cưới trong thời gian này phần lớn là theo kiểu “đời sống mới” nghĩa là không có mâm cỗ, trừ trường hợp cách xa họ nhà gái phải ở lại ăn cơm mới về được. Phần đông lễ cưới tổ chức theo đời sống mới, trên bàn chỉ có bánh kẹo, hoa quả, thuốc lá, nước chè xanh.... cha mẹ và người thân của cô dâu chú rể có thể đến dự nhưng chủ tọa đám cưới thường là đại diện chi đoàn thanh niên hay công đoàn và các tiết mục văn nghệ do hai bên đóng góp đã làm sinh động cuộc vui. Những lời chúc mới lưu truyền trong dân gian như: Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ hoặc là: Cành non lá mới/ Vui với trời hồng/ Vợ chồng gắng công/ Hoàn thành nhiệm vụ đã ra đời và phổ biến trong các lễ cưới thời gian này.

Nhiều khi cơ quan, công nông trường đông cán bộ công nhân viên chức người ta vận động sắp xếp để hai ba đám cưới cùng tổ chức chung một lần. Sau lễ cưới, cơ quan đơn vị bố trí thời gian nghỉ để vợ chồng về quê thăm hỏi anh em họ hàng đôi bên. Cũng từ đây cơ quan đơn vị và công đoàn phải lo bố trí chỗ ăn ở phù hợp cho các gia đình mới. 

Tuy nhiên ở nông thôn, nhiều đám cưới có mâm cỗ, tức theo đời sống cũ vẫn diễn ra, nhất là đối với các gia đình gia giáo và điều kiện kinh tế cho phép. Một số đám cưới kết hợp cả đời sống mới lẫn mâm cỗ. Phần đầu là liên hoan bánh kẹo thuốc lá, khi gần kết thúc gia đình và họ nhà trai cho triển khai bưng mâm ra thì bạn bè thanh niên tự giác rút lui còn hai họ, chủ yếu là nhà gái ở lại ăn uống xong mới về. Trong các đám cưới, xen lẫn các tiết mục văn nghệ là lời phát biểu “giao dâu” của đại diện họ nhà gái và lời phát biểu “nhận dâu” của đại diện họ nhà trai.

Sau khi cưới một hai ngày vẫn có tục lễ vợ chồng về nhà cha mẹ vợ, tức là tiến hành lễ hồi môn. Nếu ở gần thì ngay ngày hôm sau. Lễ vật mang theo là một cỗ xôi gà hoặc cỗ xôi thủ lợn đưa về để cúng gia tiên đàng vợ. Vợ chồng cũng ở lại ăn cơm với gia đình và những người thân bên nhà vợ. Nếu ở xa đôi vợ chồng trẻ có thể ở lại vài ba ngày để người trong gia đình dẫn đi chơi các gia đình anh em gần gũi nhất.  Đây cũng là dịp để mẹ vợ giới thiệu chú rể với anh em mình.

III. Hôn nhân trong kinh tế thị trường

Upload

 

Trong những thập kỷ gần đây, đất nước chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhiều vùng  nông thôn đang từng bước được đô thị hóa, nhiều gia đình đã có người đi xuất khẩu lao động hoặc làm ăn sinh sống ở nước ngoài, đời sống nhân dân đã được nâng cao, nhiều gia đình đã trở nên giàu có. “Phú quý sinh lễ nghĩa”, việc hôn nhân cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Mặt khác Luật hôn nhân và gia đình ngày càng đi vào cuộc sống và cùng với nhiều nguyên nhân khác nên nhận thức về hôn nhân đã có những thay đổi lớn. Tuổi kết hôn cao hơn trước rất nhiều, nam nữ từ 25 đến 30 tuổi mới xây dựng gia đình là chuyện bình thường, việc chồng nhiều hơn vợ trên dưới chục tuổi cũng không ít. Điều kiện gia đình “môn đăng hộ đối” dù còn có trong suy nghĩ của một số người nhưng cũng ít được nói ra. Khoảng cách giữa hai gia đình không còn quan trọng nữa, việc lấy vợ lấy chồng cách tỉnh, hay kết hôn với người nước ngoài cũng không còn là chuyện hiếm....  Các dịch vụ phục vụ ăn hỏi và đám cưới gần như ở địa phương nào cũng có và phục vụ rất chu đáo.

Khi đôi trai gái quyết định xây dựng gia đình, họ sẽ báo với cha mẹ đôi bên. Lễ chạm ngõ tuy cũng có nhưng rất nhẹ nhàng, hai ông thông gia tương lai chủ động gặp nhau và phần lớn là đồng ý theo nguyện vọng của con cái. Các lễ còn lại tập trung vào hai lễ chính là lễ ăn hỏi và lễ cưới. Và để thuận tiện công việc, đôi bên cũng thường thống nhất hai lễ tổ chức gần nhau trong một tháng hoặc trong một tuần lễ, cá biệt có trường hợp là hai ngày sát nhau.

Trong lễ ăn hỏi, do gộp cả lễ xin cưới nên nhà trai cũng chuẩn bị lễ vật cho cả lễ này. Các lễ vật được sắp xếp trong một số tráp gỗ sơn son thiếp vàng màu đỏ, trên có phủ khăn đỏ, gia đình nhà trai thuê từ các dịch vụ phục vụ cưới hỏi. Như vậy ngoài thành phần đại diện cho anh em họ nội, họ ngoại của chú rể còn có đoàn khiêng các tráp đựng lễ vật gồm các “nam thanh nữ tú”. Lễ tổ chức đơn giản là 3 hoặc 5 tráp, lễ trọng thể có đến 9 hoặc 15 tráp (với miền Bắc là số lẻ) trong đó chủ yếu có cau, trầu rượu, các loại bánh kẹo, thuốc lá... Còn lương thực thực phẩm chủ yếu cho buổi lễ và đồ nữ trang thì nhà trai nhờ nhà gái chuẩn bị cho nên thường có một phong bì kèm theo. Số lượng tiền trong phong bì phải nhiều hơn lượng tiền mà nhà gái sắm sửa để dọn số mâm cỗ phục vụ cho lễ này và cũng tùy theo điều kiện kinh tế nhà trai, có đám đến hàng chục triệu. Về phía nhà gái cũng phải chuẩn bị đội bưng tráp để nhận lễ mà nhà trai đưa sang. Trang phục của đội bưng lễ phải thống nhất, thường là thuê tại các dịch vụ cưới hỏi: các cô con gái thường mặc áo dài màu, con trai mặc quần tây đen, áo sơ mi trắng, đi giày.

Trong buổi lễ, ngoài phát biểu của đại diện họ nhà trai, họ nhà gái còn có việc cô dâu ra chào hai họ. Việc giao và nhận lễ vật dành cho hai bà thông gia. Sau đó đại diện họ nhà trai đưa cô dâu chú rể vào làm lễ thắp hương báo cáo ở bàn thờ gia tiên. Gần cuối buổi lễ, nhà trai đưa lễ xin cưới ra và nhà gái chấp thuận rồi đôi bên cùng trao đổi thống nhất địa điểm, cách thức, ngày giờ tiến hành.

Ở nhiều nơi, trong lễ này cha mẹ và người thân hai bên cũng tiến hành trao quà cưới: dây chuyền, nhẫn cưới, các đồ trang sức cho cô dâu và chú rể.

Kết thúc buổi lễ, nhà gái có phần “lại quả” gửi nhà trai. Lễ vật lại quả phải chia số chẵn nhưng kiêng chia đôi, ví dụ không chia 2 quả cau mà phải 4 quả, cau phải xé bằng tay, không dùng dao cắt, nắp tráp phải để ngửa, không đậy kín...     

Lễ cưới được tổ chức sau khi chính quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn. Về mặt pháp lý sau khi đăng ký kết hôn đôi trai gái được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên theo phong tục thì phải sau lễ cưới họ hàng bạn bè và cộng đồng mới thừa nhận đôi trai gái là vợ chồng. Trong điều kiện hiện nay dù ở thành phố hay nông thôn hầu hết lễ cưới đều được tổ chức hoành tráng, trọng thể và tốn kém. Với quan niệm đời người chỉ có một lần nên các bạn trẻ trong nhiều trường hợp dù kinh tế còn thiếu thốn nhưng vẫn phải cố gắng vay mượn để tổ chức đám cưới chu đáo, không thua kém bạn bè, kể cả nam nữ là công nhân các công ty đang phải ở phòng trọ. Không những thành phố mà nhiều vùng nông thôn hiện nay vẫn tổ chức đám cưới ở các khách sạn. Cô dâu được trang điểm lộng lẫy cùng chú rể ngồi xe hoa đi từ nhà mình đến nơi tổ chức và về nhà chồng. Phong trào tổ chức đám cưới ngày càng lớn, có khi đến năm bảy trăm khách trở lên với hàng chục, hàng trăm xe con đưa đón đang là “mốt” của các chàng trai con nhà quyền quý, giàu có ở thành phố và nông thôn hiện nay.

Một vấn đề đáng nói của đám cưới thời kinh tế thị trường là tiền mừng. Mừng nhiều hay ít là tùy theo quan hệ, nhưng không ít trường hợp người ta lợi dụng đám cưới để thu tiền. Vào những năm cuối của thế kỷ trước, phong bì đựng tiền mừng được đưa trực tiếp cho cô dâu, chú rể hoặc cha mẹ họ khi đi chúc rượu. Sau này các nhà làm dịch vụ đã bố trí sẵn một hộp hình quả tim đặt ngay cửa ra vào với phong bì và bút mực sẵn sàng. Họ nhà trai chỉ cần cắt cử người đứng theo dõi và bảo vệ. Ngoài một ít đám tiệc mặn tổ chức chung thường thì nhà trai và nhà gái tổ chức mời khách riêng tại nhà, có nơi mời đến hai ba ca trước ngày cưới. Tình trạng được mời đám cưới trước đây là niềm vinh dự, là sự kính trọng... ngày nay nhiều khi trở thành nỗi lo đối với nhiều gia đình ở nông thôn:

Không đi mình hóa người dưng

Đi thì biết lấy tiền mừng ở đâu?

Một đồng chẳng có trong bâu

Xin rể ngần ngại, xin dâu phiền hà.

Biết chăng có nhiều cụ già

Ở quê mùa cưới cũng là mùa lo.

(thơ Văn Gừng)

Lễ cưới dù tổ chức ở khách sạn hay ở gia đình thì người dẫn chương trình là người của trung tâm dịch vụ. Ngoài các bài hát, họ thường viễn dẫn các câu ca dao, tục ngữ nói về tình yêu đôi lứa làm cho buổi lễ thêm sinh động.  Chương trình lễ cưới cũng rất phong phú. Sau khi cô dâu và chú rể làm động tác nhập tịch, thắp hương trước bàn thờ gia tiên, tất cả ra hôn trường để dự lễ cưới. Nếu có tiệc mặn thì cô dâu và chú rể cùng đi chúc rượu hoặc bia các mâm. Nhiều nơi hai ông bà thông gia cũng cùng đi chúc rượu và cảm ơn quý khách. Sau lễ tiệc các bạn trẻ có thể biểu diễn các tiết mục khiêu vũ, nhảy múa, ca hát làm cho không khí thêm vui tươi. Còn lễ hồi môn sau khi cưới thì có người thực hiện, có người không nhưng thường thì vợ chồng về thăm bố mẹ vợ là chính.

Tóm lại việc hôn nhân qua quá trình phát triển của lịch sử đã có những thay đổi phù hợp với xu thế của thời đại. Các tục lễ ăn hỏi, cưới xin cũng phần nào phản ánh trình độ văn hóa của xã hội. Nếu như thời phong kiến chưa có pháp luật thì những tục lễ phức tạp đã góp phần ràng buộc hai bên. Trong hai cuộc kháng chiến, đời sống  khó khăn thiếu thốn, đại bộ phận nam nữ thanh niên và gia đình chấp nhận tổ chức cưới xin theo đời sống mới đơn giản và tiết kiệm. Nhưng khi kinh tế gia đình có điều kiện phát triển theo tiến trình đổi mới của đất nước, kinh tế thị trường đã chi phối mạnh mẽ các thủ tục và các lễ lạt trong hôn nhân làm cho cưới hỏi trở thành “gánh nặng” đối với  nhiều nam nữ thanh niên và gia đình thì việc chủ động chọn hình thức tổ chức thích hợp là yêu cầu đặt ra đối với các bạn trẻ và các bậc cha mẹ. Hãy tỉnh táo “Liệu cơm gắp mắm” và đừng “Vung tay quá trán”. Về mặt xã hội hiện tượng tổ chức đám cưới lớn để thu “lợi nhuận” cũng cần được phê phán.

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Diễn đàn khác:
Về sách giáo khoa bậc phổ thông - Như tôi hiểu và mong muốn (8/8/2018)
Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ (7/8/2018)
Quản trị nhân lực công (7/8/2018)
Tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng! (2/8/2018)
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm (2/8/2018)
Hình thành dần thói quen làm khoa học cho doanh nghiệp (20/7/2018)
Hãy nghĩ để hướng tới ngành trông rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp cho miền Tây Nghệ An (9/7/2018)
Ý kiến về cải cách giáo dục: Thầy giáo phải có tri thức uyên bác và văn hóa cao (9/7/2018)
Du lịch và vấn đề đưa "đặc sản" dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch ở xứ Nghệ (29/6/2018)
Thay đổi tư duy và cách làm để phát triển du lịch văn hóa (28/6/2018)
Tham nhũng và tham nhũng tinh thần (28/6/2018)
Về việc “đánh giá lại” lịch sử (26/6/2018)
Đặc khu - Động lực phát triển và giá trị bền vững (18/6/2018)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ (24/5/2018)
Luận bàn về CHỮ và NGHĨA (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,870 | Tất cả: 1,349,751
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn