KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Văn hóa tộc người trong bối cảnh kinh tế thị trường (Khảo sát sự biến đổi trong văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An)
Tin đăng ngày: 1/3/2018 - Xem: 254
 

 

NCS Bùi Minh Hào

Trong gần vài thập kỷ qua, kinh tế - xã hội ở min Tây Nghệ An đã có nhiu thay đổi theo hướng thị trường hóa. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo điu kiện để người dân tiếp cận nhanh hơn với cuộc sống hiện đại, đời sống không ngừng được nâng cao cả vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, nó cũng tác động mạnh mẽ đến nn văn hóa truyn thống của các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn. Một mặt, kinh tế thị trường làm cho nhiu yếu tố văn hóa truyn thống tộc người bị mai một, mất mát. Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra những cơ hội để người dân phát huy các yếu tố văn hóa truyn thống trong quá trình phát triển kinh tế. Qua khảo sát sự biến đổi trong văn hóa mặc của một số nhóm người Thái ở các địa bàn khác nhau thuộc min núi phía Tây Nghệ An, bài viết này muốn bàn thêm v những vấn đ đó.

Upload

Ảnh: Sách Nguyễn

1. Văn hóa tộc người trong bối cảnh kinh tế thị trường ở min núi

Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XXI, vấn đề chuyển đổi kinh tế ở miền núi được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Một số nghiên cứu đã đi sâu vào các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển ở miền núi. Trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu của Vương Xuân Tình và các cộng sự (2014) đã đề cập đến vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển bền vững ở vùng biên giới, lấy bối cảnh tương tác xuyên quốc gia về văn hóa, kinh tế. Các tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng văn hóa tộc người là nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của vùng biên giới cũng như giữ gìn an ninh quốc phòng. Một công trình quan trọng khác là cuốn sách “Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam” (Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm và Nghiêm Phương Tuyến biên tập, 2008). Đây là tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, đề cập đến quá trình chuyển đổi kinh tế của các tộc người dưới tác động của chính sách đổi mới, của quá trình thương mại hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, cũng như hệ quả mà quá trình chuyển đổi đó đem đến cho các nền văn hóa truyền thống. Khái quát về tình hình nghiên cứu phát triển miền núi Việt Nam, các tác giả cũng khẳng định rằng “chuyển đổi của vùng cao ở Việt Nam là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm chú ý trong giới học giả. Điều này thể hiện ở số lượng ngày càng nhiều các bài báo, chuyên đề về sinh kế, thay đổi môi trường, mối quan hệ dân tộc… ở vùng cao. Tuy nhiên, có rất ít những đánh giá tổng hợp về những chuyển đổi ở vùng cao…” (tr.9).

Nhìn chung, những nghiên cứu gần đây của nhiều học giả đã đụng đến vấn đề văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Như nhận định của Jean Michaud (2010): “Đối với nhiều tác giả của phong trào hiện đại hóa, sớm hay muộn thì những người dân vùng cao này cũng bắt đầu hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển kinh tế, hoặc, từ một góc độ phê phán hơn, cũng trải nghiệm “sự tỉnh ngộ của thế giới”, cái làm hao mòn đặc điểm văn hóa, làm sứt mẻ các bản sắc, và trong trường hợp chúng ta quan tâm, là nó đã dần loại bỏ các hoạt động kinh tế truyền thống ra khỏi cấu hình văn hóa của họ” (tr.52). Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và kinh tế thị trường hiện tại vẫn chưa tương xứng với vai trò quan trọng của vấn đề này.

So với các vùng miền núi phía Bắc thì các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An vẫn còn ít được giới khoa học quan tâm. Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ qua cũng đã có công trình nghiên cứu về các tộc người ở đây được công bố. Trước đây, nghiên cứu tập trung vào các quá trình tộc người, vào truyền thống văn hóa của các nhóm cộng đồng khác nhau. Gần đây, đã xuất hiện một số nghiên cứu về quá trình phát triển miền núi và những biến đổi về văn hóa. Có thể kể đến một số công trình sau: Từ cái nhìn v các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh mà Bùi Đình Sâm (2013) đã phân tích vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nghiên cứu này đã phân tích được thực trạng cũng như đưa ra một số đề xuất về các hướng đi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa dành nhiều sự quan tâm đến sự biến đổi văn hóa tộc người và những nguy cơ xung đột văn hóa từ hoạt động của các doanh nghiệp. Trong khi đó, Trần Thị Thủy và Đậu Quang Vinh (2015) lại phân tích về khía cạnh phát triển du lịch cộng đồng ở miền núi Nghệ An. Cuốn sách này phần nào đã trình bày được những điểm mạnh và hạn chế về tiềm năng để phát triển du lịch, trong đó nhấn mạnh đến du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, do Nghệ An mới tiệm cận với sự phát triển về du lịch cộng đồng, những tác động của nó đến văn hóa tộc người thì vẫn chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo. Gần đây, trong một luận án về văn hóa học, Hoàng Văn Hùng (2017) đã phân tích một ví dụ về truyền thống và sự biến đổi của lễ hội người Thái ở Nghệ An. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về phát triển miền núi Nghệ An cần phải được tìm hiểu sâu hơn, nhất là sự phát triển của kinh tế thị trường và tác động của nó đến văn hóa truyền thống tộc người.

Miền núi phía Tây Nghệ An là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như người Thái, người Mông, người Khơ Mú, người Thổ, người Ơ Đu. Trong đó, người Thái giữ vị trí quan trọng nhất, không chỉ về số lượng dân cư mà còn về vị trí kinh tế, văn hóa, xã hội. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, người Thái ở Nghệ An có 295.312 người, chiếm 10,13% dân số toàn tỉnh và 69,92% tổng dân số các dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh. Khác với người Thái ở Tây Bắc chia theo ngành Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Đón) thì người Thái ở Nghệ An phân chia theo các nhóm địa phương như Tày Mường, Tày Thanh, Man Thanh, Tày Mười, Tày Dọ, Tày Nhại, Tày Khăng, Hàng Tổng. Ngoài những đặc trưng chung của tộc người, thì người Thái ở Nghệ An với người Thái ở Tây Bắc cũng có sự khác nhau như nhận định của Vi Văn An: “Do cư trú ở các địa phương khác nhau, cách biệt nhau về không gian địa lý, lại chịu ảnh hưởng văn hóa của các tộc người láng giềng khác nhau nên bên cạnh sự tương đồng ấy, giữa họ cũng có những nét khác biệt mang tính địa phương” (Vi Văn An, 2017, tr.41).

Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác, nền văn hóa truyền thống của người Thái ở Nghệ An trong những năm gần đây cũng bị biến đổi nhanh chóng do những ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó đặc biệt là tác động của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An mới chỉ phát triển trong gần hai thập niên qua nhưng đã có những tác động mạnh mẽ đến văn hóa các tộc người ở đây. Biến đổi văn hóa truyền thống dưới tác động của kinh tế thị trường là một vấn đề lớn. Bên cạnh những vấn đề lý thuyết để nghiên cứu tổng quát thì cần đi sâu vào nghiên cứu sự biến đổi của những yếu tố văn hóa cụ thể dưới tác động của kinh tế thị trường. Trong bài viết này, dựa trên tư liệu khảo sát thực địa về biến đổi văn hóa mặc ở người Thái tại một số địa phương ở miền núi phía Tây Nghệ An như là một ví dụ minh họa cho quá trình biến đổi văn hóa tộc người dưới tác động của kinh tế thị trường. Cụ thể, bài viết này phân tích biến đổi văn hóa mặc của 3 cộng đồng người Thái khác nhau ở Nghệ An. Thứ nhất là nhóm người Thái ở Bản Ang, xã Xá Lượng (huyện Tương Dương), nằm ngay trên đường quốc lộ số 7 thuộc nhóm Thái Hàng Tổng. Thứ hai là nhóm người Thái ở Bản Nưa, thuộc xã Yên Khê (huyện Con Cuông), nằm cách thị trấn trung tâm của huyện khoảng 7 km cũng thuộc nhóm Thái Hàng Tổng. Thứ ba là nhóm người Thái ở Bản Cắm, thuộc xã Tri Lễ (huyện Quế Phong), nằm cách xa thị trấn và đường quốc lộ hơn, thuộc nhóm Thái Man Thanh. Sở dĩ lựa chọn các nhóm Thái khác nhau như vậy vì sự phát triển kinh tế thị trường ở các địa phương này có những mức độ khác nhau. Và như vậy thì mức độ biến đổi văn hóa dưới tác động của kinh tế thị trường cũng có những mức độ khác nhau.

2. Biến đổi trong văn hóa mặc của người Thái ở min Tây Nghệ An

Trong xã hội truyền thống, văn hóa mặc giữ một vai trò quan trọng, và thể hiện nhiều nét đặc trưng của văn hóa Thái. Tuy nhiên, hiện nay, văn hóa mặc của người Thái ở Bản Ang, Bản Cắm và Bản Nưa đang có nhiều biến đổi to lớn. Trước đây, người Thái tự trồng bông dệt vải và tự may áo, quần, váy, khăn. Phụ nữ mặc váy và áo, đàn ông mặc quần và áo. Trang phục cũng là một cách để phân biệt người phụ nữ đã lập gia đình hay chưa, hay phân biệt họ thuộc nhóm dân tộc nào. Đàn ông mặc quần áo màu nâu hoặc đen và có quấn khăn trong một số dịp.

Người phụ nữ Thái từ bé đã phải học dệt vải và may quần áo. Trước khi lấy chồng họ đã phải dệt và may được nhiều chăn, đệm, gối và áo váy chuẩn bị khi về nhà chồng. Họ trồng cây bông để dệt vải. Sau khi thu hoạch bông về họ quay thành tơ, làm thành sợi rồi mang đi nhuộm bằng cây chàm lấy trong rừng. Sau đó họ sử dụng khung cửi dệt thành các tấm vải và may thành áo, quần. Chiếc váy của người phụ nữ Thái là một sản phẩm mang nhiều nét văn hóa truyền thống với những hoa văn sặc sỡ. Dệt may cũng là một nghề thủ công quan trọng của người Thái, họ có thể dệt và may quần áo đem đi bán hoặc trao đổi lúa gạo cho người Khơ Mú gần đó. Nhiều thương lái còn mua áo quần của họ đem qua Lào hay Thái Lan để bán kiếm lời (Nguyễn Đình Lộc, 2009, tr.68-69).

Hiện nay, văn hóa mặc của người Thái ở Bản Ang, Bản Cắm và Bản Nưa đã thay đổi nhiều theo hướng mất dần các trang phục truyền thống. Sự biến đổi này có sự phân hóa về tuổi tác và cả về giới tính. Đối với đàn ông, chỉ một số ít người lớn tuổi còn mặc những bộ đồ truyền thống, còn phần lớn họ mặc áo quần mua từ người Kinh. Còn với phụ nữ, sự phân hóa theo lứa tuổi càng rõ rệt hơn. Những người ngoài 40 tuổi, chủ yếu mặc váy, áo truyền thống, trong khi đó, những người trẻ tuổi hầu như rất ít khi mặc trang phục truyền thống. Với bộ phận này, họ chỉ mặc vào một số dịp nhất định trong năm như lễ hội, đám cưới, tết... Trong khi những bộ trang phục truyền thống đang dần bị mai một, mất mát thì những trang phục mua từ người Kinh lại ngày càng phổ biến trong đời sống người Thái. Ở chợ lớn gần địa bàn cư trú có nhiều cửa hàng áo quần của người Kinh với mẫu mã đa dạng, giá cả phong phú, phù hợp với túi tiền của các đối tượng khác nhau. Chủng loại áo quần đa dạng để cho họ có nhiều sự lựa chọn hơn. Điều này càng đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa mặc của người Thái.

Ở các địa phương có sự phát triển kinh tế thị trường khác nhau thì sự biến đổi trong văn hóa mặc cũng ở mức độ khác nhau. Ở Bản Nưa, do gần thị trấn hơn, kinh tế thị trường đã phát triển mạnh hơn với nhiều quán sá, quán tạp hóa, du lịch cộng đồng và buôn bán hàng thủ công thì văn hóa mặc biến đổi nhanh chóng hơn. Hầu hết những người phụ nữ trong Bản Nưa ngày thường đều mặc trang phục mua từ người Kinh. Chỉ có một số phụ nữ lớn tuổi là còn mặc trang phục truyền thống. Ở Bản Ang, gần đường quốc lộ, kinh tế thị trường có phát triển nhưng chưa sôi động như Bản Nưa nên số người mặc trang phục truyền thống còn khá nhiều. Có thể thấy những người phụ nữ trên 40 tuổi đều mặc trang phục truyền thống vào ngày thường. Còn những người trẻ tuổi, hay những người đi ra ngoài làm việc thì chủ yếu mặc trang phục mua từ chợ. Trong khi đó, ở Bản Cắm, do cách xa trung tâm và đường quốc lộ nên kinh tế hàng hóa phát triển chậm hơn hai địa bàn kia, nên trang phục truyền thống lại phổ biến hơn. Hầu hết phụ nữ trong bản vẫn còn mặc trang phục truyền thống. Chỉ một số cô gái trẻ còn đi học hay những người đi làm ở công ty trồng cây chanh leo gần đó hay mặc trang phục mua ngoài chợ. Tuy nhiên, với những người đã có gia đình, khi đi làm họ mặc trang phục như người Kinh nhưng về nhà thì lại mặc trang phục truyền thống.

Kinh tế thị trường cũng tác động đến các đối tượng ở các mức độ khác nhau nên phản ứng về sự thay đổi văn hóa mặc cũng có sự khác nhau theo giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi... Những người lo lắng nhất trong sự biến đổi này có lẽ là những người phụ nữ luống tuổi. Họ khao khát gìn giữ những bộ trang phục truyền thống của dân tộc và mong muốn con cháu hàng ngày mặc nó. Họ cũng cố gắng dạy cho con gái về nghề trồng bông, dệt vải và may áo, thêu váy... vì họ luôn lo ngại rồi đây khi ra ngoài xã hội, không còn nhận ra đâu là người Thái, đâu là người Kinh do mặc giống nhau. Trong khi đó, với những người trẻ tuổi, việc mặc trang phục truyền thống không phải là vấn đề quá quan tâm của họ. Họ vẫn mặc những bộ áo váy truyền thống trong các dịp tham gia lễ hội, đi chơi tết hay đi dự đám cưới của một người trong cùng dân tộc. Còn khi đi ra ngoài, giao lưu với các cộng đồng thuộc dân tộc khác, họ lại mặc trang phục mua từ người Kinh. Bởi họ nghĩ đó là sự hội nhập, thuận tiện cho việc giao lưu, trò chuyện và không bị nhiều người để ý. Với những người đàn ông, họ vẫn thích mặc trang phục dân tộc, nhưng không quá coi nặng vấn đề này. Phần lớn họ đều mặc trang phục mua ngoài chợ, khi nói về trang phục truyền thống, họ chỉ thể hiện mong muốn vợ con mặc trang phục truyền thống nhưng cũng chấp nhận khi những người trẻ tuổi mặc áo quần mua vì thấy điều đó cũng thuận lợi cho cuộc sống của họ. Công việc cũng có ảnh hưởng đến văn hóa mặc, với những người ít ra ngoài giao tiếp thì họ mặc đồ truyền thống nhiều hơn, còn với người phải đi ra giải quyết công việc, tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau thì hay mặc trang phục mua ngoài chợ nhiều hơn.

3. Hệ quả và các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi văn hóa mặc người Thái

Sự thay đổi trong văn hóa mặc cũng kéo theo nhiều hệ quả khác nhau. Trước hết, sự mất đi dần những bộ trang phục truyền thống cũng là sự mất mát của nhiều nét đặc trưng văn hóa tộc người. Trong thời nguyên thủy, trang phục là một biểu hiện của sự “ứng phó với môi trường tự nhiên”, mặc chỉ mang chức năng che đậy, bảo vệ cơ thể. Nhưng theo thời gian, mặc trở thành một nét văn hóa cộng đồng, trang phục trở thành một thành tố của văn hóa tộc người. Trang phục mang theo cả một lịch sử cộng đồng, một hệ giá trị văn hóa tộc người trên đó. Trang phục cũng là một “thẻ căn cước chung” của một cộng đồng và có thể phân biệt các cộng đồng khác nhau qua trang phục. Trong những lễ hội chung của cả vùng, những người Thái tham gia với những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ, họ tự hào về điều đó và người ta dễ dàng phân biệt họ với các cộng đồng khác. Trong nội bộ một cộng đồng, trang phục cũng là một “thẻ căn cước cá nhân” để đánh giá giá trị của người làm ra nó. Với người Thái, trong những dịp lễ hội, hay các sinh hoạt cộng đồng khác, họ có thể tìm hiểu, đánh giá người con gái qua những bộ trang phục họ mặc. Vì những người biết làm những bộ trang phục đẹp thể hiện là người khéo tay, chăm chỉ và đảm đang, đáng để lấy làm vợ hơn người khác. Nói cách khác, trang phục truyền thống tôn vinh giá trị của người sản xuất ra nó. Nhưng hiện nay, thông qua thị trường, người ta có thể mua những bộ trang phục mình thích, và nó không thể hiện được những nét văn hóa của người sản xuất lẫn người mặc nó.

Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An, nhưng quan trọng nhất có lẽ là tâm lý tộc người. Tâm lý tộc người là yếu tố nội tại, ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi văn hóa tộc người. Tâm lý người Thái đang có sự phân hóa theo thế hệ và có sự đứt gãy giá trị giữa các thế hệ với nhau. Những người già thường quay về với truyền thống, khao khát bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống. Còn giới trẻ, họ vẫn chưa quay lưng với giá trị truyền thống nhưng cũng không quá coi trọng vấn đề đó. Họ lựa chọn cả những giá trị dân tộc khi vẫn mặc trang phục truyền thống trong những dịp quan trọng, nhưng cũng tiếp nhận các giá trị mới trong cuộc sống hàng ngày để thuận tiện với công việc. Không những vậy, tâm lý tộc người cũng có thay đổi, trong các sinh hoạt chung, một bộ phận lớn người Thái không muốn thể hiện sự khác biệt trong văn hóa mặc của mình với các cộng đồng khác mà có tâm lý hòa đồng, hòa nhập. Khi họ tự hào vì mình là người Thái và thể hiện niềm tự hào đó qua bộ trang phục mặc trên người thì câu chuyện lại khác, còn khi họ muốn hòa vào các cộng đồng khác, đặc biệt là người Kinh thì họ sẽ mặc những bộ đồ mua ngoài chợ và câu chuyện sẽ bị đẩy đi xa hơn. Những bộ trang phục mới xuất hiện, mẫu mã đa dạng, giá cả cũng hợp lý, cùng với nó là những giá trị mới hình thành trong đời sống văn hóa, khiến cho tư duy con người thay đổi.

Hiện nay, nhiều người bày tỏ tâm lý lo ngại cho quá trình biến đổi văn hóa tộc người, trong đó có văn hóa mặc của người Thái. Sự lo lắng đó hoàn toàn có cơ sở khi mà bản sắc văn hóa tộc người đang bị đe dọa nghiêm trọng và thay đổi, mất mát ngày càng nhanh. Nhưng cũng nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan. Trước hết, bản sắc văn hóa tộc người không phải là một sự vật, mà là một quá trình xác lập giá trị của một cộng đồng. Bản sắc văn hóa cũng vận động và biến đổi qua thời gian và xoay quanh trục giá trị cơ bản của nó. Bảo tồn bản sắc văn hóa là bảo tồn các giá trị nền tảng của nền văn hóa, chứ không phải đóng băng nền văn hóa trong một thời điểm nhất định để lưu giữ. Theo đó, sự biến đổi văn hóa là một vấn đề khách quan, không thể cưỡng lại. Trong bối cảnh hiện nay thì tốc độ biến đổi ngày càng tăng lên do sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa ngày càng sôi động. Một vấn đề quan trọng nữa là định hướng phát triển kinh tế thị trường. Nhiều năm qua, một số người coi kinh tế thị trường là thủ phạm chính của sự biến đổi và mai một bản sắc văn hóa tộc người. Không thể phủ nhận kinh tế thị trường là một tác nhân quan trọng cho sự biến đổi văn hóa tộc người, nhưng nếu chỉ nhìn theo hướng tiêu cực như vậy thì cũng chưa hẳn hợp lý. Thị trường cũng tạo ra những cơ hội để các cộng đồng bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của mình qua quá trình văn hóa hóa thị trường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất dần những bộ trang phục truyền thống của người Thái là những sản phẩm về dệt may của họ chưa thể biến thành hàng hóa trên thị trường. Nhiều địa phương khác đã thành công trong việc đưa các sản phẩm đặc trưng của tộc người ra thị trường để phát triển, từ đó làm cơ sở để bảo tồn văn hóa truyền thống. Nói cách khác, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong thời đại toàn cầu hóa và thị trường hóa cần phải gắn với quá trình phát triển.

4. Trải nghiệm thị trường và vấn đ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tộc người trong giai đoạn hiện nay

Trong vô vàn các yếu tố tác động đến quá trình phát triển của cộng đồng dân tộc thiểu số thì sự trải nghiệm thị trường có một vị trí nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển. Sự trải nghiệm không đồng nhất với kinh nghiệm dù cả hai đều phải bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn. Trong khi kinh nghiệm có thể được truyền tải qua các thế hệ và có thể học tập được thì trải nghiệm lại không. Trải nghiệm là quá trình một cá nhân, một cộng đồng tham gia trực tiếp và tương tác trong môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, để từ đó, họ có những nhận thức, cảm xúc về các vấn đề họ quan tâm. Đó còn được gọi là quá trình cá nhân hóa thực tiễn phát triển. Ở các cộng đồng đang bước chân vào nền kinh tế thị trường, trải nghiệm thị trường là một vấn đề quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của cá nhân lẫn cộng đồng. Vậy nên, ở nhiều quốc gia và địa phương, thay vì trốn tránh hay bài trừ thị trường, các chiến lược phát triển hướng đến nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của người dân để họ chủ động tham gia vào thị trường, trong đó quan trọng là tăng cường sự trải nghiệm thị trường cho người dân.

Ở hầu hết các dân tộc thiểu số, những người lớn tuổi có thừa sự trải nghiệm trong nền văn hóa truyền thống nhưng lại thiếu trải nghiệm trong kinh tế thị trường nên lúng túng trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống. Còn những người trẻ tuổi không được trải nghiệm nhiều trong nền văn hóa truyền thống và trải nghiệm thị trường cũng hạn chế nên trở thành tầng lớp “bâng khuâng” giữa hai hệ giá trị. Họ muốn quay về truyền thống cũng không được mà tiến lên hiện đại cũng gặp khó khăn. Người Thái ở miền Tây Nghệ An đang trong quá trình tiếp cận kinh tế thị trường, nhưng chủ yếu họ tiếp nhận các sản phẩm từ ngoài vào, còn chưa có nhiều sản phẩm để đưa ra thị trường ngoài vài loại nông sản. Nhiều người đã phát hiện ra điều đó nhưng làm thế nào để tiếp cận thị trường thì họ lại không biết bởi họ thiếu sự trải nghiệm thị trường.

Có thể nhìn thấy vai trò của sự trải nghiệm thị trường qua việc so sánh một số người phụ nữ là chủ các tiệm tạp hóa trong các bản với bộ phận còn lại. Những người này, qua quá trình buôn bán các nhu yếu phẩm, họ tương tác với người Kinh (khi đi mua hàng về để bán) và tương tác với người trong bản qua bán hàng. Quá trình tương tác do mua bán đã đưa lại cho họ những trải nghiệm ban đầu về thị trường, dù họ chưa thể biết nhiều về những quy luật hay những phân tích thị trường sâu xa hơn nhưng cũng tạo điều kiện để họ nhận biết hàng hóa nào có thể trao đổi được. Khi thấy một người trong bản đi nương về kiếm được một sản vật hay một con thú, họ tìm cách mua lại rồi bán cho những người khách từ nơi khác vào đây thu mua các sản vật để kiếm một khoản chênh lệch. Và họ cũng biết có nhiều người lên đây mua lá dong - một loại lá có nhiều trong vùng và dùng để gói bánh, thì họ lại đứng ra thu mua của người đi chặt về rồi bán lại cho những người đến mua để kiếm lợi nhuận. Nhờ những hoạt động như vậy, nguồn thu nhập của họ hàng tháng vẫn cao hơn những người đi làm ở công ty chanh leo, và họ còn làm được nhiều việc nhà trong lúc rảnh rỗi.

Các dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An nói chung và người Thái nói riêng đang cần những chương trình phát triển làm sao cho người dân được trải nghiệm trong kinh tế thị trường nhằm giúp cho người dân chủ động tiếp cận các chính sách phát triển của nhà nước. Nhưng để tăng cường sự trải nghiệm thị trường của người dân không phải là việc dễ dàng và nhanh chóng được, phải có quá trình và kế hoạch cụ thể. Có hai con đường để tăng cường trải nghiệm thị trường, là con đường tự vận động và con đường nhận tác động. Tự vận động là con đường chủ quan, người dân tự tìm cách tiếp cận thị trường để tìm kiếm trải nghiệm và từ đó kiến tạo các kế hoạch kinh tế của mình. Con đường thứ hai là con đường khách quan, nhờ các chính sách hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ qua các lớp tập huấn và các chương trình hỗ trợ tham gia các hội chợ để người dân tiếp cận thị trường và tích lũy trải nghiệm. Trải nghiệm thị trường giữ vai trò quan trọng để tái cấu trúc bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng nó cũng cần được định hướng rõ ràng. Nếu được đặt trên nền tảng tâm lý tự hào dân tộc, trải nghiệm thị trường sẽ tạo ra một luồng gió mới cho quá trình phát triển ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Vi Văn An (2017), Người Thái ở min Tây Nghệ An. Nxb. Thế giới, Hà Nội.
  2. Nguyễn Văn Chính, Hoàng Lương (2003), Tổng quan v tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển min núi và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, Dân tộc học, số 3, tr.18-28.
  3. Hoàng Văn Hùng (2017), Lễ hội của người Thái ở min Tây Nghệ An: Truyn thống và biến đổi, LATS Văn hoá học, mã số 62.31.06.40, Trường Đại học Văn hoá, Hà Nội.
  4. Nguyễn Đình Lộc (2009), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb. Nghệ An.
  5. Neefies, Koos (2008), Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bn vững, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  6. Jean Michaud (2010), Nghiên cứu v kinh tế và bản sắc của người H’mông ở Việt Nam, in trong “Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học”, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trang 42-70.
  7. Jennifer Sowerwine (2008), Nhà nước biến đổi và các quy luật thị trường: biến đổi ruộng đất và nn kinh tế thị trường duy tình ở vùng núi Ba Vì, Việt Nam. In trong “Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam”, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, trang 37-64.
  8. Sarah Turner, Jean Michaud (2016), Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung. In trong “Nhân học ở Việt Nam: một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb. Tri thức, Hà Nội. Tr. 315-334.
  9. Bùi Đình Sâm (2013), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở min Tây Nghệ An, Nxb. Nghệ An.
  10. Trần Hữu Sơn (2004), Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  11. Nguyễn Hồng Thái (2004), Chợ vùng cao: Một không giao thị trường - văn hoá và sự tiếp nối của các đô thị hiện đại, Xã hội học, số 4, Tr. 39-50.
  12. Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm, Nghiêm Phương Tuyến (biên tập) (2008), Thời k mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
  13. Thomas Sikor, Jenny Sowerwine, Jeff Romm, Nghiêm Phương Tuyến (2008), Lựa chọn và thành quả phát triển: những chuyển đổi ở vùng cao Việt Nam. In trong “Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam”, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 7-10.
  14. Trần Thị Thuỷ, Đậu Quang Vinh (2015), Phát triển du lịch cộng đồng min Tây Nghệ An. Nxb. Nghệ An.
  15. Vương Xuân Tình (chủ biên) (2014), Văn hóa với phát triển bn vững ở vùng biên giới Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
KHXHNV & Đời sống khác:
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,221 | Tất cả: 1,519,753
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp