ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ
Núi Lam Thành - xứ Nghệ, một huyền tích của lịch sử nước nhà!
Tin đăng ngày: 7/11/2017 - Xem: 811
 

   Th.S Nguyễn Văn Đổng

 

Upload

Rú Thành

Chiều Chủ nhật một ngày mùa thu, thả mình tản bộ trên núi Lam Thành, nắng vàng lơi lả, vài dải mây trắng bồng bềnh làm cho không gian như thêm phần ảo diệu. Phóng tầm mắt nhìn ra bốn phương non nước hữu tình, để kiếm tìm chút tâm thái nhẹ nhàng mà chợt thấy bồi hồi với phong cảnh nơi đây hùng vĩ, nên thơ, lại gắn liền với biết bao huyền tích của lịch sử nước nhà! Thật đúng như trong “Lam Thành sơn hoài cổ phú” của Cụ Đốc học Đặng Nguyên Cẩn(1):“Hưng quận chi nam - Hữu sơn ngật lập - Quyết danh Lam Thành…”; có thể hiểu nghĩa là: Phía nam phủ Hưng, núi Lam Thành đứng đó, chứng kiến bao cuộc thăng trầm trong lịch sử! Cũng trong bài phú này, theo bản phỏng dịch của Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình (1872 - 1949), Tri phủ Hưng Nguyên thời đó, có câu: Núi Lam Thành cao ngất bên kia - Trông phong cảnh đi về không muốn chán.... Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ để thôi thúc chúng ta tìm đến nơi đây để hiểu thêm về quê hương xứ sở và lịch sử oai hùng của dân tộc!

Từ giai thoại về ngọn núi lịch sử

Núi Lam Thành, tiếng địa phương gọi là Rú Thành, là một ngọn núi đứng bên tả ngạn sông Lam, trên địa phận các xã Hưng Lam, Hưng Xuân, Hưng Phú, Hưng Khánh, Hưng Tiến, Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An ngày nay, còn khi xưa, một thời kỳ dài đó là các xã Nghĩa Liệt, Phú Điền, Triều Khẩu huyện Hưng Nguyênphủ Anh Đô, trấn Nghệ An. Xưa dân gian gọi núi này là rú Rum, và sông Lam là rào Rum; Rum phiên âm là Lam. Rú Rum - Lam sơn - nhưng do trên núi có ngôi thành cổ nên gọi là núi Lam Thành, hoặc Rú Thành. Cũng trong dân gian, còn có tên gọi là rú Sét, núi Nghĩa Liệt(2), Hùng sơn - núi Con Gấu hoặc Tuyên Nghĩa sơn, do dưới núi có miếu thờ Tuyên Nghĩa(3). Cũng có giai thoại rằng đây là Đồng Trụ Sơn, do ngày xưa Mã Viện đã dựng cột đồng trên núi này, nhưng thực ra, Cột đồng Mã Viện trên đất Giao Chỉ là chuyện hão huyền, do các triều đại phong kiến phương Bắc loan truyền để gây thanh thế và lấy cớ hạch sách người Việt. Bởi vậy mà, để loại bỏ nó khỏi đời sống tinh thần, dân ta cũng có những câu chuyện, nào là người Giao Chỉ ai qua cũng ném một hòn đá chôn cột đồng mất tích, nào là “vợ chồng ông họ Hoàng cưa đứt cột đồng, gánh ném xuống sông mất tăm”. Hay câu chuyện, khi đi sứ đến Yên Kinh (Bắc Kinh), khi bị vua Minh thử tài và có ý đe dọa bằng vế đối: 銅 柱 至 今 苔 已 綠 - Đồng trụ chí kim đài dĩ lục, nghĩa là: Cột đồng nay rêu đã bám xanh; Thám hoa Giang Văn Minh đã khẳng khái đáp trả: 騰 江 似 古 血 猶 紅 - Đằng giang tự cổ huyết do hồng!, nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn đỏ! Rồi hình như từ sau khi thơ Bùi Dương Lịch: “Phục Ba đồng trụ diệt” lan truyền thì từ đó không còn chuyện cột đồng Mã Viện.

Theo truyền ngôn, ngôi thành trên núi đã có từ thời Trần - Hồ; cuối đời Trần, khi nắm quyền bính trong tay, Hồ Quý Ly (1336 - 1407) rất chăm lo việc binh bị, đề phòng quân Minh xâm lược. Ông đặc biệt quan tâm đến vùng từ Thanh - Nghệ vào Nam, cử người thân tín giữ các lộ, xây đắp nhiều thành luỹ, trong đó có thành Rum (Lam Thành). Tuy nhiên, hiện vẫn chưa khảo cứu được trấn lỵ Nghệ An thời ấy đặt ở đâu.

Sau khi quân Minh chiếm Đại Việt, đổi Nghệ An làm phủ, thì phủ trị đặt ở Lam Thành. Diệt nhà Hồ xong, tháng Tám năm Đinh Hợi (1407) Trương PhụMộc Thạnh rút quân về, để Lữ Nghị và Hoàng Phúc ở lại và dùng bọn quan đầu hàng là Trần Thúc Dao giữ Châu DiễnTrần Nhật Chiêu giữ Nghệ An. Nhưng khi vua nhà Hậu Trần là Giản định đế Trần Ngỗi lui quân về Nghệ An thì bọn này đều bị giết.

Năm 1409, Trần Quý Khoáng được Đặng DungNguyễn Cảnh Dị tôn làm vua, lấy hiệu Trùng Quang, mời Giản Định đế về làm Thượng hoàng, cùng đánh giặc. Buổi đầu thanh thế của nghĩa quân rất lớn, nhưng rồi lực lượng suy giảm dần. Nhà Minh lại đưa Trương Phụ sang lần nữa. Vào tháng 4 -1413, Trương Phụ lại đánh chiếm Nghệ An. Vua Trùng Quang phải lui vào Châu Hoá. Phan Quý Hựu giữ chức Thiếu bảo nhà Hậu Trần đầu hàng giặc, nhưng Quý Hựu ốm chết, Phụ cho con y là Phan Liêu làm Tri phủ Nghệ An.

Vua Trùng Quang sai đài quan Nguyễn Biểu làm sứ cầu phong, mang sản vật địa phương đến thành Nghệ An (Lam Thành). Thấy thái độ bình thản, bất khuất của Nguyễn Biểu, Phụ tỏ ý kính nể để cho ông về nhưng Phan Liêu xui Phụ bắt ông lại. Ông lớn tiếng vạch tội cướp nước của giặc, Phụ bèn sai trói ông vào cột cầu Lam cho nước lên dìm chết. Nhưng ba ngày thuỷ triều không lên, Phụ bèn sai đưa ông về trước chùa Yên Quốc giết chết. Vua Trùng Quang thương tiếc, đặt lễ tế ông. Đến đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông phong Nguyễn Biểu là Nghĩa sĩ đại vương, sai lập đền thờ tại quê nhà. Sau đó vùng quanh nơi ông bị giặc giết, nhân dân dựng miếu thờ vọng. Theo Nghệ An cổ tích lục thì “bên tả chùa Yên Quốc, có ngôi lầu gọi la lầu Nghĩa Vương, về sau, không biết là từ lúc nào chùa Yên Quốc trở thành đền Yên Quốc, thờ Nghĩa vương Nguyễn Biểu”.

Đầu năm 1425, nghĩa quân Lam Sơn vào xây dựng căn cứ Đỗ Gia (Hương Sơn) dưới sự lãnh đạo tối cao của Bình định vương Lê Lợi. Tướng nhà Minh là Trần Trí giữ Lam Thành, sau những thất bại ở Tây Nghệ An, chỉ biết cố thủ chờ viện binh. Tháng 5 -1425, Lý An từ Đông Quan đưa quân vượt biển vào cứu, Trí bèn tấn công lên Đỗ Gia nhưng lại bị đại bại. Từ đó thành Nghệ An (Lam Thành) bị nghĩa quân Lê Lợi vây chặt. Tháng 10 - 1426, Phương ChínhLý An giao thành cho Thái Phúc. Tháng 2/1427, Phúc mở cửa thành đưa một vạn quân ra hàng…

Từ đó cho đến cuối đời Tây Sơn (1801), hơn 370 năm, Lam Thành là trấn lị Nghệ An. Trấn lị không đặt trong ngôi thành do Trương Phụ xây, nhưng khi nói về lị sở này, sử sách đều chép là thành Nghệ An.

Nếu năm 1470, khi dừng chân ghé lại Lam Thành, vua Lê Thành Tông có làm thơ, sau những cảm hứng về cảnh sắc nước non, bài thơ có câu luận: Tráng tâm đa thiểu tại thương sinh - Chí lớn nhiều ít cũng vì muôn dân; rồi trong bài thơ “Quá Phù Thạch độ”- Qua bến Phù Thạch, Ngài lại có hai câu kết: Phương kim yển vũ tu văn trị - Xuất thổ hành đương bố đức âm - Ngày nay chính là lúc tạm xếp việc võ, sửa sang việc văn - Khắp đất nước cần ban bố ân đức. Đó là lời nói của một đấng  minh quân và  nhân quân. Thì hơn 300 năm sau, năm 1789, ghé lại Lam Thành sau khi thắng trận trở về, vua Quang Trung đã hội kiến với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) để lắng nghe luận bàn về việc chấn hưng đất nước sau khi đánh thắng giặc. Đây là lần thứ ba nhà vua đến Lam Thành và cũng là lần thứ ba nhà vua hội kiến với Nguyễn Thiếp . Mấy tháng sau lần hội kiến này, vào mùa thu năm ấy vua Quang Trung lập Sùng Chính thư viện ở Nam Hoa, cử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng và mở khoa thi tú tài đầu tiên ở trường Nghệ An, bổ Nguyễn Thiếp làm Đề điệu.

Xong việc võ đuổi ngoại xâm, giữ yên bờ cõi thì bắt tay vào việc văn, chọn nhân tài, xây dựng đất nước. Hai vị hoàng đế ở hai thời đại khác nhau, cùng có chung suy nghĩ và hành động. Quả là những trí tuệ vĩ nhân thường gặp nhau!

Đến một quần thể di tích - cần lắm sự quan tâm đầu tư!

Upload

Một đoạn thành đắp bằng đá trên núi Rú Thành

Xin nhắc lại để mọi người cùng nhớ, núi Lam Thành đã được xếp hạng di tích ngay từ đợt đầu tiên theo Quyết định số 313 - VH/VP ngày 28/4/1962 của Bộ Văn hóa. Ngoài di tích Thành cổ, còn có hàng chục đền, chùa được xây dựng xung quanh như: đền thờ Nguyễn Biểu, đền thờ Tuyên Nghĩa Hầu, đền Thanh Liệt, đền Vua Lê, chùa (đền) An Quốc, chùa Ông, chùa Mụ, chùa Hầm Hờ,... từ xưa đã gắn bó với sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương. Rồi nhìn về phía Tây Bắc, vẫn còn đó huyền tích thành hoàng làng Long Đống(4) ở xã Trung Mâu, tổng Thông Lãng, nay thuộc xã Hưng Tiến(5), huyện Hưng Nguyên. Trong những di tích lịch sử quan trọng ở trấn lị cổ kính Lam Thành, để lại ấn tượng nhất cho chúng tôi là đền vua Lê ở Phú Điền (thuộc xã Hưng Khánh). Theo truyền ngôn thì đền dựng trên nền cũ hành dinh của Bình định vương Lê Lợi khi nhà vua đưa quân xuống vây thành Nghệ An. Sau khi nhà vua lên ngôi, trấn lị đặt ở Lam Thành, thì nơi này là hành điện (hay hành cung). Đến năm đầu niên hiệu Hồng Đức (1470), vua Lê Thánh Tông mới sai lập đền thờ vua Lê Thái Tổ và bà Trinh Ý nguyên phi.  Sau đó, vua Lê Hi Tông lại rước linh vị vua Lê Thái Tông và vua Lê Thánh Tông về thờ ở đây. Đền cũ có bốn toà, đặt kề nhau thành hình chữ "công" (I), ở toà thượng thờ vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông; ở toà trung từ dọc, thờ ba vị vương, con vua Lê Thái Tổ; toà trung từ ngang thì để các tế khí. Bên phải bốn tòa nhà này là ngôi đền thờ bà Trinh Ý phu nhân vợ vua Lê Thái Tổ, mẹ vua Thái Tông(6). “Đền này là một kiến trúc lớn, là công trình điêu khắc tinh xảo, có 64 cột lớn - chu vi 1,60 m” (báo cáo của Ty Văn hoá Nghệ An ngày 25/01/1957). Tuy nhiên, do lũ lụt, mưa gió dãi dầu qua nhiều thế kỷ và một phần là do con người, tàn phá; đến nay, đền cũ không còn; ngôi đền hiện nay được dựng lại trên nền cũ nhưng nhỏ hơn rất nhiều và chỉ có một tòa. Mặc dầu vậy, những di sản Hán Nôm thể loại câu đối được sao chép, khắc vào cổng đền, vẫn còn khá phong phú. Xin được dẫn ra 01 câu đối để hiểu thêm về truyền thống oanh liệt chống ngoại xâm của tổ tiên ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và Nguyễn Trãi; câu đối viết trên cột quyết mặt tiền của đền:

南 朝 有 劍 埋 山 下   -   北 賊 無 顏 到 渡 旁

(Nam triều hữu kiếm mai sơn hạ - Bắc tặc vô nhan đáo độ bàng)

Nghĩa là: Kiếm nước Nam còn chôn dưới núi - Hồn giặc Bắc khiếp sợ bên sông

Sự tác động của tự nhiên và con người cũng đã khiến cho các di tích khác bị hư hại nặng. Cây cối bị chặt phá trở thành núi trọc, chim muông không còn chốn nương thân, sườn núi đầy những vết nham nhở. Theo thời gian các công trình kiến trúc của Lam Thành xưa cũng không tránh khỏi sự tàn phá và xuống cấp trầm trọng. Tường thành sừng sững xưa giờ chỉ còn là những đoạn lởm chởm với một vài ụ súng, cột cờ và dấu vết của những hồ Voi, hồ Ngựa, trại lính, kho lương, bếp ăn,…

Việc phục hồi và tôn tạo quần thể di tích Lam Thành để bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử văn hoá vốn có là hết sức cần thiết. Nghe đâu cũng đã có những kế hoạch, những “dự án tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích lịch sử Lam Thành gắn với xây dựng khu du lịch văn hoá tâm linh” nào đó, nhưng trên thực tế thì vẫn chưa làm được gì nhiều. Mặt khác, nếu được triển khai thì cần phải có sự nghiên cứu, khảo sát kỹ về giá trị, hiện trạng của di tích; tìm được các giải pháp khoa học, thỏa đáng để từng bước khôi phục giá trị lịch sử, cảnh quan, xây dựng hệ thống hạ tầng, dịch vụ du lịch.

Và đôi điều còn trăn trở….

Một quần thể di tích, danh thắng như vậy mà nếu không được quan tâm giữ gìn, phục dựng thì nguy cơ di tích chìm vào quên lãng, danh thắng mai một theo thời gian sẽ là điều khó tránh khỏi. Trước năm 1945, thực dân Pháp và phát xít Nhật đã khoan vào lòng núi, san ủi nhiều địa điểm để thăm dò khai thác quặng. Đến năm 1954, khi nhà máy đường, nhà máy giấy sông Lam khởi công xây dựng, Lam Thành lại một lần nữa bị tàn phá do việc khai thác nguyên vật liệu xây dựng cơ sở hạ tầng. Sau này, việc khai thác quặng, chặt phá cây xanh cũng diễn ra rất lộn xộn, tàn phá nghiêm trọng di tích. Rồi hoàn cảnh khó khăn, rồi tư duy, quan điểm,… một thời đã làm cho quần thể di tích Lam Thành xuống cấp, hoen ố nặng nề. Việc bảo tồn, phục dựng có chăng cũng chỉ diễn ra tự phát, manh mún, lệch lạc. Chẳng hạn như việc xây dựng Phủ mẫu Lam Thành ngay chân núi phía Đông Nam hiện nay, xem ra có điều gì đó rất khiên cưỡng, bởi dường như nó chẳng có mối liên hệ nào với lịch sử quần thể di tích nơi đây, dù tục thờ mẫu trong nhân gian là rất đáng trân trọng!

Thiết nghĩ, đã đến lúc các cấp, các ngành cùng với doanh nghiệp, nhà đầu tư phải vào cuộc để nghiên cứu, quy hoạch, đầu tư tu bổ và tôn tạo di tích Lam Thành cũng như quần thể di tích liên quan cho xứng đáng với những giá trị lịch sử, văn hoá, tâm linh vốn có.

 

Chú thích

 (1). Cụ Đốc học Đặng Nguyên Cẩn là quan Đốc học Nghệ An, cụ là thân sinh GS Đặng Thai Mai.

(2). Ở làng Hưng Nhân, xã Hưng Lam (Nghĩa Liệt cũ) trước có chợ Sét, và phía ngoài bãi sông có vạn Sét (vạn Thanh Liệt). Có người cho rằng từ Nghĩa trong Nghĩa Liệt là do tước hiệu của Nghĩa vương Nguyễn Biểu

(3). Miếu Tuyên Nghĩa thờ Thái Phúc, tướng nhà Minh giữ thành Nghệ An (Lam Thành) ra hàng nghĩa quân Lam Sơn, trở về bị vua Minh giết, nên vua Lê Thái Tổ phong tước Hầu, cho lập miếu thờ

(4). Gắn liền với sự  tích vùng này bị yêu tinh quấy nhiễu, gây hạn hán lâu ngày, phát hỏa cháy cả vùng, người dân cầu khẩn,  Long Thần người nhà trời, phụng mệnh Ngọc đế xuống hạ dưới cứu nạn cho dân. Để ghi ơn, dân làng lập miếu thờ phụng, gọi là miếu Long Đống  (龍 棟 - trụ rồng), sau có một ông quan huyện họ Đặng xuống phê bút thay chữ “Long 龍” nghĩa là “rồng” thành chữ “Long 隆” nghĩa là “hưng thịnh, trịnh trọng”; từ  đó tên làng mang một ý nghĩa mới là trụ cột của sự hưng thịnh.

(5). Ngày 18/12/1953, xã Trung Mâu được Chính phủ quyết định tách thành hai xã, Hưng Tiến và Hưng Thắng.

(6). Bà Nguyên phi Trinh ý họ Phạm, huý Ngọc Trần, là nguyên phi của vua Lê Thái Tổ. Có giai thoại kể rằng, Lê Lợi đánh mãi không phá được thành Nghệ An bèn lập đàn cầu trời đất, Thần Sông hiện lên bảo nếu dâng thần một người vợ, thần sẽ phù giúp phá thành; bà Nguyên phi Trinh ý đã tự nguyện xin nhảy xuống sông tự trẫm, với điều kiện hoàng tử con bà sinh ra (vua Lê Thái Tông sau này) phải được truyền ngôi Vua.

 

 

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Đất và người xứ Nghệ khác:
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
Đền Chín Gian với thực hành tâm linh của người Thái Nghệ An (11/4/2018)
Phan Kính - Người học trò xuất sắc và thành đạt của đất Lam Hồng (2/3/2018)
Mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc (31/1/2018)
Nhạc sĩ Vy Phong với dân ca Nghệ Tĩnh (giai đoạn 1975 - 2000) (19/12/2017)
Đại thi hào Nguyễn Du là hậu duệ Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (19/12/2017)
Nhân vật khoa bảng qua tư liệu địa phương chí Hán Nôm của tỉnh Nghệ An (4/12/2017)
Hiệu buôn Yên Xuân và những người con tiêu biểu của xã Linh Sơn (7/11/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,426 | Tất cả: 1,301,602
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn