KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Lễ trưởng thành
Tin đăng ngày: 19/12/2017 - Xem: 268
 

Đại tá Đậu Kỷ Luật

          Dân tộc Kinh cũng như dân tộc thiểu số đều thống nhất một quan niệm, con người có giai đoạn trưởng thành “làm người lớn” rồi để xây dựng gia đình tự lập. Được đánh dấu bởi sự thay đổi về thể chất trong cơ thể, thay đổi về tính cách hoặc đánh dấu bởi một nghi lễ theo một tập tục truyền thống của dân tộc.

          Quan niệm về trưởng thành, mỗi dân tộc có sự khác nhau, như người Việt có câu “nữ thập tam, nam thập lục” (gái 13 tuổi, trai 16 tuổi) có thể lấy vợ, lấy chồng. Ở một số tộc người ở Tây Nguyên để đánh dấu sự trưởng thành có tục “cà răng, căng tai”, ở một số tộc người trên thế giới có tục “cắt quy đầu”. Ở người Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán - Tạng, nhóm ngôn ngữ Hán có tộc Sán Dìu đánh dấu sự trưởng thành ở con gái tuổi 15 ngực đã nở, con trai tuổi 18 (như hoa có nụ). Sán Dìu còn có một số biểu hiện tâm linh rất đặc biệt để đánh dấu sự trưởng thành của các chàng trai, cô gái là nghi lễ trả ơn thầy, dấu hiệu trưởng thành dành riêng cho các chàng trai là lễ cấp sắc. Dân tộc Dao trong nhóm ngôn ngữ Mèo - Dao cũng có lễ cấp sắc rất linh đình, long trọng.

          Trước tiên, xin tìm hiểu về một vài tộc người gần gũi trong tỉnh ta. Người ta không làm lễ hoành tráng như bà con Tây Nguyên (ta sẽ nói sau) mà nó từ trong gia đình, không ồn ào nhưng cũng rất sâu sắc và linh thiêng trong nếp sống hàng ngày.

          NGƯỜI THÁI: Người mẹ chuẩn bị cho con gái từ bé, nhất là đến tuổi trưởng thành (nhinh hạ dệt phải, trai hụ xen he: gái biết dệt vải, trai biết đan chài) để làm mốc tuổi trưởng thành có quyền được yêu và lập gia đình. Hoa văn dệt thổ cẩm của người Thái Nghệ An rất độc đáo, nếu biết chăm nom chu đáo sẽ thành hàng hóa hấp dẫn thị trường. Ở tuổi 13 con gái mẹ đã bắt tay vào việc thêu thùa, quay xa dệt vải.

Upload

         Thiếu nữ Thái được mẹ hướng dẫn cách thêu, dệt thổ cẩm

Ta thử tìm hiểu nghệ thuật tạo hình tạo nền trang trí bằng phương pháp thêu và dệt thành những hoa văn trên tấm vải để thấy công phu của người mẹ lo cho con gái đến tuổi trưởng thành lớn lao biết bao nhiêu, mà cái tình thật là vô bờ của người mẹ. Nghệ thuật tạo hình hoa văn rất đặc sắc, là một tác phẩm nghệ thuật. Kiệt tác hoa văn này do sự chỉ bảo của mẹ mà con gái làm nên. Đúng như tục ngữ Thái: khoẳn mư pên lại, hai mư pên bol (ngửa văn thành hoa văn, gấp tay thành hoa lá). Sự thể hiện đề án hoa văn tinh tế nổi lên trong cách sử dụng chỉ màu và phối màu đặc sắc ta thường bắt gặp các màu tương phản. Và ta có thể thấy nổi lên nét trang trí đối xứng. Rồi là sự cách điệu tinh tế gây cho ta sự tưởng tượng thú vị trên các họa tiết hoa văn hình học. Nhìn những tấm thổ cẩm người Thái ở đây tạo ra một lực hút nam châm với người dùng nó.

Đối với con trai: Ông bố chăm sóc, đưa con đi theo mình để biết đan chài là cái mốc định tưởng thành của nam, trai biết đan chài cũng như gái biết dệt vải, cha mẹ cũng như bản mường cho phép lập gia đình. Đấy, việc đánh cá là của nam giới trong tập quán tim he (chân chài) được coi là một trong bốn bảo bối gia truyền. Chiếc chài còn được coi là “vật bùa”, có thể ngăn được các loại ma làm hại cuộc sống của ta. Khi đau ốm người ta thường lấy chài để tăng che. Người ta cho rằng, loài ma không thể nào chui được các mắt đan của chiếc chài nên cũng không thể nào bứt được hồn của người.

Chính nhờ sự phân công cho con trai, con gái trưởng thành như vậy nên về sau xây dựng gia đình bền chặt do phân công tự nhiên trong tổ ấm thành truyền thống của người Thái: hặc phu, hặc nả húc, hặc lục hặc khêm may; hặc nia, hặc tay na da chạn (thương chồng, năng dệt cửi, mến vợ, việc ruộng nương không biếng nhác). Chăm lo tuổi trưởng thành của con cái là một nét đặc sắc của người Thái, nó góp phần tích cực cho tổ ấm gia đình sau này. Đây là nét đặc biệt giá trị của người Thái về gia đình mà chúng ta cần học tập, phát huy. Gia đình yên ấm, giàu có vì là: po tay mu ma, mẹ pa ột óc (đàn ông đem đến, đàn bà làm ra). Vợ chồng người Thái định ra một phương châm xử thế đẹp đẽ hết mực: phua mia tộc báu pả, dác báu vang (vợ chồng tủi sầu không chia, cùng khốn không lìa).

NGƯỜI KHƠ MÚ: Con trai Khơ Mú đến tuổi trưởng thành phải thạo đan lát, mới dễ hỏi vợ. Những đồ lễ cưới, chú rể phải tự tay mình đan cho cô dâu một hộp đồ nữ trang (ta rờ đu) và khi dẫn cưới phải bỏ vào đó 2 đồng bạc trắng cùng trầu cau các loại, kỷ vật này cô dâu giữ suốt đời.

Upload

Trang phục truyền thống của thiếu nữ Khơ Mú

Ngày xưa người trẻ học đan ở người già một cách chuyên cần. Ông bố kể cho anh con trai là ở châu Á có tới 200 loài tre để đan lát. Ở Việt Nam ta có gần 100 loài. Trong khi các nền văn hóa khác dựa vào kim loại thì ở Đông Nam Á lại sử dụng các vật dùng của mình chế ra từ tre, nứa. Theo cha đi rừng anh con trai biết được nhiều loài tre: tre, trúc, nghẹ, mai, vầu, hóp, nứa, mây song, giang, luồng, lồ ô, cọ, lụi, cói…

Rồi quy trình đan lát cũng phức tạp, lắm công phu: chọn nguyên liệu, chế biến nguyên liệu (chặt cây, đẵn khúc, chẻ nan, vót nan, nhuộm nan, chuẩn bị vành, đế, quai cho sản phẩm) kỹ thuật tạo đáng và hoa văn, kỹ thuật lát, cạp hoặc tạo miệng cho sản phẩm, xử lý bảo quản độ bền của sản phẩm. Đặc biệt ông bố phải kỳ công bày vẽ cho anh con trai kỹ thuật tạo dựng các họa tiết hoa văn trang trí trên sản phẩm đan.

Sản phẩm đan lát dễ phong phú, nhưng họa tiết hoa văn ở các mẫu đan còn phong phú đa dạng hơn nhiều. Người ta có thể phát triển lên hàng ngàn mẫu hoa văn khác nhau.

Người Khơ Mú có cách tạo dựng họa tiết hình vuông từ một góc của hình vuông bất kỳ khi đan bem (hòm tre) đựng tư trang. Rồi nữa họa tiết hoa văn hình quả núi thì ở phía Bắc chưa có tộc người nào vượt được người Khơ Mú (chỉ có thể sánh với người M’nông Tây Nguyên mà thôi).

Truyền cho con trai ở tuổi trưởng thành đan gùi (yang) - sản phẩm độc đáo mang tính đặc trương của người Khơ Mú. Nhìn tổng thể như một cụm lúa lớn được dựng lên hay một bó hoa xòe ra. Khi đeo vào như chiếc nón ngã ra đôi vai người thiếu nữ.

Đan lát giỏi đánh giá đạo đức của người đàn ông. Con trai Khơ Mú bây giờ cũng không chú tâm đến nghề đan lát, bởi vì cũng không lo trao truyền các cháu nghề truyền thống đặc sắc của dân tộc mình. Các vật phẩm đan lát của người Khơ Mú là đặc sản văn hóa, là nét riêng tài nghệ của người Khơ Mú như người Thái với dệt thổ cẩm vậy. Vì nó toát lên cái hồn của sản phẩm, nó tạo chất thiêng. Bởi từ khi chọn cây, vật liệu, chẻ nan, đan lát, hoa văn… người bố đã truyền cho con chất thiêng ấy, rồi nó từ vô thức của văn hóa tâm linh mà phát triển, đến nỗi làm ra sản phẩm tinh xảo, cá nhân người làm cũng bất ngờ như họa sỹ tạo nên một tác phẩm tranh độc đáo của mình vậy.

NGƯỜI MÔNG: Người phụ nữ Mông có cái đặc biệt là tình mẫu tử hiếm có. Mẹ lo cho con từ khi lên 4 lên 5, để mai kia nó lấy chồng, nó có trang phục đẹp lộng lẫy, lo cho cả trang phục khi về già con gái mẹ về với tổ tiên sao không bị lạc. Mãi cả một đời cần mẫn dạy cho con gái mẹ trồng lanh, xe sợi, dệt vải, nhuộm màu, thêu thùa của bản tay người phụ nữ. Người phụ nữ Mông dệt vải từ sợi cây lanh là chính, việc trồng lanh, chế biến sợi và dệt vải là của người phụ nữ.

Upload

Thiếu nữ Mông trong ngày tết

Cây lanh, dệt lanh không chỉ là thứ vật liệu có sẵn để dệt vải may mặc, mà cây lanh, sợi lanh đã đi vào thế giới tâm linh, tình cảm trở thành một thứ biểu tượng cho sự bền chắc của đời người, của tuổi thọ, sự gắn bó của lứa đôi là sợi chỉ dẫn đường cho linh hồn người chết về với tổ tiên và để là cái cầu để linh hồn tổ tiên đầu thai trở lại với con cháu.

Trên nền y phục, màu sắc trang trí khai thác tối đa sắc màu nguyên: xanh, đỏ, vàng, đen. Về kỹ thuật tạo hình, họ tận dụng tối đa kỹ thuật vừa dệt thêu, ghép màu và vẽ sáp ong. Trang phục giàu màu sắc chênh đơn, người Mông biết tận dụng tối đa các vật trang sức: dùng bạc, cườm, tua màu để gắn trên mặt vải, đùng các đồ trang sức đeo, như các loại vòng, dây chuyền, xà tích, hoa tai, nhẫn. Bởi thế mà bộ trang phục của phụ nữ người Mông còn vang lên những âm thanh đánh thức màu sắc trên trang phục phụ nữ Mông khi họ bước đi uyển chuyển nhanh chóng.

Chiếc váy hàng trăm nếp gấp phải mất hàng mấy năm mới hoàn chỉnh để khi về nhà chồng mặc vào làm kỷ niệm là do mẹ chỉ vẽ cho cô gái.

Còn người Dao cũng thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao thì lễ trưởng thành rất độc đáo, chỉ thấy ở họ và dân tộc Sán Dìu hệ ngôn ngữ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Hán. Đó là lễ cấp sắc dành cho các chàng trai làm lễ trưởng thành, là tập tục truyền thống, là nghi lễ đặc biệt quan trọng trong đánh dấu sự trưởng thành của người con trai Dao.

Được làm lễ cấp sắc phải là người con trai. Những người làm lễ phải là thầy cúng đã trải qua lễ cấp sắc đọc được sách nôm Dao, có kinh nghiệm cúng bái và thông thạo các công việc hành lễ truyền thống dân tộc. Các nhóm Dao khác nhau thì tuổi đời được thụ lễ khác nhau.

Tổ chức một lễ cấp sắc là một việc lớn trong đời người Dao. Nhiều công đoạn trong lễ cấp sắc. Công việc cuối cùng của lễ là căn dặn của các ông thầy, lời khuyên đại ý là: ăn ở phải có đạo đức, phải biết lễ phép với mọi người, hiếu thảo với cha mẹ, không được ăn trộm, ăn cắp, không được ác ý, ác lời, không được lừa thầy, phản bạn, sống thủy chung, không hại người khác. Dạy cho người thụ lễ, biết cách cúng tổ tiên, cách làm ma chay cho bố mẹ, cách sử dụng các dụng cụ để thỉnh cầu thần phật về giúp v.v. Và kết thúc là lễ hội 36 ca khúc - tiếng Dao gọi là Tô phà lạc - khúc ca đường. Lễ hội rất vui kéo dài từ nửa đêm hôm trước đến sáng hôm sau mới kết thúc.

Nhiều bài, nhiều thể loại khác nhau. Kết thúc là bài “Trăng lên” ca ngợi cảnh đẹp của núi rừng khi trăng vàng treo lơ lửng ở ngọn cây, đó là bài hát nói về sự hẹn hò của đôi trai gái mới bước vào tuổi trăng tròn v.v. Cứ mỗi lần một tiết mục họ lại chúc nhau một chén rượu, ăn một miếng thịt sóc nướng khô. Cứ thế cuộc vui kéo dài đến tận sáng của ngày thứ ba thì mới kết thúc.

TÂY NGUYÊN làm lễ trưởng thành cho con

Dân tộc M’nông: Vào khoảng 16 - 20 tuổi, người ta xem đứa con mình đã qua thời thơ ấu để bước vào tuổi trưởng thành. Giờ đây nó có thể tự làm ăn, độc lập sinh sống nếu hoàn cảnh bắt buộc. Cho nên các bậc làm cha làm mẹ phải tổ chức lễ để trình báo và tạ ơn thần linh. Đây là một tục lệ long trọng nên gia đình phải chuẩn bị chu đáo. Lễ vật cúng thần là một ché rượu quý cùng một con heo thiến to béo, màu trắng mà chúng ta thường thấy ở người M’nông. Con heo được cạo lông, mổ bụng, đặt cạnh ché rượu. Bộ lòng của nó được luộc chín, cắt thành từng miếng bỏ lên lá chuối, mỗi thứ một miếng từ tim, gan, phổi, cật, lá lách, lòng già, lòng non… Gia đình phải mời một già làng cao tuổi nhất đến làm lễ trưởng thành chứ không phải gia chủ đảm nhiệm như một số lễ khác. Người con được làm lễ hôm đó mặc bộ quần áo trang trọng theo đúng kiểu cách của dân tộc mình, đầu chít khăn mới, thân choàng thảm mới, tai đeo vòng bằng ngà voi (hoặc loại gì quý nhất mà mình có). Người được làm lễ ngồi trên sạp đặt ngay dưới bàn thờ tổ tiên. Gia chủ chuẩn bị cho già làng một bát gạo trắng, trên bát có một ngọn đèn sáng đang cháy, một đoạn thân mây có cả cành lá, một con gà trống vừa biết gáy để già làng cầm các thứ đó đưa vòng từ phải sang trái (ngược chiều kim đồng hồ). Già làng sẽ quay 7 lần trên đầu đứa con, vừa quay vừa đếm từ một đến bảy. Chú ý con số 7 đối với người Ê Đê (có lẽ người M’nông sống gần Ê Đê nên có giao thoa văn hóa). Động tác 7 lần là để đuổi ma xấu. Số 7 biểu thị cho sự cực đại. Nó biểu thị cho hoàn thiện, hoàn tất, bậc cao. Ví dụ: “vượt 7 núi, 7 sông” có nghĩa là đường dài, “mài gươm 7 ngày, 7 đêm, đánh nhau suốt 7 ngày, 7 đêm” có nghĩa là số lượng thời gian lớn.

Upload

Lễ trưởng thành của người M'nong

Tiếp đến già khấn mời thần linh, tổ tiên về dự lễ, chứng giám và phù hộ cho con cháu, mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, trở thành người tốt trưởng thành, mai sau lập gia đình hạnh phúc.

Đứa con ngồi trang nghiêm trước ché rượu, hai tay nắm lấy cần. Cúng xong vị già làng cao tuổi nhất này xới một thìa cơm đầu nồi, lấy tim, gan, phổi… (mỗi thứ một miếng) của con heo cúng thần trộn cùng cơm bón cho đứa con chịu lễ. Rồi cũng như vậy người con mời lại già làng. Ăn xong già làng cầm một ống rượu được hút từ trong ché rượu cúng đưa cho đứa con làm lễ uống trước. Tiếp sau đó mọi người theo thứ tự cùng uống. Già làng, bố mẹ, anh chị em và họ hàng bà con. Theo phong tục, lúc này người làm lễ phải lấy một nhúm gạo ném vào ngọn lửa đang cháy trong bếp và nhẩm hứa với các thần linh: mai sau sẽ có lễ tạ với thần linh khi trưởng thành phát đạt.

Trong chén rượu vui vẻ mọi người có lời dạy bảo con cháu nên người. Già kể chuyện cuộc đời mình, những bài học kinh nghiệm hay, dở đã qua để con cháu biết mà phát huy cái tốt, khắc phục, tránh xa những cái dở, sai sót. Theo luật tục của người M’nông người con phải học và làm theo. Gọi là phạt đoih có 215 điều phải ghi nhớ. Đây là công cụ duy nhất để chủ buôn làng điều hành xã hội. Người Buranh là người chủ buôn làng “khỏe trí óc” là: “hai bên hòn đá có tre đứng giữa/ hay bên cây dná cây nêu đứng giữa”. Sau cùng người con trai đáp lại bằng lời hứa chân thành nhớ sâu lời bảo ban của người già, người bề trên để tu đức, rèn tài cho xứng con cháu buôn làng. Người con sẽ nuôi con gà trống cho lớn để đến khi làm ăn khấm khá sẽ giết con gà đó để ăn mừng. Và từ đó người con trai sẽ tung cánh khắp phương trời xứng là người con trai M’nông cần cù, anh dũng và đức độ mang tiếng vang tốt đẹp về cho buôn làng dài và trong như tiếng chiêng của dân tộc mình.

NGƯỜI Ê ĐÊ (nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở Nam Tây Nguyên): Một số gọi lễ trưởng thành là lễ khôn lớn (mpuh). Đó là đứa con trai biết vót nan tre đan gùi, biết dùng rìu đẵn cây, biết dùng tên bắn thú, biết hát khan… Còn người con gái thì biết kiếm củi, hái rau, dệt vải v.v.

Chuẩn bị 7 ché rượu, một con heo thiến một tạ, 7 vòng đồng, nhiều quần áo đẹp. Và mời thầy cúng đến hành lễ giúp từ sáng sớm, đứa con mặc quần áo dân tộc truyền thống mới và đẹp, chân đi dép da trâu, tay phải cầm thanh kiếm. Đứa con được đưa ra bến nước để hành lễ. Đến bến nước, người con xuống gội đầu, rửa mặt trước sự chứng kiến của trời đất, sông núi và bà con buôn làng. Gội rửa xong, người con được làm lễ hứng một bầu nước đầy mang về nhà cúng thần. Trong lúc đứa con ra suối thực hiện lễ truyền thống, thì ở nhà đã chuẩn bị xong mọi lễ vật. Con heo thiến đã mổ xong, đầu của nó được để riêng để cúng thần. Người ta lấy một dãi thịt dài từ đầu đến cuối cuốn một vòng vào ché rượu thần. 7 ché rượu được buộc vào 7 cái cột giữa nhà. Thầy cúng ngồi đối diện với ché rượu. Trước thềm nhà, một bà già người Ê Đê mặc váy mới đứng đợi đứa con trở về. Bà này không phải là mẹ đẻ, mà là một bà có uy tín tượng trưng cho bà mẹ của buôn làng, của nương rẫy, hôm nay đến đối chất với đứa con trưởng thành những điều có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống của nó sau này.

- …

- Con vừa làm gì về?

- Con mang nước về cúng thần.

Bà mẹ hỏi tiếp

- Con trai từ đâu đến? Có phải con vừa đi đánh giặc về?

- Vâng, con đi đánh giặc trở về, con mang lại vinh quang cho mẹ, người mẹ của đất rừng Ê Đê. Con đã thử kiếm, cây lớn đã ngã, cây bé đã đổ. Con đã múa khiên từ phía tây, múa kiếm từ phía đông làm cho giặc tan tành.

Sau đó chàng trai vào nhà, dựa kiếm vào vách ở phía đông rồi ngồi trước mặt thầy cúng, đối diện với 7 ché rượu buộc vào cột chạy dọc giữa nhà. Hai chân của chàng phải đạp lên hai chiếc lưỡi rìu bỏ sẵn dưới chiếu. Thầy cúng lấy củ gừng cắm vào cây kim, xoay ba vòng rồi chấm vào lỗ tai người được cúng như để thông tai cho nó lần cuối cùng để nó tinh thông mọi thứ trên đời. Chiêng trống nổi lên dồn dập đón chào buổi lễ.

Upload

Lễ trưởng thành của dân tộc Ê Đê

Ta chú ý, không phải bất cứ lúc nào cũng đánh chiêng và cũng không phải cuộc cúng thần nào cũng có chiêng. Sự tồn tại của những thần thiện, thần lành, biểu hiện những ước mơ của con người muốn tồn tại phát triển vượt qua những khó khăn đương gặp phải. Phương tiện đặc biệt liên lạc của mình hỗ trợ của thần linh chính là dàn chiêng linh thiêng nhất.

Chiêng mang giá trị của một vật thiêng, chỉ có thể đưa ra đánh khi có một số cuộc cúng thần. Lễ trưởng thành nổi chiêng là từ một lễ rất hệ trọng không chỉ có ý nghĩa với gia đình mà còn với buôn làng. Càng vang, càng tăng thêm vị thế của đứa con trưởng thành gắn bó với cộng đồng.

Sau khi khấn thần linh xong, thầy cúng trao khiên, đeo kiếm cho chàng. Chiêng trống lại nổi lên. Chàng trai múa khiên, múa kiếm như một người đã trưởng thành thực sự.

Lễ cúng thứ hai làm vào lúc nửa đêm, buổi lễ kéo dài tận sáng, mọi người nghe người già kể chuyện truyền thống của tộc người mình đầy vinh dự và tự hào và nghe những lời trịnh trọng của luật tục Ê Đê: Cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái, cha mẹ không được đồng tình hay khuyến khích con cái trộm cắp. Ngược lại con cái phải vâng lời cha mẹ, không được hỗn láo với cha mẹ, ông bà, không được bỏ rơi cha mẹ, ông bà khi ốm đau, tai nạn. Luật tục không chấp nhận người con “như ngọn cờ muốn cao hơn cây lau, như cọng tranh muốn cao hơn cây sậy”, là “đứa muốn thách cả cọp, muốn cao hơn cả thần, mở miệng ra là nói những điều hỗn xược”. Không chấp nhận “kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao, là một kẻ nít lại muốn khôn hơn người lớn, có mẹ có cha mà không hỏi mẹ cha”.

Trong tình vợ chồng phải chung thủy “đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rượu thì phải vào cuộc cho đến khi rượu nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại”, “không được ăn canh nhà này lại ăn cơm nhà khác”…

Luật tục lên án mất đoàn kết “hắn là kẻ muốn tháo cái lưỡi cuốc ra khỏi cái cuốc, muốn tháo cái lưỡi chà gà ra khỏi cây chà gạc, hắn kẻ bịa đặt chuyện xấu cho dân làng người ta”…

Đối với con gái, việc làm lễ trưởng thành không phổ biến vì bà con cho rằng vì con gái ít đi xa nhà, cuộc sống ít mạo hiểm. Tuy nhiên cũng có nơi tổ chức lễ trưởng thành khi cô bé bước vào tuổi khôn lớn. Chỉ có khác con trai, là con gái chỉ 5 ché rượu (theo tục Ê Đê là 7 + 2 là vậy).

Ở đồng bào Tây Nguyên, hai tộc người M’nông (nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me, và Ê Đê (nhóm ngôn ngữ Nam Đảo) và kể cả các tộc người ở phía Bắc tuy có thể không làm lẽ nghi hoành tráng nhưng đều là một tục lệ quan trọng mà thiết nghĩ cả 54 dân tộc trong quốc tộc Việt Nam cũng cần tiếp thu những tinh hoa của phong tục (với tinh thần gạn đục khơi trong) làm cho lễ trưởng thành phải hay với đầy đủ ý nghĩa nhân văn của nó hiện nay.

Bà con dân tộc thiểu số, ở đâu cũng coi là nhiệm vụ của bản, buôn, làng mình gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ của người con trai, con gái đến tuổi trưởng thành vào việc nhà, việc nước để thực hiện hiếu với gia đình - tiểu hiếu và với Tổ quốc - Đại hiếu. Trước hết phải chấp hành luật tục của tộc người rồi đến thực hiện pháp luật cũng là đỉnh cao của luật tục vậy.

 

           TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Đức Lợi, Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ Mông - Dao ở Việt Nam.
  2. Diệp Trung Bình, Phong tục và nghi lễ người Sán Dìu ở Việt Nam, Bảo tàng các dân tộc Việt Nam. 2005
  3. Lê Văn Ký chủ biên, Phong tục, tập quán cổ truyền… Nam Tây Nguyên, NXB VHDT Hà Nội, 2007
  4. Trần Văn Bính chủ biên, Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, NXB CTQG. 2004

 

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Bác Hồ nói về sự nghiệp khoa học - kỹ thuật (24/5/2018)
Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian (21/5/2018)
Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm ở Hà Nội (21/5/2018)
Kho báu văn hóa từ các ngôi cổ tháp (17/5/2018)
Cơ sở triết lý "âm dương" của người Thái (17/5/2018)
“Lãnh đạo, Đảng viên phải thấy trách nhiệm với tương lai đất nước trong công tác cán bộ” (16/5/2018)
Tục “Trộm vợ”: Hiểu thế nào cho đúng? (9/5/2018)
Nhân Ngày Chiến thắng 30/4, nghĩ về chữ “Thắng (26/4/2018)
Hình rồng thêu trên váy của phụ nữ Thái Nghệ An (16/4/2018)
Bài Chòi cổ Trung bộ - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (5/4/2018)
Người Thổ đón Tết, vui Xuân (27/3/2018)
Chú cẩu trong đời sống văn hóa người Việt (2/3/2018)
Văn hóa tộc người trong bối cảnh kinh tế thị trường (Khảo sát sự biến đổi trong văn hóa mặc của người Thái ở miền Tây Nghệ An) (1/3/2018)
Người Nghệ ở Hà Nội - Giao lưu và tiếp biến văn hóa (19/12/2017)
Những dấu ấn của Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An năm 2017 (19/12/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn
(Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn (Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn