GIỚI THIỆU CHUNG
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử
Tin đăng ngày: 19/12/2017 - Xem: 479
 

PGS.TS. Đinh Khắc Thuân

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tây Yên Tử bao gồm phần lớn vùng đất thuộc tỉnh Bắc Giang ngày nay. Nơi đây từng là một trong những trung tâm Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Bài viết này giới thiệu khái quát về di sản Hán Nôm và giá trị tư liệu với việc nghiên cứu Phật giáo và hệ thống di tích Tây Yên Tử.

  1. Tư liệu Hán Nôm và dấu tích Phật giáo ở Tây Yên Tử trước thời Trần

Tây Yên Tử là vùng đất cổ nằm ngày nay thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang, nằm chung trong không gian văn hóa Kinh Bắc, nơi có Luy Lâu - trung tâm Phật giáo sớm nhất khu vực, nên đã tiếp nhận sự ảnh hưởng đạo Phật từ rất sớm. Tài liệu thư tịch, cũng như dấu tích vật chất để lại, cùng truyền thuyết dân gian ở địa phương đã  cho thấy đạo Phật du nhập vào nơi đây từ rất sớm.

Chẳng hạn, những dấu chân Phật khắc trên đá, là những biểu tượng Phật cổ từ Ấn Độ ảnh hưởng tới Việt Nam. Các dấu chân Phật đều được khắc trên phiến đá lớn cạnh phế tích chùa cổ. Dấu chân Phật ở phế tích chùa Bạch Liên (thôn Bòng, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn) được đục trên phiến đá sa thạch hình vết chân người, độ sâu khoảng 2,5 cm; Dấu chân Phật ở chùa Am Vãi (xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn) được đục trên khối đá cát kết dựng đứng hình vết chân vừa bằng vết chân người thường có đủ các ngón chân; dấu chân Phật ở chùa Yên Mã (xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam) được đục trên mặt một khối đá nổi có chân sơn ẩn sâu gắn liền với nền đá mẹ trong lòng núi. Dấu chân này đục y hình chiếc giày cỏ, kích thước nhỉnh hơn chân người thật một chút, vết đục rất sâu, rất thô, vết chân ấy lúc nào cũng có nước. Ngoài ra là những dấu vết chùa, am cổ ở di tích chùa Dâu dưới chân núi Nham Biền thuộc địa phận xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng.

Thời Lý (TK XI - XIII) Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu rộng trên đất này. Cuối triều Lý, tại vùng Na Ngạn (nay thuộc địa phận huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Dũng) có Đại sư Ẩn Không là người nối tiếp thiền sư Thông Biện hoàn tất việc biên soạn tác phẩm Thiền uyển tập anh /禪菀集英. Tập sách này ghi lại một sự kiện quan trọng liên quan đến Ẩn Không đại sư như sau: “Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tý (1216), sư Thần Nghi đem tập phả đồ của Thường Chiếu trao cho mình truyền lại cho đệ tử là Ẩn Không, dặn rằng: Bây giờ đang loạn lạc, người hãy giữ sách này cẩn thận, chớ để binh hỏa hủy hoại thì thì tổ phong ta mới không bị mai một. Nói xong sư tự qua đời”. Đặc biệt hơn, cuối đoạn văn này có dòng nguyên chú như sau:Ẩn Không trước ở huyện Na Ngạn, Châu Lạng, người đương thời gọi là Na Ngạn đại sư 隱 空從昔居于 諒 州 那 岸 縣 時 號 那 岸大師”.

Điều này cho thấy rằng, vùng đất Tây Yên Tử thời Lý đã sản sinh ra không ít thiền sư, trong đó có vị trở thành vị thiền sư danh tiếng cả nước. Đồng thời hiện để lại khá nhiều ngôi chùa có quy mô lớn như: Chùa Hả (xã Hồng Giang), chùa Chể, chùa Bạch Liên (xã Phượng Sơn) huyện Lục Ngạn; chùa Tòng Lệnh (xã Trường Giang), chùa Cao (xa Khám Lạng), chùa Nhạn Tháp (xã Tiên Nha), chùa Đám Trì (xã Lục Sơn) huyện Lục Nam, chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng).

Trên cơ sở của các danh lam cổ tích này có từ trước đến thời nhà Lý, Phật giáo thời Trần, trong đó tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có điều kiện phát triển sâu rộng ở đây, mà dấu tích để lại đến ngày nay khá đậm đặc ở phía Tây Yên Tử.

Upload

Minh văn trên bệ đá hoa sen chùa Khám, Bắc Giang

Upload

Minh văn trên bệ Phật tại chùa Khám, Bắc Giang

2. Văn bia với di tích Thiền phái Trúc Lâm ở Tây Yên Tử

Thời Trần, Phật giáo Đại Việt phát triển mạnh mẽ mà đỉnh điểm là sự xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (cuối thế kỷ XIII) do Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Sở dĩ được gọi là Trúc Lâm Yên Tử, là vì trung tâm của Thiền phái tập trung ở núi Yên Tử ở cả hai sườn đông và tây. Ở sườn phía Đông, có chùa Hoa Yên, chùa Quỳnh Lâm (nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) được mở mang trên quy mô lớn. Chùa Hồ Thiên, chùa Ngọa Vân (cũng thuộc huyện Đông Triều)  được xây dựng nơi sơn lâm tĩnh mịch trở thành vệ tinh thu hút nhiều vị cao tăng đến tu trì.

Cùng với việc xây dựng, mở mang hệ thống chùa chiền ở sườn đông Yên Tử, ở bên sườn tây Yên Tử sơn thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang, Tam tổ Trúc Lâm cũng chọn những nơi có non cao cảnh đẹp, gần sông suối, sơn thủy giao hòa để mở mang hệ thống chùa chiền như: Chùa Sơn Tháp (xã Cẩm Lý), chùa Bát Nhã (xã Huyền Sơn), chùa Hồ Bấc (xã Nghĩa Phương) huyện Lục Nam; chùa Hàm Long, chùa Am Vãi (xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn). Đặc biệt, với sự tiếp nối các sư tổ, chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) đã được mở rộng từ ngôi chùa cổ có từ thời Lý trở thành trung tâm với quy mô lớn để đào tạo tăng đồ của dòng thiền Trúc Lâm. Vì thế, ở sườn Tây Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang cũng là một trung tâm của Thiền pháo Trúc Lâm thời Trần. Nơi đây hiện còn nhiều dấu tích khảo cổ học và di văn Hán Nôm liên quan đến việc xây dựng, tôn tạo chùa Phật Trúc Lâm. Một trong số văn bia có niên đại sớm nhất và quý giá nhất thời Trần là văn bia chùa Hang Tràm (Nham Nguyệt tự) ở xã Tân Liễu, huyện Yên Dũng. Văn bia được soạn khắc năm Xương Phù thứ 11 (1387).

Bài văn bia khắc khi nhiều sự kiện liên quan đến việc chấn hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử ở một bảo sái thờ Phật thời kỳ giữa và cuối thế kỷ XIV. Văn bia có đoạn như sau:

皇 婆  是 一 保 慈 皇 太 [] [ ] [ ] [ ] [ ] []  真 空 氏[ ][] [ ] [ ] [ ] [ ] 云.

迺 舍 其 第 宅 直 入 景 山 修 行 法 號 慈 真 比 丘 [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] 山 之 面 勢 謀 刱 寺 宇 …食 .   迺 以 大 慶 八 辛 酉 起 工 其 佛 殿 鐘 閣 僧 房 客 次 及 [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] 行 廊 背 般 [ ] [ ] [ ] 之 手 段 也 . 前 臨 大 江 列 植 松 楸 以 蔭 行 客 背 景 者 山 各 開 軒…以 望 山 [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] [ ] 成 之 目 使 人 移 [ ]   請 大 空 尙 居 之 倡 起 禪 風 …   為 叢 林 名 剎 . 未 幾 皇 婆 下 世 . 師 乃 示 寂 其 徒 . 迺 請 善 眼 禪 師 代 居 法 席 以 願 其 衆 重 修 之 外 師   [ ] 以 莊 嚴 佛 事  為 念 何 事 與 心 夫 嗇 違 其 年 距 . 今  凡   二   十   餘 年 而 風 樵 雨 利 諫 撓 礎 傾 僅 存佛 殿 一 區 而 已 向 所 謂    化   空 寶 所 今 爲 樵 夫 牧 童 之 境 矣.  迨 昌 符 丁 卯 春 二 月 住 持 [ ] [ ] [ ]   以 緣 専 過 以 見 庭 院 荒 凉 廼 與 念 嘆 曰 :   “ 我名  為 出 家 子 見 佛 事 將 陵替 而 忍  視乎?”.

迨 罄 罄 袤 資 僝 工 鳩 材 重 修 起 度 而 三 境 之 人 夙 閒 師 德 皆 雲 輯 子 .   來 一 日 而 成 金 碧 熒 煌 丹 青 焕 若 於 是 [ ] [ ] [ ] 以 宗 門 僧 徒 輻 湊 至 百 餘 柏 . 噫 !  世 人 或 構 一 堂 以  為祭 祀 之 殿 . 迨 其 子 孫 不 能 撐 拄 [ ] [ ] [ ]   以 至 震 凌 圮 毀 . 今 師 居 禪 席 枯 淡 中 衣 缽 然 肅 而 能 一 本 貫 百 餘 缗 以 完 就 其 寺 [ ] [ ] [ ]   真 請 藹 僧 中 之 龍 象 矣

玄 幾 善 壽 法 雲…尚位.

 Nghĩa là: “…Miền đất này từ lâu đã có nơi thờ Phật. Sau có người được tôn xưng là Hoàng Bà sống vào khoảng thời vua Trần Anh Tông (1293-1314) đã đến đây xây tháp, tạc tượng để thờ Phật trên nền thảo am của nhà sư họ Đỗ... Đến năm Tân Dậu niên hiệu Đại Khánh thứ 8 (1321) Hoàng Bà lại khởi công các công trình như: Phật điện, gác chuông, tăng phòng  và hành lang hai bên tả hữu. Phía trước chùa nhìn ra sông Thương, có hàng tùng bách xum xuê dẫn thẳng vào chùa. Chùa tọa trên thế núi cao, thật xứng là nơi non xanh nước biếc gợi cảnh gợi tình. Việc tôn tạo hoàn tất thì Hoàng Bà cho người thỉnh mời Hòa thượng Đại Không về cư trụ và giảng pháp. Hòa thượng Đại Không lại thỉnh mời Thiện Nhãn thiền sư về cư trụ. Thiền sư cho sửa sang tu chỉnh làm cho chốn thiền lâm thêm xán lạn, xứng với công lao người trước đã tạo dựng và không hề thờ ơ, sao nhãng việc hương khói phụng Phật. Nhưng rồi vật đổi sao rời, qua mấy chục năm thiên tai địch họa, mưa gió phũ phàng hủy hoại làm cho cảnh chùa tan hoang mái đổ tường xiêu. Nơi tùng lâm ngày nào nay hoang phế trở thành nơi nghỉ chân cho trẻ mục đồng cùng đám tiều phu... Đến tháng 3 mùa xuân năm Đinh Mão niên hiệu Xương Phù (1387) nhà sư trụ trì không nỡ để cảnh chùa ngày thêm tiêu điều đã trùng tu tôn tạo và nhờ người soạn văn bia ghi lại sự việc đã qua1.

Văn bia khắc trên Thiền vị của ngôi tháp đá cổ thuộc phế tích chùa Sơn Tháp (thuộc xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam) có nội dung như sau: "Huyền cơ thiện thọ Pháp Vân Hòa thượng vị玄 幾 善 壽 法 雲和 尚位(Nghĩa là: Bài vị Hòa thượng có đạo hiệu là Huyền Cơ Thiện Thọ Pháp Vân). Chùa Sơn Tháp cũng là một cơ sở của Thiền phái Trúc Lâm.

Ở chùa Am Vãi (Âm Ni tự) được xây dựng từ thời Trần, trên vườn chùa còn ngôi tháp đá cổ thời Trần “Liên Hoa bảo tháp/ 蓮花寶塔” (Tháp báu Liên Hoa). Trong lòng tháp có tấm bia bài vị tuy đã bị phong hóa nhưng vẫn khôi phục được đủ nội dung: “Trúc Lâm viên tịch Ma ha Tỳ khưu Như Liên hóa thân Bồ tát cẩn vị竹林圓寂摩訶比丘如蓮化 身菩薩謹位” (Nghĩa là: Vị thiền sư là Ma ha Tỳ khưu Như Liên hóa thân bồ tát được viên tịch về chốn tổ Trúc Lâm). Về chùa Am Vãi, sách Đại Nam Nhất thống chí /大 南 一 統 誌có đoạn chép rằng: "Núi Am Ni ở xã Nam Điện, phía nam huyện Lục Ngạn mạch núi từ Phật Sơn, Thù Sơn kéo đến, phía tả có giếng nước trong không bao giờ cạn, cạnh núi có hai cái bồn bằng đá, trên núi có hầm chùa cũ".

Thời Trần còn có bài văn bia nổi tiếng của Lê Quát là Bắc Giang Bái thôn Thiệu Phúc tự/北江拜村紹福寺碑記. Chúng ta biết rằng, chùa Thiệu Phúc, thôn Bái được đề cập ở đây chính là chùa thôn Cung Bái (xã Đan Hội) ngày nay, vốn là danh lam bảo sái thời Trần ở sườn Tây Yên Tử.

Tiếp nối văn bia thời Trần là văn bia thời Lê sơ phản ánh các danh lam cổ tự của Trúc Lâm ở Tây Yên Tử. Đó là ở chùa Khám xã Khám Lạng huyện Lục Ngạn có một bệ đá hoa sen niên hiệu Thuận Thiên và bệ tượng Phật niên hiệu Hồng Đức thời Lê Sơ.

Cụ thể là minh văn khắc trên bệ đá chùa Khám ghi 順天五年壬子年, 龕社下品刘俱, 妻杜醜 /Thuận Thiên ngũ niên Nhâm tí niên, Khám xã Hạ phẩm Lưu Câu, thê Đỗ Xú. Nghĩa là: Năm Nhâm Tí niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432). Lưu Câu chức Hạ phẩm người xã Khám và vợ là Đỗ Xú (công đức).

Minh văn khắc trên bệ tượng Phật vào năm Hồng Đức thứ 25 (1494). Đây là bệ Phật Tam thế, gồm ba bệ. Trong ba bệ này thì bệ ở giữa mới được đúc lại theo mẫu bệ bên phải. Bệ bên phải hoàn hảo nhất, có văn bản khắc trên hai mé bệ. Mặt  trước khắc 13 dòng, mỗi dòng 3 chữ; mặt bên khắc 17 dòng, dòng 3 chữ. Nội dung văn bản như sau: 洪 德 二 十 五 年 二 月 初 七 日 信 主 刘 氏 論 起 造 佛 三 尊号 曰 善 緣 婆 錢 三 貫 與 順 心 翁 一 貫 正 念 翁 妻 婆. .慈 信 婆 ? 愚 翁 并 有 福 婆 一 贯 无 心 翁 并 婆 錢  五 陳 祿 衣 一 件 阮 氏 衣 一 件 阮 氏 瑞 衣 一 件 阮 氏陸 岸 縣 社 富 山 翁 并 婆 衣 一 件 東 洛 社 阮 氏 錢 五 陌 。  

Dịch nghĩa: "Ngày mồng 7 tháng 2 năm Hồng Đức 25 (1494), Tín chủ Lưu Thị Luận khởi xướng tạo tác tượng Phật tam tôn.

Hiệu là Thiện Duyên bà cúng 3 quan tiền và Thuận Tâm ông 1 quan tiền, Chính Niệm ông và  bà. Từ Tín bà, Ngộ Ông cùng Hữu Duyên bà cúng 1 quan tiền, Vô Tâm ông và bà cúng 5 quan. Trần Phúc cúng 1 chiếc áo, Nguyễn Thị cúng 1 chiếc áo, Nguyễn Thị Thụy 1 chiếc áo, Nguyễn Thị.

Phú Sơn ông và bà người xã huyện Lục Ngạn cúng 1 chiếc áo. Đông Lạc xã Nguyễn thị cúng 5 mạch tiền"2.

Như vậy là ở riêng chùa Khám năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) tạo một bệ đá hoa sen, đến năm Hồng Đức thứ 25 (1494) thì tạo bệ tượng và ba pho tượng Tam thế. Cùng việc công đức tạo tượng, là việc công đức cúng áo Phật, cả thảy 4 chiếc. Rất có thể 3 áo cho ba pho Tam thế đặt ở sau cùng, còn 1 áo cho một pho tượng khác đặt trên bệ đá hoa sen ở phía trước. Rất có thể đây là tượng A Di đà.

Ngoài ra, còn có chùa Vĩnh Nghiêm, một trong những chốn tổ của Phật phái Trúc Lâm Yên Tử, hiện còn lưu giữ nhiều di sản Hán Nôm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trong đó, kho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm vừa được tổ chức UNESCO thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương ghi danh là Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới của khu vực. Chùa hiện còn một số bia tháp ghi tự hiệu một số vị Thiền sư của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Chùa còn khá nhiều văn bia khác ghi về tiến trình xây dựng, trùng tu chùa, tô tượng, đúc chuông. Chẳng hạn, văn bia Chúc thánh Vĩnh Nghiêm tự bi /祝聖永嚴寺碑 khắc dựng cuối triều nhà Mạc thế kỷ XVI, ghi việc Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn và Công chúa Phúc Thành công đức góp sức trùng tu chùa. Văn bia Trùng tu Vĩnh Nghiêm tự bi/重 修 永 嚴 寺 碑 ghi việc trùng tu tòa Thượng điện, thiêu hương, tiền đường, hậu đường những năm đầu thế kỷ XVII. Văn bia Vĩnh Nghiêm tự công đức bi /永嚴寺功德碑 được soạn năm 1606 ghi việc trùng tu, tô tượng chùa Vĩnh Nghiêm.

Như vậy, văn bia ở phía Tây núi Yên Tử mà ngày nay phần lớn thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang khá phong phú và quý giá, là sản phẩm và dấu tích trực tiếp của các hoạt động và thực hành tôn giáo của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần.  

  1. Ý nghĩa tư liệu văn bia với di tích Phật giáo Trúc Lâm ở Tây Yên Tử

Như vậy, với số văn bia hiện còn ở phía Tây Yên Tử đã giúp ta biết được Thiền phái Trúc Lâm được mở mang, phát triển ở cả Tây Yên Tử mà tập trung nhất là ở các nơi có non cao cảnh đẹp thuộc vùng Na Ngạn xưa (nay thuộc phần đất Lục Ngạn, Lục Nam và một phần huyện Yên Dũng). Nơi đây có chùa Am Vãi, hay Ni Am, một ngôi chùa giành riêng cho các ni sư (sư nữ), mà người đứng đầu là công chúa nhà Trần.

Văn bia thời Trần ở đây không nhiều, song đã góp phần quan trọng giúp việc nhận thức đầy đủ hơn diện mạo của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần với trung tâm là hai phía đông và tây dãy núi Yên Tử. Văn bia thời Lê sơ ở chùa Khám Lạng (xã Khám Lạng, huyện Lục Nam) và văn bia thời Mạc ở chùa Vĩnh Nghiêm cho thấy sự tiếp nối và chấn hưng Phật giáo Trúc Lâm vào thời Lê sơ cuối thế kỷ thứ XV sang thời Mạc thế kỷ XVI.

Chùa Vĩnh Nghiêm chính là điểm nối các trung tâm Phật giáo Trúc Lâm, đồng thời là điểm trung chuyển giữa Thăng Long với Yên Tử. Văn bia chùa Thanh Mai khắc năm 1362 có đoạn viết:

 "Ngày mồng 1 tháng 2 năm Quý Sửu niên hiệu Hưng Long thứ 21 (1313), Viện chủ tổ Long Đàm mời Sư đến chùa giảng Thiền Lâm Thiết chuỷ ngữ lục cùng Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, Duy Ma cật kinh3. Ngày khai đường lên toà, Anh Tông nghe pháp, phụng mệnh di chiếu của Điều Ngự, lấy tiền của Tam bảo trong cung Thánh Từ  mà trùng tu lại chùa Báo Ân ở Siêu Loại. Việc trùng tu này thì các thợ, đất, gỗ đều do quan cấp. Hoàng Thượng ba bốn lần đến chùa, lại mệnh cho Cấm quân đắp đất chuyển gỗ.

Tháng 9, Sư phụng chiếu chỉ đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang để hoạch định chức dịch Tăng chúng trong thiên hạ, cùng đặt các chùa chiền gồm hơn trăm toà, tăng chúng trong nước đều có quán tịch từ đó, đều do sư cai quản hết. Bấy giờ độ hơn nghìn vị tăng, về sau cứ ba năm lại độ một lần, tăng đều chẳng giảm đi. Bảo Từ Hoàng thái hậu cạo tóc, dâng ruộng nhà là 300 mẫu làm ruộng Tam bảo, thường sản xuất cho chùa Siêu Loại. Trước kia Thái hậu đã thụ giới ở chùa, nay nhân đó mà làm tài sản ngoài riêng"4.

Tư liệu văn bia là nguồn sử liệu quan trọng trực tiếp ghi chép các sự kiện liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ba vị sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên tử.

Về quy mô và Phật điện chùa thời Trần, tư liệu văn bia cho biết, quy mô chùa chủ yếu là Phật điện ở trung tâm kiến trúc. Trên Phật điện thời Trần thường có ít tượng, nhưng đã có, và có lẽ chủ yếu là tượng A di đà "Khai thác nền móng, mở rộng quy mô, đắp tô tượng Phật, khắc chạm muôn hình". Tượng được đặt trên bàn thờ Phật mà hiện nay được biết đến một số bàn thờ Phật bằng đá thường gọi là bệ đá hoa sen. Trên bệ đá hoa sen thời Trần ở chùa Đại Bi thôn Quế Dương, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, khắc năm Long Khánh thứ 2 (1374) và bệ đá chùa Đại Bi nay là chùa Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, khắc năm Xương Phù thứ 6 (1382) có minh văn. Minh văn đều gọi bệ đá là Phật bàn: 桂陽村大悲寺佛槃/Quế Dương thôn Đại Bi tự Phật bàn (Bàn thờ Phật chùa Đại Bi thôn Quế Dương); "貝 溪 村 大 悲 寺 佛 槃/ Bối Khê Đại Bi tự Phật bàn (Bàn Phật chùa Đại Bi, thôn Bối Khê).

Chùa Khám xã Khám Lạng huyện Lục Ngạn có bệ đá hoa sen làm vào thời Lê sơ là sự tiếp nối truyền thống của ngôi chùa thời Trần và bệ đá hoa sen này cũng là bàn thờ Phật ở trung tâm Phật điện. Tuy nhiên, chính ở ngôi chùa này sang thời Lê sơ đã xuất hiện bộ tượng Tam thế. Vì số tượng tăng lên, do vậy tượng Tam thế được đặt ở bệ thờ phía sau bệ đá hoa sen.

Ngoài các ngôi chùa Phật được xây dựng, tu bổ ra, tháp chùa cũng được chú trọng xây dựng, tôn tạo. Quy mô tháp khá lớn, như tháp trên núi Dục Thúy, được xây bốn tầng, "đêm tỏa hào quang, kẻ xa người gần đều trông thấy rõ" (Bia núi Dục Thúy). Đặc biệt là tháp Phổ Minh, đây chính là ngôi tháp chứa xá lị của vua Trần Nhân Tông, đệ nhất tổ Trúc Lâm, với hiện thân là một đóa sen vàng rực rỡ. Cây tháp chính là biểu tượng cho sự đồng nhất Vua - Phật, Phật - Vua và tên gọi Phổ Minh nghĩa là "đem ánh sáng Phật, ánh sáng minh triết để giúp mọi sinh linh giác ngộ" cũng phản ánh tư tưởng chủ đạo của Phật phái Trúc Lâm. Cùng với tháp Phật là tháp mộ của sư tăng. Đó là các tháp mộ của các vị Sư tổ Phật giáo Trúc Lâm được dựng ở trung tâm Phật giáo Trúc lâm Yên Tử. Tại chùa Am Vãi xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang có tháp mộ Bồ tát vốn là Công chúa thời Trần xuất giá tu hành ở đây. Tháp và bia mộ còn được bảo lưu khá nguyên vẹn. 

Về Phật điện thời Trần, đến nay hầu như đều đã bị biến đổi so với diện mạo ban đầu. Tuy nhiên, tư liệu văn bia cung cấp nhiều thông tin về Phật điện thời Trần, như vừa nêu trên. Đây là đóng góp quan trọng của văn bia trong việc nghiên cứu ngôi chùa và Phật điện thời Trần. Ngoài ra, văn bia còn cho thấy sự lưu truyền rộng rãi của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong phạm vị cả nước.

Phật giáo Trúc lâm khá phổ biến, được lưu truyền rộng rãi và tôn nghiêm. Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Trúc Lâm là sự kết hợp giữa đạo với đời, như Trần Thái Tông nói "Đạo Phật không chia nam, bắc, đều có thể tu cầu; tính người có hiền ngu, đều cùng được giác ngộ. Vì vậy, đại giáo của đức Phật là phương tiện để mở lòng mê muội, là con đường soi rõ lẽ tử sinh...". Thêm nữa, thiền phái Trúc Lâm nhấn mạnh rằng "Phật ở trong lòng, lòng lặng lẽ và sáng suốt, đó chính là chân Phật", nghĩa là "giác ngộ được chân tâm" có thể thành Phật. Với tư tưởng đó, thì khi ấy dù là vua quan, đại thần, thừa tướng hay quốc sư, cư sĩ hay thường dân đều có thể thành Phật. Vua cởi áo bào, cạo đầu trở thành vị sư danh tiếng. Người người đua nhau hằng tâm công đức cúng dàng, chùa Phật mọc lên khắp nơi, đến nỗi Trương Hán Siêu sau đó phải thốt lên rằng: "Thiên hạ năm phần thì sư tăng chiếm một".

Thực trạng này cũng đã được văn bia phản ánh khó rõ.

Tóm lại, di sản Hán Nôm ở khu vực phía Tây Yên Tử có giá trị nhiều mặt trong việc nghiên cứu Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử, cũng như lịch sử văn hóa xã hội đương thời. Trong khi phần lớn di tích kiến trúc Phật giáo thời Trần ở đây nay đều bị hư hỏng, biến đổi nhiều, thì tư liệu văn bia, từng được xem là trang sử "đá", có giá trị đáng kể trong việc khôi phục "bản lai diện mục" của các di tích đó, cũng như các hoạt động Phật giáo và văn hóa xã hội thời nhà Trần.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục - Thiên chương (bản dịch), Nxb. Sử học, H. 1963.
  2. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử kí toàn thư (Bản dịch), T. I, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1998.
  3. Thích Thanh Từ, Trúc Lâm Tam Tổ giảng giải, 1997.
  4. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 2001.
  5. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.
  6. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, T. II: Thờ Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Đại học Trung Chính Đài Loan, 2002.
  7. Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang, Di tích Bắc Giang tập II, NXB. Thông tấn, Hà Nội, 2012.
  8. Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên), Di tích Bắc Giang, Bảo tàng Bắc Giang, năm 2001.
  9. Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên), Chốn tổ Vĩnh Nghiêm, Bảo tàng Bắc Giang, 2003.
  10. Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong, Tư liệu Hán Nôm huyện Yên Phong, Sở VHTT tỉnh Bắc Ninh, 2005.
  11. Đinh Khắc Thuân (Chủ biên) Văn bia thời Trần (Bản thảo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2015).

 

 

 

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 308 | Tất cả: 1,356,967
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn