KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Quam hặc - Bùa yêu
Tin đăng ngày: 7/11/2017 - Xem: 676
 

                                                 Quán Vi Miên(*)

                                                                             Lò Văn Lả(**)

Upload

 Đám cưới của dân tộc Thái (nguồn: Baonghean)

  1. Mở đầu

1.1. “Quam hặc” tiếng Thái có nghĩa là: a/ “Quam” là “phù phép, ma thuật”; b/ “hặc” là “yêu”; “Quam hặc”, vì thế, tương đương với từ “bùa yêu” trong tiếng Việt (a/ “Bùa” có thể làm cho người khác phải thương yêu, theo mê tín”(1); b/ “Bùa” là “vật thường bằng giấy hoặc vải, có những dấu hiệu đặc biệt, được cho là có phép thiêng trừ ma quỷ, tránh được tai nạn, mê hoặc được người khác [chúng tôi nhấn mạnh - QVM], v.v., theo mê tín”(2)); Hoặc “Bỏ bùa bỏ ngải”(3): a/ Thuốc có phép mê hoặc người khác, theo mê tín; b/ Ngải: Cây thân cỏ cùng họ với gừng, lá to dai, có cuống ngắn, hoa màu vàng, củ dùng làm thuốc”, (“Cây ngải” sẽ còn được nhắc đến dưới đây).  

1.2. “Quam hặc - bùa yêu” của người Thái phải do thầy mo(4) làm một cách bí mật, mới “công hiệu” (!). Họ (những người mưu lợi trong việc này) phải thuê/nhờ thầy mo làm “bùa yêu” cho. Cũng có những “bài” đòi hỏi người “trong cuộc” phải tự làm thì mới “tiện” (như trường hợp “vợ chồng” chẳng hạn). Trong quá trình tìm hiểu - sưu tầm các bài “quam hặc - bùa yêu” của người Thái, chúng tôi thấy “chủ thể - đối tượng” khá đa dạng: a/ Chàng trai/đàn ông - cô gái/phụ nữ và ngược lại; b/ Chồng - vợ và ngược lại; c/ Người này - người khác bỏ chồng/vợ và ngược lại; v.v.

1.3. “Vật” làm “bùa” của người Thái thường là cây cỏ, hoa lá, bánh trái, thức ăn, nước uống, ghế ngồi, gối kê, chăn màn, váy áo, v.v. Thầy mo “phù phép”, “yểm thuốc” vào trong các vật đó; các vật đó trở nên “có phép” và “truyền” đến đối tượng; đối tượng “hấp thụ” nó, và “thuốc” phát huy tác dụng, đạt kết quả theo ý muốn (!). Trường hợp thuận lợi có thể “tiếp cận” được đối tượng, thì chạm tay vào áo, vỗ vai, véo tay, cà chân, gãi lưng, ôm ấp, v.v. Đó là “quam hặc - bùa yêu” được làm một cách trực tiếp (có thể nói là cấp độ 1, chưa phải là “cao tay” lắm). Cao hơn là gián tiếp, làm khi “vắng bóng” đối tượng, thông qua “vật thứ 2” nào đó. Có thể gọi là cấp độ 2 - siêu bùa! Người “phù phép” rõ ràng là phải có “phép thuật siêu phàm” thì mới thực hiện được (!).

1.4. Hiệu quả của “quam hặc - bùa yêu” là “không thể nói” (chúng tôi cũng không dám khẳng định). Nhưng “nó” là một thực tế đã tồn tại hàng ngàn năm với loài người (không chỉ riêng đối với người Thái). Gần đây, năm 1999, khi tôi gặp anh Lô Văn N. 40 tuổi, người ở mường Chơ Vắn, Quế Phong (Nghệ An), là “thầy bùa” để hỏi về lĩnh vực này, anh nói: “Đó là nghề “làm ăn” của em đó!”. Anh ta là học viên “Sư phạm cấp tốc” của tôi, nên tôi hỏi thẳng:

- Sao vậy?

- Vừa rồi em “hàn gắn” được tình cảm cho một đôi vợ chồng” - Anh nói.

- Họ “cảm ơn” em lắm!

- Họ cảm ơn anh bằng gì? - Tôi hỏi tiếp.

 - Bằng tiền, váy mới, tấm vải tơ - Anh nói - Và còn làm lễ “buộc vía” (mổ lợn, buộc chỉ cổ tay, cảm ơn, chúc phúc) cho em nữa!

Đó, “thầy bùa” được trả công hẳn hoi và được hàm ơn suốt đời! Có lẽ vì thế mà ở đâu đó trong cộng đồng người Thái “nó” còn có lý do để tồn tại?

Bây giờ xin giới thiệu các bài “quam hặc - bùa yêu” cụ thể, theo 2 cách làm “trực tiếp” và “gián tiếp”.

  1. “Quam hặc - bùa yêu” của người Thái

2.1. Tiến hành trực tiếp

2.1.1. Giữa trai - gái

- Bài 1. Bùa áo

Khi mặc áo để đi “tán gái”, chàng trai đọc bài này “phù phép” vào áo, con gái nhìn thấy sẽ mê (!): “Ộm! (Tiếng mở đầu bí hiểm)/ Dậy đi vải, đi đi áo/ Tha thướt cho người nhìn ta mê/ Ta đẹp hơn, người khen/ Ta mặc áo vào, đẹp hơn triệu người/ So từ dưới Muổi, La, Quai, Thanh, kính nể ta hết/ Ộm!/ Cả khăn thêu sợi vải đẹp cùng/ Hướng nào nhìn đều mê ta/ Ai không thấy ta, muốn khóc/ Được thấy ta, mới mỉm cười/ Không thấy ta, chăn trùm đầu nằm khóc/ Ộm khớt! [Tiếng kết thúc]” (Nùng xửa/ Ộm! Lụk dỡ, may pay dỡ xửa/ Ướng ửa haử tàn lẽ nãng đu li/ Cu phủ li hơn tàn nhọng/ Cu dỏng khửn hơn tàn xen cỗn/ Xót té pựn Muổi, Là, Quãi, Thanh đu li cu haử mết/ Ộm!/ Tễnh pha khẳn pẽ lẹp xiêu lom/ Chù luỗng chù ín xương vĩnh điêu cu nị/ Phaư báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu lẹo chắng chaư hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Ộm khớt!).

- Bài 2. Cài hoa

Chàng trai cài hoa lên tóc (từ thuở đàn ông còn búi tóc?) để “trang sức”(!). Nín thở, đọc 3 lần “phù phép” vào hoa bài này: “Ộm!/ Thài lài lá/

Lố nhố hoa/ Bọc từ gốc đến ngọn/ Hai tay hái cài tóc/ Người Thái thấy, ao ước đ­ược kết duyên/ Bà nàng thấy, mong muốn lấy làm chồng/ Ộm khớt!”

(Quãm pắk bók/ Ộm!/ Pừ­ dụp ba­ư/ P­ừ daữ bók/ Pọk té cốc mữa pai/ Xong mữ bai xaứ­ cẩu/ Tãy hên phaứ dệt nẩu/ Náng hên phaứ dệt phua mình phua khuân/ Ộm khớt!). Bài này cô gái/đàn bà cũng có thể vận dụng để “đọc”, chỉ cần thay vài từ.

- Bài 3. Vuốt tóc

          Nín thở đọc bùa chú vào hai bàn tay 3 lần rồi vuốt tóc: “Ộm!/ Vuốt tóc mai để búi tó cài trâm/ Vuốt tóc mai thành bông hoa tư­ơi mịn đẹp mắt/

Gái muốn yêu bởi sợi tóc mai/ Vuốt tóc mai “gẫy” cả hai tay/ Nàng thấy nàng ­ước đ­ược sánh đôi/ Nàng thấy nàng ­ước lấy làm chồng/ Ộm khớt!” (Quãm lụp mít/ Ộm!/ Lụp mít khửn xíp pĩn đen ve/ Lụp mít khửn xíp che đanh vẽng/ Náng tãnh xủ pụa mít/ Hặc xong xỏi tãnh póm pụa mít/ Náng phaứ­ dệt nẩu/ Náng phaứ­ dệt mĩa/ Ộm khớt!). Bài này cô gái/đàn bà cũng có thể vận dụng.

- Bài 4. Đánh thức cô gái

Người con trai “nhắm” được một cô gái nào đó, ban đêm muốn đến “chơi” với cô, anh ta phải “thủ” bài “bùa yêu” để phòng khi cô gái “từ chối”, không muốn “tiếp chuyện” với anh ta. Đến dưới gầm sàn, bên trên là chỗ người con gái ngủ. Làm thế nào để đánh thức người con gái dậy, để cô xuống sàn, tiếp chuyện mình, đưa mình lên nhà hoặc thậm chí cùng với mình đi chơi? Anh “đọc thầm” bài “bùa” sau đây: “Ộm! (“Gà” thừa chuồng con nhỏ đuôi vàng/ Gáy với em người tình phải dậy/ Dậy đi em yêu, dậy đi/ Dậy cuộn chăn tựa vách/ Dậy ôm chăn lại khóc/ Lảm nhảm nghĩ đến ta/ Nhớ ta, mày nóng như lửa/ Nhớ ta, tim mày đu đưa như võng/ Ngủ không được tý nào, dậy nói chuyện với ta/ Không thấy ta, mày buồn khóc/ Thấy ta, mày mới cười/ Không thấy, mày trùm chăn khóc/ Chống đũa khóc đến khuya mong ta/ Ộm!” (Quãm púk xao/ Té chậu mặc tụng phạk vạy púk xao tứn, và hụ bãi quãm mằn nị xaứ xao hữ xao báu tứn báu dú đảy/ Ộm! Cáy tô nọi lưa lộc hang cẵm/ Khăn ha chụ cõ xai haử tứn/ Tứn dỡ lả tứn dỡ/ Tứn ủm phã inh pha/ Tứn ủm phã nằng hảy/ Báy pay é thơng hã nỡ/ É thơng chãi haử chaư họn pan phãy/ É thơng chãi haử chaư mững bay pan ú/ Dú báu đảy chùa chộp mững tứn mã cha/ Báu hên cu mững chaư hảy/ Đảy hên cu chaư hua/ Báu hên cu hốm phã pốk hua xia hảy dú/ Tạu thú hảy hặn cằm ha cu/ Ộm khớt!).

Bài 5. Sờ gấu áo

Người con gái ưng ý, sẽ phát “tín hiệu” cho chàng trai lên nhà, nơi mình đang thêu dệt; hoặc bí mật bắc thang cho chàng trai lên chỗ buồng riêng của mình. Người con trai lả lơi sờ gấu áo người con gái, nín thở đọc thầm 3 lần bài này: “Ộm! Véo gấu áo thành vết/ Cào gấu áo rối tung/ Rối như­ gai đan chài/ Mày không thấy ta muốn khóc/ Được thấy ta mới c­ười/ Không thấy ta chăn trùm đầu khóc thầm/ Đũa đặt nồi canh, quên bữa cơm trư­a/ Đũa gác nồi cơm quên bữa cơm chiều/ Ộm!” (Quãm dík hang xửa/ Ộm/ Đík hang xửa haử­ hõi/ Xoi hang xửa haử nhủng/ Nhủng x­ưỡng pán xan he/ Mững báu hên cu chaư­ hảy/ Đảy hên cu chắng chaư­ hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Thú tạu mỏ canh cằm lữm lãnh/ Thú tậu mỏ kháu cằm lữm ngãi/ Ộm khớt!).

- Bài 6. Véo tay

          + Đọc thầm lời phù chú sau đây vào đầu ngón tay. Xong, tìm cách tiếp cận đối tượng, cầm tay, bấm ngón tay đã phù phép vào tay người con gái. Người con gái có nói gì, hay chửi mắng thì cũng đừng nói gì: “Ộm, đầu ngón tay có “hoa”/ Có “vằn” ngón tay ta bấm/ Ta bấm tay đừng kêu/ Mày kêu, mày yêu ta/ Ộm dăm!” (Dít mữ/ Nịu mữ nọi chàng lãi/ Nịu mữ lãi. chàng dík/ Cu dík mững nhã chãng/ Mững chãng mững mặk cu/ Ộm dăm!)

          + “Vân tay nhỏ khéo kẻ/ Ngón tay nhỏ khéo véo/ Ta véo tay đừng kêu/ Nàng kêu nàng yêu ta/ Ộm thiêng!” (Quãm dík mữ/ Ổng mữ nọi chàng lãi/ Pai mứ nọi chàng dík/ Cu dík mữ nhã chãng/ Mững chãng mững mặc cu/ Ộm khớt!).

          - Bài 7. Vỗ vai

          Nín thở đọc thầm 3 lần và vỗ vai cô gái: “Ộm/ Bàn tay nhỏ khéo vỗ/ Bàn tay thiêng khéo đập/ Vỗ vai cho vai đỏ/ Vỗ nàng (chàng) để nàng (chàng) yêu/ Yêu ta như­ lúa yêu ruộng/ Yêu ta như­ cá yêu nư­ớc. Ộm!” (Quãm tốp láy/ Ộm/ Ong mữ nọi chàng tặp/ Ong mứ đăm chàng tốp

Tốp láy haử­ láy đanh/ Tốp pãnh haử pãnh mặc/ Mặc cu x­ưỡng khẩu tít nã/ Mặc cu x­ưỡng pa tít nặm/ Ộm khớt!).

- Bài 8. Mỡ trăn

Lấy mỡ trăn (chuẩn bị sẵn) bôi vào áo (bí mật) hay thân người con gái (khéo léo). Đọc thầm lời phù chú sau đây: “Ộm! Trăn ở rừng trăn vằn/ Vằn vện cả bụng/ Vằn từng đốt/ Nước ta ‘phun’ vào mày, cho mày yêu ta/ Mày yêu ta như nước yêu khúc gỗ/ Mày yêu ta như gỗ yêu lõi/ Yêu ta như vải vóc yêu thân/ Như áo mới quấn thân/ Yêu ta như trẻ yêu vú mẹ/ Cho mày yêu ta như tóc yêu vấn/ Ộm!/ Mồm tôi thiêng” (Xết ngũ lươm/ Ộm! Lươm dú pá lươm lãi/ Lãi tẵm nẳng tọng, lãi cán pỏng/ Nặm cu phú xaứ mững haử mững mặk cu/ Mững mặk cu pan phẳm mặk khon/ Mững mặk cu pan khon mặk kén/ Mững mặk cu pan pẽ phưn li mặk nựa/ Mững mặk cu pan xửa phưn maứ mặk pẵn/ Haử mững mặk cu pan đắng đếk nọi mặk nặm nỗm/ Haử mững mặk cu pan phôm dú hua mặk khót/ Ộm/ Xốp cu dăm!).

- Bài 9. Bùa lá

Đọc lời phù chú vào lá cây thuốc (ngải?). Lá này rất thơm, vò rồi “bôi” vào người con gái: “Ộm! Ngọn rau “cút” ruộng/ Ngọn rau “xi xa” vào hang năm ngoái/ Gái 20 mê ta tíu tít/ Tíu tít ta ôm cổ ngủ cùng/ Gái ôm ta hôn má ta này/ Gái mỉm cười không thôi/ Ộm!” (Xết nguột/ Nguột phắk cút nã/ Nguột phắk xi xi khẩu thẳm pi cai/ Xao xão pai mặk cu cờ xụak/ Xao cút của cu cót cõ nõn/ Xao mữ xọn chúp kẻm cu nị nỡ/ Xao hua xú cu nhỏm nhẻm/ Ộm! Xô tít).

- Bài 10. Bùa hoa

Đọc lời phù chú vào hoa (bí mật). Vò bông hoa cho mùi dính vào tay. Rồi bôi “hương hoa” ấy vào đối tượng: “Ộm! Chùm cây nhỏ hoa vàng/ Hai ta yêu nhau thắm thiết/ Vào bản chạy đi tìm/ Đi ruộng chạy đi theo/ Ở nhà không yên ra ra vào vào/ Lòng không yên bởi dính nhựa hoa/ Không thấy ta muốn khóc/ Thấy ta mới mỉm cười/ Không thấy ta trùm chăn khóc/ Chống đũa xuống mâm không ăn/ Thà chết cùng với ta/ Mồm ta thiêng lấy vàng đến yểm/ Răng tôi thiêng, bọc thỏi vàng/ Ộm khớt!” (Tít tăng/ Mằn xaứ tăng vạy tã xaứ xao haử xao mặc chảu/ Ộm! Tổn mạy nọi bók lương/ Xong xương căn pãnh pản/ Khẩu bản lèn mã ha/ Pay mã lèm mã xú/ Dú hưỡn mắn khẩu quản ók chãn/ Chaư báu mẳn mã cạt tăng tã/ Báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu chaư hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Tạu thú hảy hặn cằm báu kin/ Xinh tai nẳng chãi điêu cu nị/ Xốp cu dăm âu cẵm mã chảng/ Khẻo cu mạng, cu xắp tành cẵm/ Ộm khớt).

- Bài 11. Ăn trâu

+ Tiếp chuyện chàng trai, người con gái bưng lại cơi trầu. Với lá trầu, người con trai biến nó thành “bùa” để “bỏ’ cho người con gái, bằng cách nín thở, đọc thầm 3 lần, rồi “mời lại” người con gái ăn trầu: “Ộm!/ Hai gốc trầu chung rễ của ta/ Hai chùm cau chung buồng của ta/ Đã yêu ta yêu cả mùi hương thơm quyễn rũ/ Đư­ợc ăn trầu cho yêu ta mãi mãi/ Đư­ợc ăn cau cho nhớ ta trọn đời/ Yêu ta như­ vàng đỏ/ Quý ta như­ hòn ngọc/ Không thấy ta muốn khóc/ Đ­ược thấy ta mới c­ười/ Không thấy ta chăn trùm đầu nằm khóc/ Không đư­ợc ta, hai đêm mày đến/ Ở gần, đốt đuốc đến tìm/ Ở xa, chống gậy đến thăm/ Tận góc trời, phải liều đến/ Ộm thiêng!” (Quãm páu­ pũ haử xáu­ mặc/ Ộm!/ Xong cốk pũ huồm hạk van ví/ Xong pụa mák huồm vi van ví/ Van vi ví h­ường nãng/ Đảy kin cẵm pũ haử­ x­ương cu kĩ cọ/ Đảy kin cẵm mák haử­ x­ương cu kĩ cọi/ Haử­ hặc cu x­ưỡng cẵm đanh/ Pãnh cu x­ưỡng tón kẻo/ Báu hên cu chaư­ hảy/ Đảy hên cu chắng chaư hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Báu đảy xong cằm mững mã/ Dú đắc tảy phãy mã/ Dú cay tạu hók mã/ Dú khók phạ haử­ dống lăn mã/ Ộm khớt!”. Bài này cô gái/đàn bà cũng có thể vận dụng.

+ Bổ cau

Người con gái đem hoa quả ra mời chàng trai. Chàng trai lại “bỏ bùa” lại cô gái, bằng cách đọc thầm bài này 3 lần, rồi tự tay bổ cau: “Ộm!/ Dao nhỏ dao cán chắc/ Dao sắc đem bóc quả/ Ngắt lá trầu về nhai/ Phun vào voi, voi chết/ Phun vào ngư­ời, ngư­ời yêu/ Không thấy ta muốn khóc/ Đ­ược thấy ta mới c­ười/ Không thấy ta chăn trùm đầu khóc thầm/ Đũa đặt nồi canh quên bữa cơm trư­a/ Đũa gác nồi canh quên bữa cơm chiều/ Ộm chặn!” (Quãm pók mák/ Ộm!/ Mịt nọi mịt đẳm đăm/ Đẳm đăm khảu pók mák/ Đết baư­ li baư­ pũ mã màm/ Màm xaứ chạng cọ hôn/ Màm xaứ cỗn cọ hảy/ Mững báu hên cu cha­ư hảy/ Đảy hên cu chaư­ hua/ Báu hên cu nõn hốm phã pốk hua hảy dú/ Thú tạu mỏ canh cằm lữm lãnh/ Thú tạu mỏ canh cằm lữm ngãi/ Ộm khớt!). Bài này cô gái/đàn bà cũng có thể vận dụng.

+ Nhai cau (ăn trầu)

Khi ăn, chàng trai lại dùng cau để “bỏ bùa” lại cô gái, nín thở đọc 3 lần bài này, và đưa miếng cho cô gái ăn: “Ộm!/ Quả bảy khóm của ta/ Ộm!/ Quả núm tròn núm vuông của ta/ Ai ăn quả bảy khóm của ta, thành ngư­ời yêu của ta/ Ai ăn quả núm tròn núm nhọn của ta, thành vợ của ta/ Không thấy ta, áo trùm đầu ra bến/ Không thấy ta, áo vắt vai “đi chết”/ Thấy ta mới vui c­ười dùng bữa/ Ộm khớt!” (Quãm kin mák/ Ộm!/ Mák chết tổn van vĩ/ Ộm!/ Mák  cổn cạn cổn mốn van ví/ Phaư­ kin mák chết tổn van ví haử­ pãn chụ van ví/ Phaư­ kin mák cổn cạn cổn mốn van ví haử­ pãn phua van ví/ Báu hên van vĩ xửa pốc hua pay tà/ Báu hên van vĩ xửa pạt bá pay tai/ Hên van vĩ chắng muồn xú cỗn tễng lai kin khẩu/ Ộm khớt!).

V.v.

Bấy nhiêu “bùa yêu” trên nếu “hiệu nghiệm” thì chàng trai và cô gái trở thành vợ chồng. Nhưng muốn giữ được tình cảm gia đình “bền vững” thì người vợ/phụ nữ vẫn phải “dùng” đến “quam hặc - bùa yêu” đối với chồng/đàn ông (!).

2.1.2. Giữa vợ chồng

          - Bài 1. Luyện mồm

Hàng ngày phải “luyện mồm” (như thầy mo) cho “bùa yêu” hiệu nghiệm, bằng cách nhẩm đọc 3 lần bài này: “Ộm! Pha xát, pha xát/ Ta sẽ thổi vào voi cho nó chạy ầm ầm/ Ta sẽ thổi vào người, không bỏ ta được/ Thổi vào cây trong rừng chết lụi/ Thổi vào người chồng đẹp, mê ta như gà ấp/ Thương ta như gà đỏ/ Thương ta như gà nhỏ/ Không thấy ta thì khóc/ Nhìn thấy ta mỉm cười/ Không thấy ta thì trùm chăn khóc/ Ộm!/ Mồm ta thiêng!” (Quãm mằn pha xát/ Bãi nị dệt haử xao mặc chảu/ Ộm!/ Pha xát ộm pha xát/ Cu chí xết xaứ chạng haử mẵn lèn xôn xôn/ Cu chí xết xaứ cỗn nhã vãng cu đẩy/ Cu mằn xaứ mạy nẳng pá tai khuy/ Cu chí xết xaứ phua phủ li haử mặc xú cu xưỡng cáy phặk/ Mặk cu xưỡng cáy đanh/ Pãnh cu xưỡng cáy ón/ Mững báu hên cu chaư hảy/ Mững đảy hên cu chắng chaư hua/ Mững báu hên cu phã pốk hua xia hảy dú/ Ộm!/ Xốp cu dăm).

- Bài 2. Ăn uống

          + Giã chẻo

          “Chẻo” là món ăn bình dân, thường ngày của người Thái. Nó được làm từ muối, sả, ớt, nghệ, riềng, nhân quả Mạc Nhau (béo như lạc), Mạc Khén (tiêu rừng), cá nướng, v.v. giã nhỏ. Người ta chấm xôi với chẻo, ăn ghém với rau rừng (rau sống, rau luộc, rau đồ chín). Người ta mà ăn chẻo vào bụng cùng với “bùa yêu” thì “hiệu quả” sẽ tăng lên rất nhiều (!). Người vợ giã chẻo cho chồng ăn, vừa nín thở vừa đọc 3 lần bài “bùa” sau: “Ộm!/ Nghệ thơm mát tấm lòng/ Nghệ tốt, “khoái” con tim/ Nghệ đẹp tình, hết nói/ Củ nghệ biết hẹn lòng/ Chớ nghiêng ngả xa ta/ Nghiêng về ta phần nhiều/ Không thấy ta, muốn khóc/ Đ­ược thấy ta, mới cư­ời/ Không thấy ta, chăn trùm đầu nằm khóc/ Ộm khớt!” (Quãm tăm cheó/ Ộm!/ Hên hom khửn chom chaư­/ Khửn chom chã­ lục li/ Lục li chụ nhã và/ Tổn hản mẳn xaứ­ chaư­/ Mững nhã n­ưng xia cu xắc nỏi/ Chọi xaứ­ cu vẽn lai/ Báu hên cu cha­ư hảy/ Đảy hên cu chaư­ hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Ộm khớt!).

          + Gói xôi

          Chồng đi rẫy, đi rừng, đi đường, v.v. là dịp để người vợ gói cơm cho chồng cùng với “bùa yêu”. Tay cầm lá dong lật đi lật lại 3 lần, người vợ nín thở, nhẩm đọc lời “bùa” 3 lần vào lá dong 3 lần, rồi mới gói xôi: “Ộm!/ Ngắt lá trở “ngư­ợc lá” gói xôi/ Ngắt lá “ng­ược” mở gói dùng bữa trư­a/ Côn trùng sà xuống đậu vo ve/ Mày không thấy ta, mày muốn khóc/ Đư­ợc thấy ta, mày mới cư­ời/ Không thấy ta, chăn trùm đầu nằm khóc/ Chống đũa khóc thê thảm như­ bố mày chết/ Chống đũa khóc thê thảm như­ mẹ mày chết/ Ộm thiêng!” (Quãm hó khảu/ Ộm!/ Đết tong pên luỗng pẻ/ Đết tong pẻ mã khay kin vễn/ Mãnh vễn pom pàu ắn ắn/ Mững báu hên cu mững chaư­ hảy/

Mững đảy cu mững chaư­ hua/ Mững báu hên cu mững hốm phã hảy dú/ Tạu thú hảy cõi cọi đáng pò mứng tai/ Tậu thú hảy cọi cọi pan đáng mè mững tai/ Ộm khớt!).

          + Xôi nướng

          Xôi vắt thành từng cục bằng nắm tay, rồi cắm đũa (hoặc que tre nứa), hơ trên bếp than hồng. Xôi sẽ cháy thơm, ăn rất ngon. Cách làm của trẻ con này được người vợ dùng để làm “bùa yêu” đối với chồng. Nín thở, đọc 3 lần bài này và bẻ xôi cho chồng ăn: “Ộm!/ Thơm ngon, thơm lừng!/ Ộm!/ Nắm xôi nư­ớng của ta/ Mày đ­ược ăn xôi nư­ớng của ta, phải yêu ta/ Yêu ta như­ xôi nư­ớng/ Yêu ta nh­ư lúa dính ruộng/ Yêu ta như­ cá yêu nư­ớc/ Buộc vào khớp gối/ Níu lấy con tim/ Ộm khớt!” (Quãm kin khẩu chí/ Ộm!/ Tí năng tí nãng/ Ộm!/ Pẳn khẩu chí i khĩ/ Mững kin khảu hua chaư haử­ mặc/ Mặc cu x­ưỡng khảu i khĩ/ Mặc cu x­ưỡng khảu tít nã/ Mặc cu x­ưỡng pa dú nặm/ Xin cò nòng/ Chóng hua chaư­/ Ộm khớt!).

          + Hoa quả

Đọc lời “bùa yêu” vào hoa quả 3 lần, rồi đưa cho chồng ăn: “Ộm!/ Người bảo lời voi, ta bảo duyên người/ Ta “phù” vào voi, voi lùi/ “Phù” vào người chồng ta, phát khóc/ “Phù” vào cây gỗ chết khô/ “Thụ” vào chồng tốt bụng, đến trông/ Mười người [vợ?] cho ta làm chủ/ Chín người [vợ?] cho ta mến, yêu ta đến già/ Trông ta cho đến khi chết/ Quý ta như vàng đỏ/ Quý ta như miếng ăn/ Ta nói răng mềm dẻo nể phục ta/ Ộm khớt!” (Xết ắn ky/ Ộm! Tàn và xết chạng cu và xết cỗn/ Cu mằn xaứ chạng cọ hôn/ Cu mằn xaứ cỗn pãnh cu cọ hảy/ Cu mằn xaứ mạy lẵm nhaứ tai khuy/ Mằn xaứ phua chaư li lính mã phảu/ Xíp cỗn haử cu pên chẩu/ Cảu cỗn haử cu cứ hặk cu hặn thẩu/ Phảu cu hặn tai/ Hặk cu xưỡng cẵm đanh/ Pãnh cu xưỡng cẵm mạk/ Cu pák khẻo mững ón chaư lồng/ Ộm khớt!).

+ Uống nước

Bài này làm trong trường hợp rót nước mời chồng uống (đọc vào chén nước 3 lần rồi đưa cho chồng): “Ộm! Người bảo chén nước, ta bảo chén chè/ Mày uống vào muốn xem ta cả ngày/ Không thấy ta buồn khóc/ Nhìn thấy ta mỉm cười/ Không thấy ta chùm chăn khóc/ Cầm đũa ngồi đến tối không ăn/ Ộm khớt!” (Mằn xaứ chén nặm/ Ộm! Tàn và chén nặm cu và chén chẽ/ Mững kin haử mững lằm mững lẽ cu chù mự/ Mững báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu chaư hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Tạu thú hảy hặn cằm báu kin/ Ộm khớt!).

- Bài 3. Gội đầu, chải tóc

          + Người vợ chăm gội đầu bằng nước vo gạo để cho mái tóc mượt, búi tóc đẹp. Mỗi lần ra bến gội đầu thì lấy ba ngọn cây có gai “quét” (đuổi tà) từ trên đầu xuống, rồi ném cho trôi đi theo dòng nước. Rồi đọc thầm bài “bùa yêu” này 3 lần: “Ộm!/ Ống nước gạo ba bến cho ta/ Nước ngâm gạo ba nhà ta về/ Ta đến bến sáng sủa ba nơi/ Ta vào rừng sáng dõi ba đồi/ Ta vào nhà sáng ngời ba gian/ Con trai bảy vùng xem kính nể/ Con gái bảy nơi sinh ưa thích/ Người cả vùng nhìn ta hơn cả” (Ộm!/ Bẳng nặm mụak xam tà cu mã/ Bẳng nặm má xam hưỡn hã mã/ Cu tốk nặm haử hùng xam tà/ Cu khẩu pá haử hùng xam đon/ Cu mã hưỡn haử hùng xam đúk xam xuổm/ Lụk báo nẳng chết chuỗng đu li/ Lụk xao nẳng chết xuổm đu li/ Cỗn tễnh mưỡng nhẵng tô li tò cu nị/ Ộm khớt!).

+ “Ộm!/ Lược sừng bò chải tóc sang trái/ Lược sừng trâu chải mượt/ Tóc bùi nhùi trên đầu rơi xuống/ Chải đầu cho mặt sáng hơn sao/ Cho hồng hào mặt sáng hơn mây/ Ra ngoài bản mặt sáng như ngọn đuốc/ Ai nhìn cũng muốn yêu/ Chàng muốn lấy làm vợ/ Người nhìn muốn âu yếm ‘chết’ theo/ Chết đứng nhìn theo chân/ Ta thơm như ngọn trầu/ Chết ngất mê mệt vì mình ta đây/ Ộm thiêng!” (Vi khau ngũa phái sại/ Vi khau quãi phái cốk/ Phôm nhủng nẳng hua chốk xia/ Chốk xia haử nả cu hùng pan đao/ Chốk xia haử nả cu hùng khao pan mók/ Cu ók nọk bản haử hùng pan đín tuỗn luông/

Tàn hên chaư phaứ nẩu/ Mẻ nang phaứ dệt mĩa/ Tàn hên ta niếng nia, niếng nĩa tai nẳng/ Lột xỗng tẳng tai lom/ Ai hom cu pan nhọt nát/ Chaư khát nẳng cỗn điêu cu nị/ Ộm dăm!).

          + “Ộm!/ Lư­ợc sừng bò chải đầu/ Lư­ợc sừng trâu chải tóc/ Ta chải tóc rối ở trên đầu/ Chải tóc mượt, mặt nàng sáng như­ sao/ Chải đầu m­ượt, mặt nàng trắng như­ mây/ Ra ngoài bản, sáng rực như­ ngọn đuốc/ Ngư­ời thấy, ngư­ời ư­ớc muốn sánh đôi/ Tạo thấy, tạo ­ước lấy làm vợ/ Ai thấy nàng lịm ngư­ời “chết” theo/ Tấm thân nàng thơm như h­ương nhu/ Thấy nàng đây, “chết” đứng vì nàng/ Ộm khớt!” (Quãm vi hua/ Ộm/ Vi khau ngũa pãi pai/ Vi khu quãi pãi cốk/ Phôm nhủng nẳng hua chốc xia/ Phôm mũa nả đén chốc xia/ Chốc xia haử­ nả nãng hùng pan đao/ Chốc xia haử nả nãng khao pan mók/ Ók nọk bản pan đín tuỗn luông/ Tàn hên tàn phaứ­ dệt nẩu/ Chẩu tạo phaứ­ dệt mĩa/ Phua pha­ư hên niếng nĩa tai nẳng/ Ai hom nãng pan nhọt nát/ Chaư­ khát nẳng nãng điêu cu nị/ Ộm khớt!).

 + “Ộm!/ Chiếc l­ược thiêng chải tóc/ Chiếc lư­ợc nhỏ chải đầu/ L­ược nhúng nư­ớc trong chậu/ Tóc mai uốn b­ướm đậu/ Thơm ngát mùi hoa rừng/ Thái thấy ư­ớc se duyên/ Chàng thấy ­ước lấy về làm vợ/ Ộm khớt!” (Quãm vi hua/ Ộm!/ Vi hua vi xăn cẩu/ Vi nọi vi xăn tõng/ Vi hua nặm chụp áng/ Phôm xõi cảng mãnh tom/ Xõi phôm hom bók mạy/ Tãy hên phaứ dệt nẩu/ Chầu hên phaứ dệt mĩa/ Ộm khớt!).

          - Bài 4. Mặc áo

Mỗi lần mặc áo, người vợ cũng đọc bài “bùa yêu” vào áo 3 lần, để chồng “yêu” hơn (!): “Ộm!/ Chiếc áo xinh/ Nẹp áo hồng/ Gái trong nhà mở cửa nhòm ngó/ Giống như­ con bìm bịp xuống đồng/ Giống như­ con gà lôi xuống ruộng/ Gái đầy mư­ờng chỉ ngắm mình ta/ Ộm khớt!” (Quãm tháy xửa/ Ộm!/ Phư­n xửa xỉu/ Tó hua đanh ón/ Xao on khõn khay tu mã nhiểm/

Chắng mã khữ nộc cốt lỗng nã cợn lễ/ Chắng mã khữ nộc khoa lỗng tồng cợn lễ/ Xao têm tồng lẽ pì cỗn điêu/ Ộm khớt!).

- Bài 5. Ngồi ghế

Vợ chồng có sự biến động về mặt tình cảm, trở nên nhạt nhẽo, không gắn bó như ban đầu, thì người vợ phải làm cho “thắm” lại, bằng cách đọc bài này 3 lần, mỗi khi ‘mời’ chồng ngồi ghế: “Ộm! Cái ghế nhỏ chân trạm mây vàng/ Lấy đặt cho nàng mường ngồi/ Ngồi ghế tôi yêu tít thò lò/ Ngồi ghế tôi quay vòng, quay/ Này không thấy tôi muốn khóc/ Nhìn thấy tôi mỉm cười/ Không thấy tôi ngồi buồn khóc/ Ộm khớt!” (Pông tắng/ Ộm! Khẳng tắng nọi tin khuối vai lương/ Âu mã pông haử nãng mưỡng nằng/ Nằng tắng cu haử mẵn pín xôn xôn/ Nằng tắng cu haử mẵn mỗn kĩ quạng/ Mững báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu lẹo chắng chaư hua/ Báu hên cu xửa pốk hua hảy dú/ Ộm khớt!).

- Bài 6. Soạn ngủ

+ Trải đệm

Bài “trải đệm” cũng làm trong trường hợp/và có tác dụng như bài “ngồi ghế”: “Ộm! Ta sẽ trải đệm cho chồng ta ngủ/ Sửa gối sửa chăn cho chồng ta đắp/ Cho chồng thương ta như gà ấp/ Cho chồng yêu ta như gà vàng/ Yêu thương ta như gà nở/ Ộm khớt!” (Pu phả lốp/ Ộm! Cu chí pu phả lốp haử phua cu nõn/ Panh mon panh phã haử phua cu hốm/ Haử xú cu xưỡng cáy phặk/ Haử hặk cu xưỡng cáy đanh/ Haử pãnh cu xưỡng cáy ón/ Ộm khớt!)

+ Soạn gối

Bài này cũng làm trong trường hợp/và có tác dụng như bài “ngồi ghế”: “Ộm! Ta sẽ vỗ mặt gối hoa văn/ Ta sẽ vỗ gối bông hay dùng

Vỗ gối cho chồng yêu ta ngủ/ Sửa gối cho chồng quý ta ôm/ Ôm gối ta cho mày mỉm cười/ Thành chồng quý ta suốt đời/ Ộm khớt!” (Tốp mon/ Ộm! Cu chí tốp nả mon khép ăm ba/ Cu chí tốp mon cã lỡng xủ/ Tốp mon haử phua hặk cu nõn/ Panh mon haử phua pãnh cu cái/ Đảy cái mon cu nị chaư nhủm nhưới hua/ Haử pên phua cu xút đỡi nhã bứa/ Ộm khớt).

          + Mắc màn

Bài này cũng làm trong trường hợp/và có tác dụng như bài “soạn gối ngủ”: “Ộm! Ta sẽ cầm bốn góc màn thành đuôi cá/ Ta sẽ tung bốn góc màn đẹp như lá vả/ Mắc cho chồng ôm ta ngủ suốt đời/ Chồng ôm ta như khỉ ôm cây/ Chồng ôm ta như khỉ ôm gỗ/ Được ôm rồi suốt đời không bỏ/ Ộm!” (Cang dắn/ Ộm! Cu chí chặk xí che dắn haử mẵn kềnh hang pa/ Cu chặk xí che dắn haử ba tong tạu/ Cang xú nẩu cu cót nõn pẵn/ Phua cót cu xưỡng lĩnh cót to/ Phua cót cõ cu xưỡng lĩnh cót mạy/ Cót đảy lẹo nhã háng vãng cu/ Ộm Khớt).

+ Trải chăn

Bài này làm khi trải chăn chuẩn bị cho chồng ngủ. Nín thở đọc lời “bùa yêu” vào lá xanh có nhựa (ngải?) ba lần rồi dắt cạnh đệm, chỗ vợ chồng ngủ: “Ộm!/ Nơi gấp chăn chiên/ Nơi trải chăn bông/ Đừng làm bẩn/ Nơi tạo (chàng) nằm/ Bẻ một nhánh thành hai nhánh (?)/ Một nhánh thành ba nhánh/ Thành một nhánh thắt chặt (vợ chồng)/ Thành một thân khăng khít/ Mày (vía chồng) muốn xoay đừng xoay/ Mày định xoay thuốc thiêng ta quyệt/ Mày trở mình thuốc yêu ta dính/  Ộm khớt!” (Quãm pu phả/ Ộm!/ Ti chíp chiên/ Nhã phặc phon/ Ti nõn tạo/ Hặc kĩnh n­ừng pên xong kĩnh/ Kĩnh nừ­ng pên xam kĩnh/ Kĩnh nừ­ng pên niếng niêu/ Pên lĩnh điêu nặc nằn/ Mững chí phựn nhã phựn/ Mững chí phựn da dăm cu tã/ Mững chí phạk da dăm cu xaứ/ Ộm khớt!).

+ Đắp chăn

Bài này làm (nín thở đọc 3 lần) khi đắp chăn cùng chồng ngủ: “Ộm!/ Dây chuyền tốt của nàng/ Xà tích thiêng của nàng/ Xà tích đẹp quý hoá của nàng/ Nàng sẽ kéo chăn tốt đắp cho chồng yêu/ Kéo chăn mình đắp cùng chồng quý/ Hai thân hoá thành một/ Chồng yêu chớ trở mình/ Định trở mình n­ước thiêng ta quệt/ Định đổi lòng nhựa yêu ta dính/ Mồm ta thiêng, lời ta kỵ/ Ộm khớt!” (Quãm hốm phả/ Ộm!/ Nả xai xít nãng/ Nả xai xỏi nãng/ Nả xai xỏi xai li/ Nãng chí chặc phã li hốm nẩu/ Nãng chí chặc phã chầu mã hốm phua/ Xong tô pên tô nừ­ng/ Mững chí phựn nhã phựn/ Mững chí phựn da dăm cu tã/ Mững chí phạk da dăm cu xaứ/­ Xốp cu dảm, quãm cu khớt!).

+  Ôm chồng  

* Bài này làm trong trường hợp vợ chồng chăn gối: “Ộm!/ Tay “ngắn” như tay vượn/ Tay “dài” như tay cóc/ Ta ôm chồng mình, chồng yêu/ Ta ôm cho chồng ta quý/ Ôm chồng như quấn lá/ Hai người như một thân/ Ộm, yểm!” (Cót phua/ Mằn quãm nị vạy haử phua mặc chảu lai/ Khen tển khen chặn nĩ/ Khen hĩ khen í tú/ Cu chí niếu phua mình mã pẵn/ Cu chí mằn phua khuôn mã cót/ Ót lót xưỡng hẵm tong/ Xong tô pên tô nưng/ Ộm dăm!).

* “Ộm!/ Tay ngắn như­ tay vư­ợn/ Tay dài như­ chẫu chuộc/ Ta kéo chồng yêu về ôm/ Ta kéo chồng mình về ấp/ Khít chặt như­ cuộn lá/ Hai thân hoá thành một/ Ộm khớt!” (Quãm cót phua/ Ộm!/ Khen tển khen chặn nĩ/

Khen hĩ khen cháng chả/ Cu chí niếu phua minh mã pẵn/ Cu chí niếu phua khuân mã cót/ Ót lót d­ường hẫm tong/ Xong tô pên tô nừ­ng. Ộm khớt!

+ Gãi l­ưng

Bài này làm trong trường hợp vợ chồng chăn gối; nín thở đọc “bùa yêu” vào ngón tay rồi gãi lưng cho chồng: “Ộm!/ Ngón tay nhỏ ta khéo gãi/ Bàn tay nhỏ ta khéo xoa/ Gãi lư­ng cho chồng yêu ta ngủ/ Xoa l­ưng để cho chồng ta th­ương/ Nhường ta như­ voi nhường rìu/ Nhường ta nh­ư cổ nhường kiếm/ Cỏ voi dính chân trâu/ Lời mày (đối tượng cạnh tranh) nhiều không thể thắng lời ta/ Mày ở như­ khúc gỗ khô/ Mày nằm như­ khúc gỗ mục/ Mồm nhỏ mày đừng nói/ Trái tim mày đừng nghĩ/ Mồm ta thiêng như­ nhựa độc/ Răng ta mạnh hơn ngư­ời/ Ộm khớt!” (Quãm chốc xa lăng/ Ộm!/ Pai mữ nọi cu chàng lãi/ Pai mữ nọi cu chàng khến/ Khến xa lăng haử phua cu nõn/ Thon xa lăng haử­ phua cu ón/ Ón cu x­ưỡng chạng ón kho/ Ón cu x­ưỡng cõ ón đáp/ Nhả chạng chắp tin quãi/ Quãm mững lai báu cai quãm cu đảy/

Mững dú d­ường khon/ Mững nõn d­ường cộn, d­ường cồ/ Xốp nọi mững nhã n­ưng/ Chaư­ cõ mững nhã áo/ Xốp cu dăm pan nỏng/ Khiểu cu chọng hơn

p­ườn tễng lai/ Ộm khớt!).

- Bài 7. Dẹp chồng

Người chồng hay rượu chè, trai gái, bạo lực với vợ con. Bài này dùng để “dẹp” chồng. Đọc phù chú ba lần vào áo hay thức ăn, hoa quả, đồ uống, làm 3 tối liền. Chồng khắc kính nể vợ, sợ vợ, cúi đầu nghe lời vợ (!). Cũng có thể làm vào lúc tảng sáng và chiều tối. Bài như sau.

+ “Ộm!/ Bốn miệng suối uốn quanh/ Lời ta mạnh hơn đá tảng/ Mặt phẳng như lá dong/ Lòng đang tìm chồng hồn chớ héo/ Thích chửi, ra chửi lợn/ Muốn buộc, đi buộc cửi/ Chửi anh em thay ta/ Lời mày (vía chồng) không bằng lời ta hơn cả/ Mồm ta yểm như thuốc/ Mắc lưỡi mày phải im/ Ộm, rất thiêng” (Ộm, xí pák nặm hẵm/ Quãm cu dăm pan lạn/ Nả đản pan tong chinh/ Xĩnh xĩnh nẩu phua khuôn nhã đá/ Chaư đá pay cá mu/ Chaư phúk pay phúk ký/ Đá nọng đá pì tang cu/ Quãm mững lai báu cai quãm cu đảy/ Xốp cu dăm pan nỏng/ Khỏng lịn cáy nhã nưng/ Ộm, dăm!).

+ “Ộm!/ Ve yêu ơi, ve nhỏ li ti chân héo/ Ta muốn “yểm” tình cho chồng yêu/ “Yểm” tình cho chồng quý/ Cho chồng yêu nàng (ta) như ngọc/ Yêu nàng như ngọc sáng/ Nói chưa xong mày (vía chồng) vòng đến ta/ Mày phục ta như voi sợ móc sắt/ Mày sợ ta như cổ hãi kiếm/ Mày nể ta như voi kia sợ nạt/ Ộm, mồm thiêng!” (Ộm!/ Mãnh mặk ỡi mãnh nọi ít oi tin héo/ Cu chí xai xết haử phua pãnh/ Xai xanh haử phua mặk/ Haử phua hặc nãng xưỡng tón xanh/ Pãnh nãng xưỡng tón kẻo/ Pák báu lẹo mững éo ha cu/ Ón cu xưỡng chạng ón kho/ Ón cu xưỡng cõ ón đáp/ Ón cu xưỡng chạng bả hạt ón quãm/ Ộm dăm!).

+ “Ta bảo lá gấp vuông/ Ta bảo lá hóa mềm/ Người đi gặp, người qua/ Ta đi qua, tao nhặt/ Ta nhặt cho mày uống/ Mày ăn, quấn vào gan/ Quấn vào tim của mày/ (Mày) Nể ta như voi sợ móc/ Nể ta như cỏ sợ chân trâu/ Lời mày thua lời ta cao cả/ Lời tao liền như thuốc/ Móc họng cổ mày thua/ “Ộm, xi nhạ” (lời bí hiểm)/ Mồm ta thiêng!” (Tàn và baư cốp mỗn/ Cu và baư cỗn ón/ Tàn pay chậu tàn cai/ Cu pay xai cu đảy/ Cu đảy cu au mã haử mững kin/ Kin khảu tắp mững mữa/ Kin khảu chaư mững mữa/ Xót xẻo khảu mák hua chaư mững mữa/ Ón cu xưỡng chạng ón kho/ Ón cu xưỡng nhả khoák ón tin quãi/ Quãm mững lai báu cai quãm cu đảy/ Xốp cu dăm pan nỏng/ Khỏng lịn cáy nhã nưng/ Ộm! Xi nhạk/ Pák cu dăm)

V.v.

Tất cả những “bài” trên người chồng/đàn ông cũng có thể làm đối với vợ/phụ nữ, chỉ cần thay đổi “vai”, để đạt được ý muốn của mình (!).

“Quam hặc - bùa yêu” không chỉ được tiến hành “trực tiếp” với đối tượng, mà còn được tiến hành “gián tiếp”, không cần tiếp xúc với đối tượng. Nó được thực hiện “vắng mặt”, bí mật tuyệt đối, đối tượng không hề biết được. Như trên đã nói, đây là “siêu biện pháp”, cần phải “cao tay” mới làm được. Dưới đây là một số “bài” gián tiếp.

2.2. Tiến hành gián tiếp

          - Bài 1. Thổi ống tre

+ Bài này nín thở, “đọc - thổi” vào ống tre 3 lần, gửi đến “đối tượng”: “Ộm!/ Gốc tre nhỏ lá mư­ợt/ Gọt ống tre, hai mắt ngư­ời yêu khóc/ Ống tre rơi giữa n­ương không héo/ Ống tre ‘kêu’ giống hệt tiếng mèo/ Như­ cá sấy gác bếp cả năm/ Ống tre ngáng gối, níu con tim/ Mồm ta thiêng, lời ta kị/ Ộm khớt!” (Quãm páu boỏng/ Ộm!/ Tổn mạy nọi baư­ xay lay/ Xểm mạy lày xong xin chụ đảy/ Cõ p­ừa lày xin tốc nả hày báu bai/ Cõ pừ­a lày xin chong x­ưỡng mẽo phom nả hạt/ Cõ p­ừa cờ pa dảng nẳng xá tễng pi/ Cõ p­ừa lày xin khin co nòng, chóng hua chaư­/ Pák cu dảm, quãm cu khớt/ Ộm khớt!”.

+ “Ộm! Ta về thổi ống tre mư­ờng ngư­ời vi vu/ Động trái tim ng­ười yêu ngây ngất/ Động buồng gan nàng nhỏ gió quạt/ Động bò cái gió thổi gió quạt/ Động trâu cái gió xoáy gió quạt/ Đánh thức ng­ười yêu dấu ta dậy/ Dậy dọn chăn gấp đệm/ Dậy ngồi đệm tựa gối/ Quấn cả chăn khóc theo/ Không thấy ta muốn khóc/ Đ­ược thấy ta mới cư­ời/ Không thấy ta chăn trùm đầu nằm khóc/ Không đ­ược hai đêm mày đến/ Không đ­ược ba đêm mày đến/ Ộm khớt!” (Quãm páu lót/ Ộm! Cu chí mã páu lót nọi m­ưỡng tàn bong bong

Tỏng hua chaư hua cõ vót vót/ Tỏng tắp pót nãng nĩ lỗm pặt/ Tỏng mè ngũa lộm tào lộm pặt/ Tỏng mè quãi lỗng b­ươn lỗm mữa/ Púk chụ xai hặc xai pãnh cu tứn/ Tứn cộp phã tễng xứa/ Tứn nằng phã têng xứa inh pha/ Pã tễng phả xeo hảy/ Báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu chắng chaư hua/ Báu hên cu phã pốk hua hảy dú/ Báu đảy xong cằm mững mã/ Báu đảy xam cằm mững mã/ Ộm khớt!)

- Bài 2. Hoa nghệ, củ nghệ (ngải)

          + Nghệ yêu

Lấy hoa nghệ, đọc “bùa yêu” vào 3 lần, cài lên búi tóc mình, “đối tượng” nhìn thấy sẽ có hiệu quả (!): “Ộm!/ Ta bảo bùa nghệ yêu/ Mày (đối tượng) bảo bùa nghệ yêu/ Mày yêu ta như­ nghệ cây vàng/ Mày quý ta như­ nghệ bị bùa/ Bỏ cả thóc trong bồ đến yêu/ Bỏ cả vợ nằm cạnh đến yêu/ Bỏ cả đàn con nhỏ đến yêu/ Yêu ta như­ “bùa nghệ”, yêu đến chết/ Đến yêu ta như­ “nghệ yêu”/ Quý ta nh­ư người yêu quý vú/ Quý ta như­ búi tó quý “bùa nghệ”/ Yêu ta đến điên cuồng ngã gục/ Quấn quýt ta như­ thể đôi đũa/ Yêu ta nh­ư voi nhỏ yêu bầu sữa mẹ/ Như­ tóc yêu búi tó/ Cơm vào mồm quên nuốt/ Đêm đêm nằm mơ mộng thấy ta/ Nghệ dính, nghệ dính/ Ộm khớt!” (Quãm hản mặc/ Ộm! Cu và quãm hản mặc/ Mững và quãm hản mặc/ Mững mặc cu x­ưỡng hản co l­ương/ Mững x­ương cu x­ưỡng hản tánh/ Vãng tễng khảu dú dĩa mã mặc/ Vãng tễng mĩa nõn xảng mã mặc/ Vãng tễng lụk tảu chốn h­ưỡn nõn mã mặc/ Mặc cu x­ưỡng hản tạu l­ương/ Mã x­ương cu x­ưỡng hản mặc/ Mặc cu x­ưỡng hản mặc nỗm/ Mặc cu x­ưỡng phôm mặc hản/ Mặc cu x­ưỡng bả hặn lộm/ Kiểu x­ưỡng thú đôi điêu/ Mặc cu x­ưỡng chạng mặc nỗm/ X­ưỡng phôn thẳm cẩu/ Khảu dú pák thẳm c­ưn/ Nõn cữn phăn hên cu chù mự/ Hản tít, hản tít/ Ộm khớt!).

+ Nghệ ghét

* “Yểm bùa” vào củ nghệ, rồi đem chôn vào buồng ngủ của “đối tượng”: “Ộm!/ Treo quả chua chân thang/ Nghệ đi trồng trước cửa/ Bỏ “chài” vào, vua cũng bỏ trốn/ “Chài” vào gà ấp, bỏ đẻ/ “Chài” vào, nỏ lìa tên/ “Chài” vào, cửi lìa sợi/ “Phù” vào, con dứt tình mẹ/ “Phù” vào, vợ dứt tình chồng/ “Phù” vào ván, ván lùi/ “Phù” vào ma và người, bỏ nhau/ Ộm thiêng!” (Quãm mằn hản hạng/ Ộm!/ Bán xổm pũ tin đay/ Hản pày púk nả táng/ Mằn xaứ pua hạng xáy/ Mằn xaứ cáy hạng hãng/ Mằn xaứ nả hạng pưn/ Mằn xaứ phữm hạng húk/ Mằn xaư lụk khát khõng cáu/ Mằn xaứ nẩu khát khõng phua/ Mằn xaứ pẻn haử hôn/ Mằn xaứ phi cánh cỗn haử hạng/ Ộm khớt).

Bài này có thể làm cho vợ chồng không ở được với nhau, ghét nhau, thù hận nhau, cuối cùng hạnh phúc tan vỡ (!).

Nhưng cũng có bài “chữa” như sau:

* “Ộm!/ Treo quả chua chân thang, ta cởi/ Nghệ đi trồng trước cửa, ta cởi/ Cho vào, vua bỏ trốn, ta cởi/ ‘Phù’ vào gà ấp bỏ đẻ, ta cởi/ Cho vào nỏ bỏ tên, ta cởi/ Cho vào cửi bỏ sợi, ta cởi/ ‘Phù’ vào con dứt tình cũ, ta cởi/ ‘Phù’ vào ván, ván chặt/ ‘Phù’ vào người, không lìa/ Ộm thiêng!” (Quãm kẻ/ Ộm!/ Bán xổm pũ tin đay/ Hản pày púk nả táng/ Mằn xú pua hạng xáy/ Mằn xaứ cáy hạng hãng/ Mằn xaứ nả hạng pưn/ Mằn xaứ phữm hạng húk/ Mằn xaứ lụk khát khõng cáu/ Mằn xaứ nảu nhã khát khõng phua/ Mằn xaứ pẻn nhã hôn/ Mằn xaứ cỗn nhã hạng/ Ộm khớt).

- Bài 3. Đo vết chân

+ Thấy cô nào xinh đẹp, muốn yêu, tìm vết chân người đó, lấy lạt tre đo chiều dài, rộng; rồi đọc lời phù chú 3 lần vào lạt đó. Xong, tìm cách đến nhà cô gái,  bí mật giấu đoạn lạt ấy vào dưới gối của cô gái. Cô gái đó sẽ yêu mình. Yêu rồi không thể bỏ mình được (!). Bài như sau: “Ộm!/ Lạt tre, cây que để đo/ Đo vết chân, đo vết chân mày (người yêu) đem về/ Mày không thấy ta, mày khóc/ Mày thấy ta, mày cười/ Không thấy ta, ngủ trùm chăn khóc chờ/ Cầm đũa ngồi khóc chờ ta đến tối/ Ộm thiêng!” (Tạk hĩnh hõi/ Tạk hõi tin/ Ộm!/ Xin khòng mững mã/ Mững báu hên cu mững hảy/ Đảy hên cu mững chắng hua/ Báu hên cu hốm phã pốk hua hảy dú/ Tạu thú hảy kỹ cọi hặn cằm ha hã/ Ộm dăm!)

+ Lấy lạt tre đọc “bùa yêu” 3 lần, đem đo vết chân người yêu, xong bẻ cất đi trong túi. Đối tượng sẽ yêu mình (!). Bài như sau: “Ộm!/ Chiếc lạt tre/ Chiếc lạt đo/ Ướm vết chân/ Buộc khớp gối/ Níu con tim/ Mau quay lại/ Tìm đến ta/ Ộm khớt!” (Quãm tạk hói tin/ Ộm! Mạy tủm tứa/ Mạy tủm tác/ Tạk hõi tin/ Xin cò nòng/ Chóng hua cha­ư/ Haử­ mững tào/ Tào ha cu/ Ộm khớt!)

- Bài 4. Chỉ tay

Nín thở đọc lời bùa vào tay 3 lần, xong chỉ vào ng­ười mình yêu: “Ộm!/ Ngón tay nhỏ khéo léo/ Ngón tay thiêng khéo chỉ/ Chỉ gà rừng, bay đến/ Chỉ chim công, gà lôi, bay về/ Chỉ chum r­ượu cho đắng/ Chỉ con chủ con Tạo (quý tộc), phải lòng/ Yêu ta như­ yêu dư­a/ Thư­ơng ta nh­ư th­ương trứng/ Không thấy ta muốn khóc/ Đ­ược thấy ta mới cười/ Không thấy ta chăn trùm đầu nằm khóc/ Không thấy ta áo vắt vai đi chết/ Nhìn thấy ta mới cư­ời/ Ộm thiêng!” (Quãm chị/ Ộm!/ Nịu mữ nọi chàng lãi/ Pai mữ nọi chàng chị/ Chị cáy th­ướn haử­ mã/ Chị nộc dũng, nộc khoa haử­ tảu/ Chị hay lẩu haử khôm/ Chị lụk chảu, lụk ông haử­ mặc/ Mặc cu x­ưỡng mặc tanh/ Pãnh cu x­ưỡng pãnh xáy/ Báu hên cu chaư­ hảy/ Đảy hên cu chắng chaư­ hua/ Báu hên cu xửa pốk hua pay tà/ Báu hên cu xửa pạt bá pay tai/ Hên cu chắng nhủm muồn xú cu vẽn lai/ Ộm khớt!).

- Bài 5. Ném quả cà

+ Lấy quả cà dại, “yểm bùa” 3 lần, ném về phía người yêu. Bài đó như sau: “Ộm!/ Quả cà dại/ Nhặt bên phải/ Ném bên trái/ Trúng voi cũng khóc/ Trúng ngựa cũng kêu/ Trúng bốn tốp trai (gái) nhỏ về ở rể ta/ Trúng bốn tốp trai (gái) lớn cũng về ở rể (dâu) ta/ Ộm khớt!” (Quãm thỉm mák kẹng/ Ộm! Mák kẹng/ Kếp màng xại/ Thỉm màng khoa/ Chắp chạng cọ hảy/ Chắp mạ cọ họng/ Chắp xí mú nọi cọ mã kh­ươi (pợ) cu/ Chắp xí mú luông cọ mã kh­ươi (pợ) cu/ Ộm khớt!).

+ “Ộm!/ Cà cong queo/ Cà ngoằn nghèo/ Ve sầu vàng/ Quấn quýt nhau trên ngọn hương nhu/ Chết ngất bởi một mình gái (trai) tôi/ Ộm khớt!”

(Quãm thỉm mák kẹng/ Ộm!/ Mák kẹng kho/ Mák ngõ ngẳn/ Chắc chắn cẵm/ Pẵn căn nẳng nhọt nát/ Chaư­ khát nẳng nhĩnh điêu/ Ộm khớt!)

+  “Ộm!/ Cà cong queo/ Cà ngoàn nghèo/ Cà ngắn cũn/ Ve sầu vàng/

Ve sầu bạc/ Xem mày xiêu (lòng)/ Đến với ta/ Ộm khớt!” (Quãm thỉm mák kẹng/ Ộm!/Mák kẹng cột/ Mák kẹng kho/ Mák ngõ ngặn/ Chắc chắn ngỡn/ Chắc chắn cẵm/ Lằm mững xiểu/ Yểu xaứ­ cu/ Ộm tít.

+ “Ộm, quả cà cong/ Cây cà cành/ Quấn nhau ở ngọn/ Chết ngất với mình ta/ Ộm khớt!” (Thỉm mák quạnh/ Mák quạnh kho/ Mák có ngăn/ Chắc chắn cẵm/ Pẵn căn nẳng nhọt nát/ Chaư khát nẳng cỗn điêu cu nị/ Ộm khớt).

- Bài 6. Chỉ người

Lấy ngón tay chỉ thẳng vào cô gái mình định yêu. Đọc lời phù chú ba lần vào đầu ngón tay, xong chỉ vào đối tượng: “Ộm, ngón tay nhỏ có vằn/ Ngón tay vằn ta chỉ/ Chỉ gà rừng cũng theo/ Chỉ chim bay quay lại/ Chỉ chum rượu cho đắng/ Chỉ con ông con tạo đến yêu/ Yêu tôi như gà nuôi/ Yêu tôi như gà ấp trứng/ Không thấy tôi chuyên khóc/ Thấy tôi mới mỉm cười/ Không thấy, áo chùm đầu nhớ khóc, ộm!” (Chị xấu/ Nịu mữ nọi chàng lãi/ Nịu mữ lãi chàng chị/ Chị cáy thướn haử mã/ Chị nộk dũng nộk khoa haử tảu/ Chị hay lẩu haử khôm/ Chịu lụk chẩu lụk ông haử mặk/ Mặk cu xưỡng cáy tảnh/ Pãnh cu xưỡng cáy xáy/ Báu hên cu chaư hảy/ Đảy hên cu chaư hua/ Báu hên cu xửa pốk hua hảy dú/ Ộm dăm!).

- Bai 7. “Thổi” các bà vợ

Ngày xưa đàn ông lấy nhiều vợ. Các bà vợ cạnh tranh với nhau để chiếm tình cảm của chồng. nín thở đọc bài này 3 lần, thổi vào “đối phương”. Bài “bùa yêu” đó như sau: “Ộm!/ Ống thóc để nuôi vịt cho mày (tình địch)/ Ống tấm để nuôi gà cho mày/ Túi bạc trắng hai m­ươi sải về ta/ ‘Của quý’ chồng thuộc về ta/ [bỏ 2 câu]/ Ộm khớt!” (Quãm mè nọi, mè luông/ Ộm!/ Bẳng khẩu pết pay haử­ mững/ Bẳng khẩu cáy pay haử mững/ Tày ngỡn xão mã haư cu/ Quẫy lẵm dão mã haử­ cu/ Xục tọng cu/ Chốc tọng cu/ Ộm khớt!).

- Bài 8. Yêu tạo, yêu nàng

Là con dân thường, nghèo khổ, muốn lấy Tạo, lấy Nàng (con cái nhà quý tộc) thì làm “bùa yêu”. Đọc bài này có khi hiệu nghiệm, lấy được Tạo, được Nàng (!): “Ộm!/ Tạo gà quý, gà mẹ cánh vàng/ Gà nàng con cánh cụt/ Nàng chịu Tạo như voi chịu rìu/ Nàng chịu ta như tóc chịu búi/ Chịu Tạo nhé/ Thời của nàng/ Vào, tạo vào/ Vào, nàng vào/ Với Tạo, với nàng/ Ộm, dính nhựa/ Ộm, nhựa dính/ Ộm, dính chặt/ Bùa trừ đi, cởi cái xấu cho dính, dính vào/ Ộm khớt!” (Mỗn tít tạo tít nãng/ Ộm! Tạo cáy kẻo tô mè pík nãng

Cáy nãng tô pík còm/ Nãng ón tạo cờ đáp ón cỗm/ Nãng ón tạo cờ phôm ón chọng/ Nhõng tạo é/ Pang nãng é/ Khảu tạo khảu/ Khảu nãng khảu/ Tít tạo tít/ Tít nãng tít/ Ộm tít tắng/ Ộm tắng tít/ Ộm tít tít/ Ộm khớt!).

          V.v.

          Những bài trên đây dùng cho cả trai/gái, nam/nữ; chỉ cần thay vài chữ cho phù hợp.

  1. Tham chiếu

3.1. Thực tế

          Người Cơ Tu ở Tây Giang, Quảng Nam cũng có “bùa yêu”. Họ có “nhiều bùa ngải, có ngải yêu, ngải độc”. Bà Bươn (ở “thôn Bướp, xã A Tiêng”) cưới được chồng nhờ một lần làm “bùa yêu” bằng một loại cây “ngải” bí mật ở trong rừng (cây cỏ lạ lùng có tên là “Ameer”). "Chỉ cần 1 lá ngải, mang về hứng lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá “ngải” bằng tay rồi thấm nước, sau đó lén bỏ vào túi áo quần, dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người (đối tượng), thế là (đối tượng) sẽ yêu cho đến tận lúc chết (!). Nhưng không được để "nó" (đối tượng) biết, nếu "nó" biết (thuốc) sẽ phản tác dụng. Mỗi năm lại phải bỏ “ngải” một lần và không được để người ruột thịt khác giới "dính" phải “ngải” thì có tội lắm. Bà còn “cho ngải nhiều người phụ nữ để lấy chồng như ý, trong đó có một cô con gái của bà. Dùng một bụi cây không thân, lá màu xanh, hình bản kiếm, dài vài tấc, có củ nhỏ giống như loài địa lan. Chỉ xoa “ngải” lên tay và lưng "đối tượng". “Bùa yêu” đó đổi lấy một tấm “tút” (thổ cẩm)…“Còn có nhiều loại ngải có những công dụng khác nữa"(5).

          Như vậy, “ngải” của người Cơ Tu cũng có những “nét” giống với “nghệ” (và các cây cỏ bí mật khác) của người Thái!

3.2. Lý luận

          - “Quam hặc - bùa yêu” thuộc khái niệm ‘ma thuật’ đối với các nhà Nhân chủng học. Theo đó, các thầy Mo là những ‘thuật sỹ’. Họ ‘tin rằng mình kiểm soát được những quyền năng siêu phàm dưới một vài điều kiện bắt buộc nào đó.  Ông ta có quyền năng điều khiển quyền lực. Ông ta cảm nhận trong một niềm tin chắc chắn rằng nếu ông ta đạt được một phương thức đã qua thử thách và thực hiện nó một cách hoàn hảo, ông ta sẽ thu được những kết quả mà phương thức đó đã quy định là sẽ mang tới, xảy ra’. “Thuật sỹ sẽ làm việc với một lòng tin (…), nếu ông ta thao tác theo những sự chỉ dẫn một cách chính xác, ông ta sẽ đạt được cái kết quả (…). Thái độ và hành vi tín ngưỡng (ở đây) là thành kính, người thuật sỹ làm việc (…) với một lòng tự tin”. “Ma thuật hoạt động, thỏa mãn 2 điều kiện: a/ Sự trùng hợp ngẫu nhiên, và b/ Ám thị tâm lý. Các nhà Tâm lý học gọi đây là “phương thức khuất phục thân xác” (…). Các thầy Mo Thái (và cả những người tiến hành “quam hặc - bùa yêu”) đã dựa vào cơ sở khoa học “sơ khai” này? Và đã đạt được không ít những “kết quả ngẫu nhiên”? “Các dữ liệu, hoặc sổ sách ghi chép của những khách lữ hành hay của các nhà nhân chủng học đầy rẫy những sự kiện tương tự trong thế giới sơ khai”. Và “có thể sẽ chính xác hơn, khi gọi ma thuật là một kỹ thuật dựa trên phương pháp tư duy tự kỷ - ý nghĩ tưởng tượng kỳ quặc, như là phương tiện để hoàn thành sự mơ ước”(6).      

          - Nhận xét về chuyện “cây ngải” của người Cơ Tu (Tây Giang, Quảng Nam), TS. Trần Tấn Vịnh, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Nam, cho rằng: “Cây ngải, loại dược liệu chính để làm “bùa yêu” hay “bùa độc” mà những người dân tộc thiểu số sử dụng có rất nhiều loại và được pha trộn thêm với một số thứ dược liệu khác. Ví dụ cây “ngải rọm” có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại “ngải” được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”. Riêng cây “ngải yêu” lại là một loại ngải đặc biệt. Thực ra loại cây ngải này có được bà con dân tộc làm “bùa yêu” vì nó có chứa chất kích thích tình dục. Loại hương liệu này nếu biết cách bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” đặc biệt và tạo ra sự “thèm muốn” khó quên, khó cưỡng lại cho người bị “bỏ bùa”. Vì thế “bùa ngải” chỉ là “xúc tác ban đầu” nối kết hai người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia. Các “thầy cúng, thầy pháp” lợi dụng ngải, đánh vào lòng cả tin của đồng bào, tạo nên những hủ tục cúng ma, ‘thổi’ bệnh đánh vào lòng mê tín của đồng bào”(7).

- “Thực chất, một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng mình bùa yêu là có thật, tuy nhiên nó không quá thần kỳ và bí ẩn như người ta thường đồn đại. Thứ bùa này chủ yếu được làm từ cây cỏ, các loại thảo dược có tác dụng kích thích tình dục bằng mùi. Khi sử dụng thứ ‘bùa yêu’ này, người ta dễ dàng rơi vào trạng thái bị kích thích và nảy sinh ham muốn cùng với đối tượng "bỏ bùa" mình. Sau khi gần gũi, rất có thể tình cảm sẽ được nhen nhóm và gắn bó nạn nhân cùng "thủ phạm" lại với nhau. Và nhiều người trong Showbiz cũng rỉ tai nhau rằng, cô ca sĩ, người mẫu nọ cũng “chơi bùa” để “bẫy” một vị đại gia giàu có. Ngải “nói” cũng là một trong những “truyền kì” về bùa ngải. Người ta đồn đại rằng khi ai đó nuôi được loại ngải này, họ sẽ có sức thuyết phục vô cùng ghê gớm đối với người khác. Chỉ cần nói chuyện, họ có thể dễ dàng điều khiển người khác làm theo ý muốn của mình, thậm chí sai khiến họ đưa tài sản, của cải, nói ra những điều bí mật nhất là khi bình thường, họ nhất định không chịu hé răng. “Hơi thở của quỷ” là một loại “ma túy” cực mạnh, có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Nó được chiết xuất từ một thứ cây dại mọc tại Cobumbia, có tác dụng khiến người ta tạm thời mất trí nhớ ngắn hạn và mất đi sự kiểm soát của bản thân. Với đặc tính không mùi, không màu và không vị, thứ “ma túy” này dễ dàng được sử dụng theo nhiều phương pháp khác nhau: Hòa vào nước, cho vào thuốc lá hoặc đơn giản hơn là “thổi” trực tiếp lên hệ hô hấp của nạn nhân”(8).

  1. Tổng hợp

          “Quam hặc - bùa yêu” của người Thái là một hiện tượng đã có từ lâu. Nay vẫn lưu truyền. Có lời đồn thổi biến nó thành bí hiểm, đáng sợ. Có lời đề cao nó thành vạn năng trong tình trường.

          Thật ra, nó cũng là một hiện tượng khá phổ biến đối với các dân tộc trên thế giới. Nó có một chút yếu tố khoa học sơ khai. Đó là dựa vào thảo dược và tâm lý con người. Nhưng kết quả của nó thì hoàn toàn ngẫu nhiên. Và danh tiếng của nó đã được xây dựng trên cơ sở ngẫu nhiên này mà thôi.

          Với điều kiện cuộc sống hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, nó sẽ mất dần chỗ đứng. Trong lúc nó chưa mất hẳn, việc tuyên truyền nhân dân ở vùng sâu vùng xa đoạn tuyệt với nó là rất quan trọng.

 

                                                                                      8/1/2015              

 

Chú thích

(1) Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học Hà Nội, 1997, tr. 85.

(2) Hoàng Phê, Sđd, tr. 85.

(3) Hoàng Phê, Sđd, tr. 646.

(4) Xem thêm bài của chúng tôi: “Ê quam – Mo Thái phù chú chữa bệnh”, Chuyên san Khoa học xã hội & Nhân văn Nghệ An, số 9/2014, tr. 41 – 50.

(5) Bùi Hữu Cường, Giải mã công dụng cây ngải làm bùa yêu/ /http://www.nguoiduatin.vn/giai-ma-cong-dung-cay-ngai-lam-bua-yeu-a14765.html

(6) E.Adamson Hoebel, Nhân chủng học – Khoa học về con người, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, tr. 609 – 610.

(7) Bùi Hữu Cường, Bài đã dẫn, / http://www.nguoiduatin.vn/giai-ma-cong-dung-cay-ngai-lam-bua-yeu-a14765.html

(8) Lâm Anh, Bùa ngải dưới góc nhìn của người làm khoa học/ http://www.doisongphapluat.com/giai-tri/ngoi-sao/ky-7-bua-ngai-duoi-goc-nhin-cua-nguoi-1am-khoa-hoc-a21779.html

(*) Thành phố Vinh, Nghệ An

(**) Nhà nghiên cứu văn hóa, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Đại thắng từ lòng dân (19/8/2018)
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An (13/8/2018)
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng (7/8/2018)
Hình ảnh "mộc tồn" trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (31/7/2018)
Vị thế Phật giáo trong đời sống văn hóa của cư dân xứ Nghệ (31/7/2018)
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 303 | Tất cả: 1,356,962
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn