KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chú cẩu trong đời sống văn hóa người Việt
Tin đăng ngày: 2/3/2018 - Xem: 190
 

Hà Đan

Upload

 Mỗi năm khi Tết đến Xuân về, là dịp chúng ta tiễn đưa một con giáp cũ, đón chào con giáp mới. Văn hóa 12 con giáp hay những câu chuyện về 12 con vật tưởng đã xưa và cũ, nhưng lại là câu chuyện muôn thuở, luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần theo vòng quay của vũ trụ và nhịp điệu của các mùa. Sự thật hiển nhiên này cho thấy: Văn hóa 12 con giáp không còn dừng lại ở các câu chuyện về thế giới muôn loài mà ẩn chứa đằng sau nó là vô số những giá trị mang tính biểu trưng cao, có khi mang hơi thở, tâm thức của cả một dân tộc.

Trong ý nghĩa như vậy, “chú Cẩu” là một động vật quá đỗi thân thuộc và gần gũi với con người. Song nếu nhìn lại sự hiện diện của loài vật này trong dòng chảy văn hóa dân tộc, chúng ta vẫn khám phá ra nhiều câu chuyện bổ ích, lý thú và bất ngờ về nhân sinh quan - thế giới quan người Việt.

Theo nhiều tài liệu ghi chép lại, từ xa xưa, khi con người chưa bước vào thế giới văn minh - còn mưu kế sinh nhai bằng săn bắt, hái lượm... thì chó với các đặc tính như thông minh, khỏe khoắn đã trở thành người bạn “đồng minh” giúp con người trong nhiều hoạt động liên quan đến cuộc sống lúc bấy giờ. Mấy ai không biết đến câu chuyện về chú chó dũng mãnh xông vào bắt mồi và bảo vệ những thành quả của chủ nhân mình như thế nào trong truyện “Lục súc tranh công” của một nghệ nhân vô danh tài hoa cuối thế kỷ XIX: “Đêm năm canh, con mắt như chong/ Đứa đạo tặc nép oai khủng động/ Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống/ Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh”.

Sau này, vì đặc tính trung thành, lại là con vật khá khôn ngoan, chó trở thành “người đầy tớ tâm phúc” giúp con người nhiều việc. Đối với những cư dân làm nông nghiệp, sống ở nông thôn như người nông dân Việt Nam, chó là con vật giữ nhà cực kỳ tin cậy. Để bảo vệ tài sản và những thành quả lao động của chủ, chó sẵn sàng “tuyên chiến với kẻ thù” có ý định xâm phạm đến cuộc sống bình yên cũng như có ý cướp đoạt đi nguồn tài sản vật chất mà chủ nhân nó đang sở hữu. Không những thế, chó còn là biểu tượng của sự trung thành, gần gũi, quấn quýt: “Con không chê cha mẹ khó/ Chó không chê chủ nghèo”... Song đối với kẻ thù, nó lại vô cùng đáng sợ. Dân gian có câu: “Hàm chó, vó ngựa, cựa gà, ngà voi” chính vì lẽ đó. “Hàm chó” cũng như “vó ngựa, cựa gà, ngà voi” là những nơi nguy hiểm, lỡ “đụng” vào có khi phải đánh đổi bằng tính mạng, không thể xem thường.

Chó thường được dân gian “mượn” để khuyên con người ta về các hành vi ứng xử trong cuộc sống thường nhật. Nhắn nhủ ai đó trước khi làm việc gì cũng nên cân nhắc kỹ lưỡng, tục ngữ có câu: “Chó quanh chỗ 3 lần mới nằm, người uốn lưỡi 7 lần mới nói”. Trong các mối quan hệ người - người, đề cập đến một sự việc gì chúng ta cũng nên nhìn trước ngó sau rồi mới hành động để tránh gây nên những bất cẩn, phiền phức, tục ngữ có câu: “Đánh chó ngó mặt chủ”.

Bởi vì gắn với nhà nông và các quy trình trong sản xuất nông nghiệp nên dân gian có cả một kho kinh nghiệm về chọn giống chó, nuôi chó, thưởng thức thịt chó: Chó khôn tứ túc huyền đề, tai thì hơi cúp đuôi thì cong cong (kinh nghiệm chọn giống chó tốt); Chó giống cha, gà giống mẹ (quy luật di truyền của súc vật); Chó tháng 3, gà tháng 7 (kinh nghiệm ăn uống, không nên ăn hai loài vật này vào tháng 3 và tháng 7 vì chúng gầy, ăn không ngon); Chó thiến già, gà thiến non (muốn thiến con vật và chén ngon miệng thì gà non ăn mới ngon và chó già ăn mới thú); Chó liền da, gà liền xương (chó, gà là loài có sức đề kháng cao nên khi gặp sự cố rất chóng lành bệnh); Giàu nuôi chó, khó nuôi dê, không nghề nuôi ngỗng (kinh nghiệm nuôi gia súc gia cầm của người nông dân); Chó treo mèo đậy (kinh nghiệm đề phòng ăn vụng của chủ gia đối với chó, mèo)...

Đặc biệt, trong kho tàng tục ngữ người Việt, chó được người ta nhân cách hóa để chỉ những thói hư tật xấu của con người như: Chó chạy trước hươu (chỉ những người không khiêm tốn); Chó chê mèo lắm lông (chỉ những người không thấy được cái dở của mình lại còn dè bỉu chê bai người khác); Ăn chó ăn cả lông, ăn hồng ăn cả hạt; chó già giữ xương (chỉ kẻ tham lam); Chó ăn vụng bột (nhút nhát, sợ sệt); Chó cậy gần nhà, ma cậy gần ngõ (ỷ vào lợi thế của mình để hù dọa, bắt nạt người khác); Chó đeo cổ chó (chỉ những kẻ kệch cỡm); Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi (phê phán thói hãnh tiến rởm, đạo đức giả); Ậm ạch như chó chửa (lề mề, chậm chạp); Chó có rồng đất (vô dụng, bù nhìn); Cắm cẳn như chó cắn ma (chỉ người hay cáu gắt, khó tính)...

Và hẳn trong mỗi chúng ta đều biết đến một truyện cổ rất hay mà dân gian mượn để giải thích cho câu tục ngữ Chó đá biết cười - truyện “Hai anh em và con chó đá”. Truyện kể về hai anh em nhà nọ tuy cùng mẹ cha sinh ra những tính tình lại trái ngược hẳn nhau. Người em nghèo nhưng chất phác, đôn hậu. Người anh giàu lại tham lam, keo kiệt. Một hôm, có lão ăn mày đến xin cơm người anh, anh ta không cho, thậm chí không ngần ngại xua đuổi và hắt hủi lão. Ngược lại, vợ chồng người em đón tiếp niềm nở, biết nhịn miệng đãi khách. Cảm động trước tấm chân tình của vợ chồng người em, lão ăn mày liền báo đáp bằng cách dẫn vợ chồng người em lên vách ngọn núi nọ, đến chỗ có hai con chó đá đang chầu trước một cái bệ và nói với vợ chồng người em rằng sau khi lão dùng gậy trúc gõ vào đầu chó ba cái, nó sẽ há miệng và vợ chồng người em thích lấy bao nhiêu vàng thì lấy. Gặp chuyện may mắn như vậy, vợ chồng người em trở nên giàu có. Vợ chồng người anh tò mò, sang hỏi lý do. Vợ chồng người em đem thuật lại câu chuyện y như thực tế đã xảy ra. Vợ chồng người anh nghe vậy, tưởng bở cũng đi khắp nơi mọi chốn tìm gặp lại lão ăn mày, cầu xin lão ban phước cho anh ta giống như người em... song mọi chuyện hoàn toàn ngược lại. Vẫn ông lão ăn mày ấy, ông cũng dẫn hai vợ chồng người anh lên ngọn núi nọ nơi có hai chó đá, cũng dùng gậy trúc của mình làm cho chó há miệng ra. Nhưng người anh vừa cho tay vào miệng chó, chưa kịp lấy vàng thì chó đã ngậm miệng lại làm tay anh ta bị mắc kẹt không tài nào rút ra được. Cuối cùng, anh ta hiểu rằng đó là sự trừng phạt cho thói xấu bụng và tham lam của vợ chồng mình.

Câu chuyện trên minh họa cho câu tục ngữ chó đá biết cười cũng là nhằm phê phán hạng người tham lam, dốt nát trong xã hội, sẵn sàng làm cả những công việc u tối, ngớ ngẩn miễn sao có được lợi lộc khiến cho vật vô tri vô giác cũng phải nực cười.

Như vậy, có thể nói, dù gắn với nhiều thói xấu, chó vẫn là loài vật gắn bó với đời sống nông thôn của người Việt cùng với gà, trâu, lợn... như câu thơ của thi hào Nguyễn Khuyến: “Trâu già gốc bụi phì hơi nắng/ Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người”. Và tuy là loài vật không xuất hiện trong các loại hình nghệ thuật chính thống nhưng ở một số làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng thường có tượng chó đá để phòng gian, trừ tà. Chó đá ở làng, đền, đình miếu được tạc khắc trong dáng vẻ oai vệ, oai nghiêm; còn tượng chó đá trong nhà thường nhỏ, mang dáng vẻ hiền lành, không to lớn như chó đá ở đình, đền, phủ. Ngày nay, tục thờ chó đá vẫn còn khá phổ biến ở nông thôn hoặc một số vùng quanh Hà Nội như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên…

Thiết tưởng, nói đến chú cẩu nhân năm Mậu Tuất, chúng ta cũng không nên quên trong nền văn học Việt Nam thời hiện đại không thiếu những trang văn cảm động, thấm đẫm tình người về “cậu Vàng” trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Lão Hạc là một người nông dân nghèo nơi làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám nên đối với Lão, “cậu Vàng” không chỉ mang ý nghĩa tài sản, một “vật nuôi Lão ấp ủ lúc cưới con sẽ thịt” mà còn là một sợi dây vô hình lấp đi khoảng trống cô đơn và hiu quạnh giữa lão và con trai, thậm chí là một “người thân”, “bạn tâm tình”. Lão gọi cậu Vàng” như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Lão mắng yêu, lão cưng nựng, chiều chuộng, lão bắt rận, âu yếm, trò chuyện... Con chó, trong ý nghĩa như vậy, đâu chỉ là một vật nuôi đơn thuần.

Cùng với Nam Cao là Ngô Tất Tố. Trong khi lột tả bước đường cùng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, tác giả tiểu thuyết Tắt đèn đã dựng lên chi tiết chị Dậu bán chó, bán con. Để có được hai đồng cứu anh Dậu, chị rơi vào cảnh đường cùng và tột đỉnh của sự đau đớn. Tâm trạng ấy được Ngô Tất Tố diễn tả lại bằng một đoạn văn đến nay, vẫn day dứt trong lòng người đọc: “Với những tiếng thổn thức trong đáy tim, những giọt nước mắt luôn luôn đọng ở gò má, chị Dậu cố sống cố chết nhũng nhẵng dẫn con chó lẽo đẽo dưới ánh nắng mùa hè. Con vẫn lướt mướt khóc, chó vẫn ý ẳng kêu, chị vẫn nhất định giả câm giả điếc mong cho chóng đến nhà cụ Nghị”...

Trải qua hàng ngàn năm, cũng như nhiều con vật khác, chó luôn gắn bó, đồng hành cùng con người, trở thành một phần của đời sống làng quê Việt và ít nhiều mang những giá trị văn hóa, phản ánh tâm thức dân tộc qua những chặng đường lịch sử.

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh (25/5/2018)
Bác Hồ nói về sự nghiệp khoa học - kỹ thuật (24/5/2018)
Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian (21/5/2018)
Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm ở Hà Nội (21/5/2018)
Kho báu văn hóa từ các ngôi cổ tháp (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 848 | Tất cả: 1,301,024
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn