CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Viện trưởng Phạm Đức Dương - Một người con xứ Nghệ
Tin đăng ngày: 4/12/2017 - Xem: 407
 

Trang Tuệ

Upload

GS.Ts Phạm Đức Dương (1930-2013)

Di sản của một nhà khoa học, một nhà giáo để lại cho hậu thế không phải là một cái tên cho nhiều người biết đến, mà quan trọng là những giá trị, những trí tuệ, những kinh nghiệm và cả tấm gương về nhân cách của họ làm cho người khác trân trọng và học hỏi. Tất cả được thể hiện qua những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, những thế hệ học trò tài năng và thành đạt, những bài học quan trọng từ quá trình xây dựng và phát triển ngành, đóng góp vào xây dựng nền khoa học, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Xét theo đó, có thể nói GS.TS Phạm Đức Dương là người có được hầu hết những giá trị cơ bản của một nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý khoa học, dù giá trị đó đến đâu thì vẫn sẽ cần tiếp tục tìm hiểu. Một trong những đóng góp to lớn của GS. Phạm Đức Dương chính là quá trình xây dựng và phát triển Viện Nghiên cứu Đông Nam Á và ngành Đông Nam Á học Việt Nam. Trong quá trình đó, ông đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về quản lý khoa học mà cho đến nay vẫn còn nhiều giá trị. Và điều đó cũng góp phần làm nên một Viện trưởng Phạm Đức Dương được nhiều đồng nghiệp, bạn bè, học trò và cả những người lãnh đạo nhà nước kính trọng.

GS.TS Phạm Đức Dương (1930-2013), quê ở làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là một nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng, một nhà giáo có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu Ngôn ngữ học, Đông Nam Á học và Văn hóa học. Thuở nhỏ, gia đình nghèo đói, không có điều kiện đi học, may được một thầy giáo trong làng thương mến cho vào học ở lớp của thầy ở trong làng và trả công bằng cách làm việc vặt trong nhà cho thầy, rồi được một số người giúp đỡ mà học hết tiểu học. Năm 1946, mới 16 tuổi ông tham gia cách mạng và nhập ngũ tại Trung đoàn 103 ở Hà Tĩnh. Sau đó chuyển sang Trung đoàn 286, hành quân sang chiến đấu ở Lào. Sau 10 năm nhập ngũ và chiến đấu ở Lào, ông về nước và được cho đi học tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông về Viện Ngôn ngữ học (Ủy ban Khoa học Xã hội nhà nước) làm việc, rồi sang làm thực tập sinh ở Liên Xô và bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ về Ngôn ngữ học. Về nước ông tiếp tục làm việc ở Viện Ngôn ngữ học. Năm 1973, khi Ban Nghiên cứu Đông Nam Á được thành lập, ông được chuyển về đây công tác, giữ chức Phó Ban, Trưởng Ban, khi Ban có quyết định chuyển lên thành lập Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thì GS. Phạm Đức Dương là Viện trưởng cho đến năm 1994 thì ông nghỉ quản lý. Hơn tám mươi năm làm người, hơn năm mươi năm làm nghiên cứu khoa học và hơn hai mươi năm làm quản lý khoa học, GS.TS Phạm Đức Dương đã để lại cho hậu thế một di sản to lớn về nhiều phương diện. Đặc biệt là những kinh nghiệm về quản lý khoa học của một người làm viện trưởng được ông xây dựng, thực hiện và đúc rút ra trong hơn hai mươi năm làm quản lý Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (nay thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Qua nhiều buổi trò chuyện với GS. Phạm Đức Dương trong khoảng 5 năm trước khi Giáo sư tạ thế, cũng như một số trao đổi với các nhà nghiên cứu khác về ông, bài viết này xin mạn phép được tổng kết lại một số bài học kinh nghiệm quý báu về quản lý khoa học mà GS. Phạm Đức Dương để lại cho hậu thế(1)..

Mọi việc phải bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc với tinh thần cầu thị, cầu tuệ

Học một cách nghiêm túc, cầu thị, đó là con người của GS. Phạm Đức Dương. Với ông, quan điểm về học là “Học để nâng cao kiến thức, phục vụ tốt cho công việc chuyên môn, cho cuộc sống là nhiệm vụ và niềm tự hào của mỗi người nhưng học bằng tiền, bằng quyền, cốt có tấm bằng để tiến thân thì đó là một điều tai hại đối với xã hội”(2). Những ngày thành lập Ban Đông Nam Á, ông là một trong những người hăng say học tập từ chính các đồng nghiệp của mình. Các ông tổ chức lớp trợ lý Đông Nam Á và mời các chuyên gia đầu ngành về giảng dạy. Lúc đó, Cao Huy Đỉnh giảng về văn hóa dân gian, Đào Duy Anh giảng về lịch sử, Hà Văn Tấn giảng về khảo cổ học, Từ Chi giảng về dân tộc học, Phan Ngọc giảng về ngôn ngữ học… Không chỉ học lý thuyết, các ông còn đi thực tế với các chuyên gia. Cuối những năm 1970, dù đã gần 50 tuổi nhưng ông vẫn theo GS. Hà Văn Tấn và các sinh viên vào khai quật khảo cổ học ở Hà Tĩnh. Giữa trời miền Trung nắng nóng, thầy trò ông cởi trần, mồ hôi nhễ nhãi ngồi phân loại hiện vật giữa nhà kho. Ông còn một mình đi tìm lấy hiện vật để thực hành và nhờ GS. Hà Văn Tấn kiểm tra giúp. Ông bảo “tôi nghe theo lời anh giảng và tự đi tìm phân loại hiện vật. Nay anh xem lại mà đúng thì coi như tôi đã thuộc bài của anh”.

Phạm Đức Dương luôn coi những người như Phan Ngọc, Từ Chi là những người thầy của mình. Ông xem được làm việc với những nhà khoa học lớn này là một đặc ân, một vinh dự và một cơ hội để học tập. Như chính ông nói: “Từ Chi là người đã dạy tôi phương pháp đi thực địa, không phải dạy sách vở mà dạy qua những chuyến thực địa trực tiếp. Còn Phan Ngọc đã dạy tôi về nghiên cứu tư liệu, về lý luận…”. Phạm Đức Dương quan điểm rõ ràng về việc học: học để làm việc, để hiểu người hiểu việc và học để từ đó mà sử dụng con người cho đúng việc và tạo điều kiện để họ làm việc tốt nhất. Như ông nói: “Mình làm quản lý, riêng từng chuyên môn thì mình không thể biết sâu bằng chuyên gia nhưng mình cũng phải hiểu để biết cán bộ của mình đang làm cái gì. Nếu mình không học hỏi nghiêm túc thì sẽ trở thành một anh cán bộ lãnh đạo chính trị, luôn đứng trên người khác và đi dạy người khác”.

Phân biệt rõ người quản lý khoa học và chuyên gia nghiên cứu khoa học

Quản lý khoa học là tổ chức và đảm bảo điều kiện để các nhà khoa học thực hiện công việc nghiên cứu, sáng tạo chứ không phải là người đi dạy các nhà khoa học nghiên cứu và phán quyết các công trình của họ. Trong một thời gian dài và cho đến ngày nay, chúng ta vẫn chưa có một sự phân biệt giữa người quản lý khoa học và các chuyên gia nghiên cứu khoa học. Một số nhà quản lý khoa học đã ngộ nhận mình là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực mình quản lý. Điều này tạo nên nhiều hệ lụy khác nhau và ảnh hưởng đến không chỉ khoa học mà cả xã hội. Trước hết, sự ngộ nhận của nhà quản lý vô hình trung đã làm hạn chế môi trường hoạt động của các chuyên gia nghiên cứu thật sự. Cùng với đó là chất lượng các nghiên cứu trong lĩnh vực sẽ hạn chế. Sự ngộ nhận đó cũng “cướp đi” những chế độ đãi ngộ vật chất mà đáng lẽ các chuyên gia được hưởng để phục vụ nghiên cứu, sáng tạo. Và nguy hại hơn nữa, khi lãnh đạo nhà nước cần ý kiến tư vấn của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn lại tìm nhầm người tư vấn.

Nhìn nhận lại, GS. Phạm Đức Dương là một trong số ít người trong thế hệ của ông tránh được sự nhầm lẫn, ngộ nhận này. Ông luôn coi mình chỉ là một người quản lý khoa học, mà theo ông, là người đứng ra tổ chức anh em và tạo điều kiện tốt nhất cho họ nghiên cứu khoa học. Một cách khiêm tốn thì đồng nghĩa với người giúp việc cho các chuyên gia nghiên cứu. Chức Viện trưởng của ông cũng chẳng khác gì anh tổ trưởng tổ sản xuất. Dù nghe có vẻ ấu trĩ, nhưng nhận thức của ông khi còn làm quản lý là như vậy. Ông từng trao đổi ý kiến về sự phân biệt này với một lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội thì bị trách móc vì làm như vậy sợ “không nhất quán về mặt chính trị và dễ bị kẻ thù lợi dụng khoa học để truyền bá tư tưởng chống phá”. Khi một người bạn của ông lên làm lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội đã hỏi ông về kinh nghiệm lãnh đạo sau nhiều năm lãnh đạo viện nghiên cứu, ông cũng chỉ bảo: “Tôi không có kinh nghiệm gì về quản lý cả nhưng thiết nghĩ, anh muốn có khoa học thật sự thì hãy trân trọng các chuyên gia nghiên cứu, sử dụng họ hợp lý và tạo điều kiện để họ sáng tạo, đóng góp cho nền khoa học nước nhà. Hãy bớt hình thức và phân biệt rõ quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học. Muốn vậy anh phải biết được ai là những chuyên gia thật sự trong các ngành mà anh quản lý và phải nắm rõ danh sách này để sử dụng họ đúng việc và tạo điều kiện cho họ làm việc tốt hơn”.

Người quản lý khoa học phải nhìn nhận và giới thiệu đúng các chuyên gia để tư vấn cho lãnh đạo nhà nước và cũng tạo điều kiện để các chuyên gia đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Đầu những năm 1980, sau chiến tranh biên giới Tây Nam rồi chiến tranh biên giới Tây Bắc đã đặt ra nhiều vấn đề về quan hệ giữa Việt Nam và khu vực, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho gọi Phạm Đức Dương lên gặp để hỏi ý kiến với tư cách là Viện trưởng Viện Đông Nam Á. Lúc đó, mỗi khi hỏi ý kiến về lĩnh vực nào thì lãnh đạo nhà nước cho gọi người Viện trưởng của viện đó lên vì họ nghĩ ông viện trưởng đương nhiên là người giỏi nhất của lĩnh vực đó. Khi gặp Thủ tướng, Phạm Đức Dương nói rõ quan điểm của mình: “Anh bảo tôi trình bày về Đông Nam Á thì tôi cũng làm được thôi. Nhưng nếu anh muốn hỏi ý kiến chuyên gia thật sự về vấn đề lịch sử, văn hóa Đông Nam Á thì tôi xin giới thiệu anh Phan Ngọc và anh Từ Chi. Họ là những chuyên gia thật sự”. Việc này làm Thủ tướng có chút ngạc nhiên, nhưng ông vẫn trao đổi với Phạm Đức Dương và sau đó bảo thư ký mời Phan Ngọc lên nói chuyện một buổi để hiểu thêm vấn đề.

Trọng dụng, trân trọng và tạo điều kiện cho các chuyên gia đầu ngành làm khoa học

Từ sự phân biệt rõ người quản lý khoa học và chuyên gia nghiên cứu khoa học mà Phạm Đức Dương có một thái độ đặc biệt trân trọng các chuyên gia đầu ngành. Theo PGS.TS Ngô Văn Doanh đánh giá thì “Viện Nghiên cứu Đông Nam Á dưới thời GS. Phạm Đức Dương được coi là thời hoàng kim khi tập hợp được nhiều chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực hội tụ về viện làm việc. GS. Phạm Đức Dương có sức hút như một thỏi nam châm lớn hút được các chuyên gia về viện và tạo điều kiện để họ làm việc tốt”(3). Sức hút mà PGS. Ngô Văn Doanh nói ở đây là thái độ trân trọng đối với các chuyên gia. Việc tạo điều kiện cho Từ Chi và Phan Ngọc về làm việc tại viện là một minh chứng cho quan điểm này của Phạm Đức Dương.

Từ Chi là một nhà dân tộc học chính thống được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm nghiên cứu điền dã Dân tộc học từ Châu Phi từ đầu những năm 1960. Theo GS. Phạm Đức Dương nói thì “với bề ngoài xoành xoàng, ăn mặc lôi thôi nhìn như một người hành khất nhưng Từ Chi lại chứa đựng một trí tuệ sắc sảo với một vốn tri thức uyên bác. Tuy nhiên, không phải ai cũng phát hiện ra sự vĩ đại từ con người giản dị này”. Khi Từ Chi về làm công tác tư liệu tại Tổ Dân tộc học của Ủy ban Khoa học Xã hội, để phục vụ công tác nghiên cứu, ông đã tổng hợp các quan điểm lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học mới mẻ của phương Tây để trình bày. Một số người đã quy cho ông là “phổ biến các tư tưởng tư sản cho cán bộ trẻ”. Chuyện này gây nhiều khó khăn khiến ông phải xin rời khỏi Tổ Dân tộc học sang Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật. Khi làm quản lý Ban Đông Nam Á, sau là Viện Đông Nam Á, Từ Chi là người mà Phạm Đức Dương mời về cộng tác nhiều nhất. Và cũng từ Viện Đông Nam Á, Từ Chi có điều kiện để nghiên cứu dân tộc học và đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp của mình. Với Phạm Đức Dương, Từ Chi là một khối óc vĩ đại nên nhiệm vụ của ông là “tạo điều kiện cho Từ làm việc và khai thác trí tuệ của Từ trong nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ trẻ”. Ông mời Từ Chi tham gia các chương trình nghiên cứu của Viện, giảng dạy và đào tạo cán bộ cho Viện. Ông cử các cán bộ trẻ như Nguyễn Duy Thiệu, Ngô Văn Doanh… đi theo Từ Chi để học tập. Các sinh hoạt về chuyên môn của Từ Chi chủ yếu diễn ra ở Viện Đông Nam Á. Dù Từ chưa bao giờ được biên chế ở Viện Đông Nam Á nhưng đến như bà Tuất vợ ông cũng chỉ biết cơ quan của chồng là Viện Đông Nam Á. Và cũng chính sự cộng tác của Từ Chi mà các cán bộ trong viện học được về phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp và lý thuyết nhân học phương Tây. Không chỉ vậy, Từ còn khơi dậy khát vọng và đam mê cho từng cán bộ nghiên cứu trẻ.

Cùng với Từ Chi, Phan Ngọc cũng là một trí tuệ uyên bác khác. Với vốn ngoại ngữ phong phú, ông từng nghiên cứu và dịch thuật nhiều tài liệu và tác phẩm quan trọng, tham gia giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhưng sau phong trào Nhân văn Giai phẩm, ông bị đình chỉ công tác giảng dạy và chuyển sang làm tư liệu tại khoa Ngôn ngữ học, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Chuyện Phạm Đức Dương làm mọi cách để đưa Phan Ngọc từ Đại học Tổng hợp về Viện Đông Nam Á đến giờ vẫn được coi như là một “cuộc giải cứu”. Ở lại khoa Ngôn ngữ, Phan Ngọc được giao hai việc là dịch thuật và hướng dẫn cho các cán bộ trẻ để họ lên lớp giảng lại cho sinh viên. Thời gian này ông dịch rất nhiều và có nhiều công trình nghiên cứu nhưng lại không được phép xuất bản. Ngay bản dịch Sử ký của Tư Mã Thiên ông cũng phải in dưới tên Nhữ Thành. Sau hơn hai mươi năm làm dịch thuật, dù đời sống không khó khăn nhưng ngược lại, nghiên cứu khoa học lại vô cùng hạn chế do không được xuất bản. Ông cố gắng xin chuyển cơ quan nhưng Đại học Tổng hợp không đồng ý. Phải đến năm 1980, khi hai người học trò của Phan Ngọc lên làm quản lý Khoa Ngôn ngữ, đồng thời ông Vụ trưởng Vụ Tổ chức của Ủy ban Khoa học Xã hội - vốn là một tín đồ của chủ nghĩa thành phần giai cấp về hưu thì việc “giải cứu” Phan Ngọc về Viện Đông Nam Á mới được hoàn thành. Từ đó, sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Phan Ngọc được vươn cao khi Phạm Đức Dương đã tạo mọi điều kiện để ông tập trung làm việc. Vậy nên năm 2009, khi Phạm Đức Dương đến thăm Phan Ngọc ở Mỹ Đình, Phan Ngọc đã ôm lấy ông Dương và nói rằng: “Có Phan Ngọc ngày hôm nay là nhờ có Phạm Đức Dương, ông là ân nhân của đời tôi”(4).

Thật sự quan tâm đến đời sống của các cán bộ khoa học

Quan điểm của Phạm Đức Dương rất rõ ràng: Muốn các nhà nghiên cứu khoa học tập trung để tìm tòi, sáng tạo và đóng góp cho nền khoa học nước nhà thì người quản lý khoa học phải biết quan tâm, chăm lo đời sống cho các cán bộ nghiên cứu.

Với chuyên gia làm cộng tác viên như Từ Chi, ông không thể tạo điều kiện tăng lương được nên phải dùng nhiều cách để giúp đỡ gia đình Từ Chi. Trong các chuyến công tác đều cố gắng để Từ Chi có một khoản công tác phí cho ông đi điền dã. Đóng góp và chia sẻ từ mọi người để Từ Chi có bát bún, chén rượu trong những bữa nói chuyện với các cán bộ viện vào cuối ngày làm việc. Kể cả sau khi Từ Chi qua đời, Phạm Đức Dương và Viện Đông Nam Á cũng cố gắng giúp đỡ bà Tuất như ước nguyện cuối cùng của Từ.

Với các cán bộ trong Viện, Phạm Đức Dương rất quan tâm đến đời sống mọi người. Lương cán bộ viện thời bao cấp rất thấp, đã vậy phải 5 năm mới được xét tăng lương một lần. Vậy nên khi về Viện Đông Nam Á, Cao Xuân Phổ dù là một nhà nghiên cứu kỳ cựu nhưng vẫn chỉ được hưởng lương cán sự 3 (tương đương sinh viên mới tốt nghiệp). Phạm Đức Dương đã trao đổi với cán bộ trong viện là cán bộ trẻ cố gắng chịu thiệt một ít để nhường cho các cán bộ lớn tuổi hơn tăng lương trước. Nhờ vậy mà ông đưa lương của Cao Xuân Phổ từ cán sự 3 lên lương chuyên viên và khi nghỉ hưu là chuyên viên bậc 5. Để làm được ý tưởng trên, ông Dương đã sử dụng quyền bổ nhiệm cán bộ của mình. Ông lần lượt bổ nhiệm những người “thuộc danh sách” muốn lên mức lương do ông và viện đã trao đổi trước, làm trưởng phòng và phó phòng. Sau khi họ được tăng lương một hai năm thì lại bổ nhiệm người khác để giải quyết vấn đề lương. Vậy nên “quân của ông Dương” luôn có được một cuộc sống khá hơn trong điều kiện khó khăn lúc đó. Sau này, khi nhìn lại ông tâm sự: “Bổ nhiệm cán bộ cần nhìn vào chuyên môn, trình độ của họ để sử dụng hợp lý. Nhưng trong điều kiện lúc bấy giờ khó khăn quá, mọi người đói quá thì không thể sống được chứ nói gì làm nghiên cứu khoa học. Vậy nên phải làm như vậy để giải quyết cuộc sống trước cho anh em”.

Làm Viện trưởng không nên nhận đặc quyền đặc lợi

Phân biệt rạch ròi giữa quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học là để tránh chế độ đặc quyền đặc lợi mà nhiều khi chính người quản lý khoa học đã lấy mất của người nghiên cứu khoa học. Người quản lý khoa học thường được coi là lãnh đạo nên có những chế độ ưu tiên riêng. Nhưng nhiều người đã cố tình nhầm để được hưởng thụ cả chế độ mà đáng lẽ ra phải dành cho người làm nghiên cứu khoa học. Với Phạm Đức Dương thì đảm bảo quyền lợi cho người nghiên cứu khoa học là trách nhiệm của người quản lý khoa học.

Hơn hai mươi năm làm trưởng ban và viện trưởng, Phạm Đức Dương tự đặt ra nguyên tắc là không đăng ký vào danh sách chiến sĩ thi đua của viện và không đăng ký vào danh sách 5% cán bộ được tăng lương. Như ông quan niệm thì chiến sĩ thi đua của một viện nghiên cứu khoa học phải là những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Danh hiệu này lại do chính các cán bộ trong viện bầu bán. Nếu viện trưởng đăng ký thì dù sao mọi người cũng sẽ bỏ phiếu bầu cho lãnh đạo. Như vậy thì chính người quản lý đã cướp mất một danh hiệu đáng ra của nhà nghiên cứu. Còn việc tăng lương, ông cố gắng dành cho cán bộ chuyên môn tối đa những gì họ được hưởng. Không phải ông không cần lương, mà ông nghĩ ông có trách nhiệm lo cho đời sống của các nhà nghiên cứu mà ông quản lý. Còn chuyện lương bổng của ông thì chính những người quản lý ông phải lo. Ông từng nói với lãnh đạo Ủy ban Khoa học Xã hội rằng: “Các anh là người phải xem xét lương của các viện trưởng như chúng tôi vì chúng tôi là quân của các anh quản lý. Còn chúng tôi lại có trách nhiệm lo cho các nhà nghiên cứu mà chúng tôi quản lý. Nếu tôi cũng đăng ký vào 5% cán bộ tăng lương của viện thì còn gì phần của anh em”.

Ngoài chuyện lương bổng thì cán bộ quản lý khoa học cũng có nhiều ưu tiên trong việc xuất bản các công trình nghiên cứu trong thời bao cấp. Khi tiêu chuẩn xuất bản được phân bổ về các viện mà lãnh đạo viện đăng ký thì những người khác sẽ phải chịu thiệt. Tuy nhiên, với Phạm Đức Dương lại ứng xử khác. Tiêu chuẩn xuất bản in ấn của Viện Đông Nam Á được ông phân chia rất rõ ràng: ông không đăng ký vào tiêu chuẩn của viện, ưu tiên số một dành cho các công trình nghiên cứu mà ông cho là có giá trị khoa học cao của các nhà nghiên cứu hàng đầu. Vậy nên các công trình nghiên cứu của Phan Ngọc, Từ Chi đều được xuất bản ở Viện Đông Nam Á. Với ông Dương, Viện Đông Nam Á được đứng ra để in những tác phẩm này là một vinh dự vì chính các công trình này làm rạng danh thêm cho viện chứ không phải viện làm rạng danh các nhà khoa học này. Sự ưu tiên còn lại trong xuất bản phẩm được ông dành cho các nhà nghiên cứu trẻ. Các cán bộ của viện sau khi bảo vệ tiến sĩ đều được động viên chỉnh sửa lại sau ba tháng nộp lại để ông đưa đi in thành sách.

Hơn năm trăm năm trước, danh sĩ Thân Nhân Trung đã tổng kết “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Nhưng qua nhiều thời đại cho thấy không dễ gì để đưa nguyên khí này vào sự nghiệp tôn tạo, phát triển đất nước. Ngày nay, khi nhân loại đang tiến vào nền kinh tế tri thức thì việc sử dụng người tài trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của quốc gia. Những quan niệm, những bài học của GS. Phạm Đức Dương về quản lý khoa học và sử dụng người tài trên đây, dù nhiều cái đã không còn nguyên giá trị, nhưng vẫn còn gợi mở cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ. Hy vọng rằng cùng với sự thay đổi về nhận thức theo xu hướng phát triển của nhân loại, cùng sự trở mình của đất nước, những di sản trí tuệ của các nhà khoa học sẽ được vận dụng và phát huy.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn sử dụng trong bài viết là những nội dung trong nhiều buổi trao đổi của tác giả với GS. Phạm Đức Dương trong nhiều buổi, trong đó có buổi trò chuyện riêng về quá trình làm Viện trưởng của GS. Phạm Đức Dương ngày 08/6/2013.

(2). Vũ Đảm: Văn hóa dùng người tài (phỏng vấn GS.Phạm Đức Dương). Vanhoanghean.vn

(3). Trao đổi giữa PGS.TS Ngô Văn Doanh với NCS Đặng Hoàng Giang và tác giả trong lễ tang GS. Phạm Đức Dương ngày 11-12-2913.

(4). Ghi chép của tác giả trong cuộc gặp với GS. Phạm Đức Dương và học giả Phan Ngọc năm 2009.

Con người xứ Nghệ khác:
Viện trưởng Phạm Đức Dương - Một người con xứ Nghệ (4/12/2017)
Thầy Văn Như Cương và 10 câu nói tâm huyết với học trò (10/10/2017)
Phó Giáo sư Ninh Viết Giao với Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An (6/10/2017)
Từ niềm đam mê đến giải thưởng Sáng tạo Khoa học & Công nghệ (3/7/2017)
PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH KỲ DIỆU “THỔI BÁT CHÁO NÓNG” CỦA BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (31/3/2017)
NHÀ NÔNG HỌC NGUYỄN THÁI HIẾN - SUỐT ĐỜI HỌC ĐỂ HÀNH (13/12/2016)
NHÀ VĂN NGUYỄN THẾ QUANG VÀ BA CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VỪA XUẤT BẢN (5/1/2016)
MẤY KỶ NIỆM VỚI PHÓ GIÁO SƯ PHAN VĂN BAN (8/12/2015)
VÕ QUÝ HUÂN (1912 - 1967) (9/9/2015)
Cao Xuân Dục – Một nhà sử học Việt Nam dưới triều Nguyễn (9/9/2015)
Giáo sư Cao Xuân Huy – hư thực chân dung một bậc thầy (9/9/2015)
Giáo sư Trần Đình Hượu và những đóng góp cho khoa học xã hội Việt Nam (9/9/2015)
Người thổi hồn văn hóa dân gian xứ Nghệ (9/9/2015)
Tôn Quang Phiệt - Nhân vật của lịch sử và văn hóa khả kính (18/5/2015)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,207 | Tất cả: 1,559,518
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp