NGHIÊN CỨU KHXH&NV
Bức tranh kinh tế Nghệ An sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (2013 - 2017)
Tin đăng ngày: 31/10/2017 - Xem: 1237
 

 

PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG BẰNG

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26 “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020”. Đây là một Nghị quyết đặc biệt, bởi vì ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chi Minh chưa có địa phương nào được BCT ban hành một Nghị quyết riêng như vậy. Đối với Nghệ An có thể coi đây là cơ hội để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu xây dựng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng tầm với các giá trị lịch sử và văn hóa; đây là cơ hội để Nghệ An bứt phá vươn lên trở thành tỉnh khá, tỉnh công nghiệp đến năm 2020. Tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó người dân Nghệ An đều hiểu rằng đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, một thử thách bản lĩnh, trí tuệ của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An. Đến nay sau 5 năm, Nghệ An cần đánh giá xem mục tiêu nào đã thành hiện thực, mục tiêu nào đang trên đường về đích, mục tiêu nào còn dở dang, còn “lỗi hẹn” với Đảng và Nhà nước. Bài nghiên cứu này trình bày tình hình phát triển kinh tế Nghệ An từ 2013 đến 2017. Kết quả phân tích đã chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, yếu kém làm chậm lại việc thực hiện NQ 26 của BCT.

 

  1. Tình hình kinh tế Nghệ An giai đoạn 2013 - 2017

1.1. Tình hình tăng trưởng

Mục tiêu mà Nghị quyết 26 - NQ/TW đặt ra cho Nghệ An đến năm 2020 là: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân thời kỳ 2011-2020 phải đạt 11-12%; GDP bình quân đầu người cuối năm 2020 đạt khoảng 2.800-3.500 USD. Theo báo cáo của UBND tỉnh, năm 2013 GDP nội địa của Nghệ An tăng 7,0 %; năm 2017 kế hoạch  8 đến 9%, theo dự kiến đạt 6,9%, thấp nhất trong 5 năm gần đây. Trong khi đó mức tăng trưởng của cả nước từ 2013 đến 2017 tăng dần qua từng năm, thể hiện kinh tế đã phục hồi. Mức tăng trưởng của Nghệ An vẫn còn chậm, chưa đạt mức dự báo. Như vậy đến năm 2020, liệu Nghệ An có đạt mức tăng trưởng bình quân 11% đến 12 % như chỉ tiêu của Nghị quyết 26 của BCT đặt ra cho tỉnh không.  

Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng GDP (%) của Nghệ An giai đoạn 2013 - 2017

Đơn vị tính: %

 

2013

2014

2015

2016

2017*

Nghệ An

7,0

7,24

7,31

7,5

6,9

Việt Nam

5,42

5,98

6,68

6,21

6,75

Đông Nam Á

5,0

4,5

4,4

4,5

4,4*

*Số hiệu ước tính; Nguồn: Báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An năm 2013,2014,2015,2016,2017

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đã phục hồi, mặc dầu mức tăng trưởng ở Nghệ An cao hơn mức bình quân của cả nước, nhưng đã giảm (năm 2013: 7,0% thì năm 2017 dự kiến 6,9 %).

Thu nhập bình quân đầu người của Nghệ An tuy có tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với chỉ tiêu BCT đặt ra và mức bình quân cả nước.

Năm 2013: 22,96 triệu đồng/ người (cả nước 1.685 USD, người).

Năm 2016: 28, 54 triệu đồng/người  (cả nước 2.215 USD / người).

Năm 2017: dự kiến 33 triệu đồng/người (dự báo 2.300 USD/ người).

Nếu năm 2017 Nghệ An thu nhập đạt mức dự kiến (33 triệu đồng/người) thì từ  năm 2013 đến 2017, thu nhập bình quân đầu người tăng 1,43 lần. Trong khi đó thu nhập bình quân đầu người cả nước ước tính năm 2017 đạt 50,0 triệu đồng. Nếu so sánh với mức thu nhập bình quân chung của cả nước thì Nghệ An chỉ đạt 66% (33/50). Mức thu nhập còn thấp so với chỉ tiêu và còn rất xa so với Nghị quyết 26 Bộ chính trị đặt ra cho Nghệ An (đến năm 2020: GDP bình quân của Nghệ An là 2.800 USD -3.500 USD). Từ nay đến 2020, thời gian không còn dài, nếu không có giải pháp đột phá chắc chắn chưa thể đạt mức chỉ tiêu trên. Vấn đề tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần tạo ra thu nhập mà còn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội.

1.2. Các yếu tố của tăng trưởng

Thứ nhất, sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế Nghệ An đang trong quá trình dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ chuyển dịch còn chậm và hiệu quả chưa cao. Trong 6,9% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,16 điểm %; khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp 2,65 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 2,7 điểm % và thuế sản phẩm đóng góp 0,39 điểm %.

 Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 4,64% (6 tháng 2016 tăng 4,22%), trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 81% của toàn khu vực tăng 3,72% do sản phẩm nông nghiệp vụ đông xuân được mùa, hầu hết sản lượng của các cây trồng chủ yếu đều tăng khá như thóc tăng 1,41%, rau tăng 1,91%, vừng tăng 15,42%, chuối tăng 3,79%, cam tăng 11,06%,… và ngành chăn nuôi phát triển bình thường, sản lượng xuất chuồng tăng, sản lượng sữa tăng khá (+19,77%), do đó giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng khá cùng kỳ năm trước. Cùng với 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản đều có mức tăng cao, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 8,83% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước (+24,24%) và ngành thủy sản tăng 9,09% do sản lượng đánh bắt thủy sản tăng cao (+14,98%).

Khu vực công nghiệp - xây dựng giá trị tăng thêm tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của 6 tháng 2016 (8,87%), do trong kỳ mặc dù một số sản phẩm công suất đã đến mức tối đa như bia, đường, gạch nung và sữa, phải chia sẻ thị trường (do nhà máy sữa Vinamilk Đà Nẵng đã đi vào hoạt động), điện sản xuất thời tiết hạn hán nên một số thời gian không đủ nước để chạy hết công suất, nhưng bù lại trong kỳ có thêm một số sản phẩm mới như Tôn Hoa Sen (Đông Hồi), xi măng Sông Lam 2... làm cho giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng 8,52%; Ngành xây dựng phát triển khá do đó giá trị tăng thêm của ngành này đã tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.

Khu vực dịch vụ vẫn phát triển chậm so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, luân chuyển hành khách và hàng hóa tăng khá; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao; ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, nợ xấu giảm; viễn thông phát triển. Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 5,26%; vận tải kho bãi tăng 8,55%; lưu trú và ăn uống tăng 21,34%; thông tin, truyền thông tăng 5,88%, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,36%...

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực từ 2013 -2016

Khu vực

Tốc độ tăng trưởng (%)

Cơ cấu kinh tế ( %)

2013

2014

2015

2016

2013

2014

2015

2016

Nông - lâm - thủy  sản

4,14

3,85

3,90

3,53

28,8

27,0

26,5

26,0

Công nghiệp - Xây dựng

5,34

8,72

10,95

11,58

33,6

33,0

32,5

32,0

Dịch vụ

10,2

6,21

6,89

6,71

37,6

40,0

41,0

42,0

 

Thứ hai, thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu   

Một chỉ tiêu khá quan trọng  nói lên tiềm lực kinh tế của một tỉnh đó là thu ngân sách. Thu ngân sách ở Nghệ An từ 2013 đến 2017 đã đạt gần gấp đôi. Trong đó thu nội địa chiếm khoảng 76%, thu thuế xuất nhập khẩu chiếm 25%. Mặc dù thu ngân sách đã được cải thiện, nhưng mới chỉ đạt trên gần 50% chi ngân sách của tỉnh, Hơn 50% chi ngân sách của Nghệ An phải dựa vào sự điều phối từ Trung ương. Mặc dầu Nghệ An đang nỗ lực phấn đấu đến năm 2020 cân bằng ngân sách, song điều đó khó đạt được.

          Kim ngạch xuất khẩu của Nghệ An từ 2013 đến 2017 tăng đều, nhưng rất chậm. Một mặt do thị trường nước ngoài có biến động vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu; mặt khác hàng hóa dịch vụ của Nghệ An chưa đủ sức cạnh tranh thị trường thế giới. Nhóm hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là nông sản, thủy sản, dệt may. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc và một số nước lân cận. Hình thức xuất khẩu vẫn qua đường tiểu ngạch hoặc ủy thác.

Bảng 3. Thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu của Nghệ An từ 2013 - 2017

 

2013

2014

2015

2016

2017*

Thu ngân sách ( tỷ đồng)

6.062

 

7.400

10.038

10. 310

11.590

Kim ngạch xuất khẩu ( triệu đô la)

 

460

546

463

667

855

                                                          Nguồn: Tổng hợp báo cáo của UBND tỉnh

Thứ ba, huy động và thu hút vốn đầu tư từ trong và ngoài nước

Tính đến năm 2017 Nghệ An đã tổ chức 9 hội nghị xúc tiến đầu tư tại thành phố Vinh. Nhờ đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã quan tâm nhiều đến Nghệ An. Họ đã tìm thấy ở Nghệ An nhiều cơ hội đầu tư. Từ đó đến nay vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm tăng lên đáng để. Giai đoạn đầu của thời kỳ 2011 - 2015, thu hút FDI đạt thấp. Tuy nhiên, năm 2015, số dự án tăng lên 13 dự án. Cùng với đó, số vốn FDI đăng ký được cấp phép năm 2015 tăng mạnh lên tới 168,46 triệu USD. 

Giai đoạn 2011-2016, các dự án đầu tư FDI của tỉnh tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, cơ khí (17 dự án/154,4 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 54,84% số lượng dự án và 51,98% số vốn đăng ký). Tiếp theo là ngành dệt may (6 dự án/40,17 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 19,35% số lượng dự án và 13,52% số vốn đăng ký); Dịch vụ, thương mại, lĩnh vực khác (5 dự án/24,53 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 16,13% số lượng dự án và 8,26% số vốn đăng ký).

          Nông, lâm, thủy sản (2 dự án/1,56 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 6,45% số lượng dự án và 0,53% số vốn đăng ký). Các dự án vào lĩnh vực xây dựng, phát triển hạ tầng tuy số lượng dự án ít nhưng tổng vốn đăng ký tương đối cao 1 dự án/76,4 triệu USD vốn đăng ký (3,23% số lượng dự án và 25,72% số vốn đăng ký).

Bảng 4:  Vốn đầu tư trong nước và nước ngoài giai đoạn 2013 - 2016

 

2013

2014

2015

2016

Đầu tư trong nước (tỷ đồng)

56.000

36.000

42.000

51.000

Đầu tư nước ngoài (triệu USD)

21, 081

9,400

168,46

500,0

Hàn Quốc là quốc gia đứng đầu về số lượng dự án (11/31 dự án) và Singapore là quốc gia đứng đầu về số vốn đăng ký (76,4/297,06 triệu USD). Các doanh nghiệp FDI của tỉnh có tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt trên 300 triệu USD, chiếm bình quân 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh. Tuy nhiên bên cạnh đó, có một số dự án FDI không khả thi, thống kê của UBND tỉnh Nghệ An cho thấy có 17 dự án đã chấm dứt hoạt động.

Để đánh giá đúng những hạn chế, tồn tại của Nghệ An trong thu hút vốn FDI cần đặt kết quả thu được trong hai mối quan hệ: Thứ nhất, là điều kiện tự nhiên và con người; Thứ hai, là Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị ngày 30/7/2013 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Xin lấy Vĩnh Phúc và Thái Nguyên là hai tỉnh miền núi phía Bắc để so sánh với Nghệ An. Vĩnh Phúc và Thái Nguyên là hai tỉnh miền núi phía Bắc, cách cảng Hải Phòng khoảng 170 km và không có sân bay. Thế mà hai tỉnh này thu hút được nguồn vốn FDI rất lớn, lớn hơn Nghệ An. Nhờ thu hút được nhiều dự án FDI, hai tỉnh này đã thoát nghèo, Vĩnh Phúc thuộc tỉnh giàu. Về giao thông, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không Nghệ An thuận lợi hơn hẳn Vĩnh Phúc và Thái Nguyên. Nghệ An có nhiều trường đại học, cao đẳng và trường dạy nghề hơn Vĩnh Phúc và Thái Nguyên.

Nếu không muốn thừa nhận Nghệ An thua Vĩnh Phúc trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thì phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên: Nghệ An có tiềm năng rất lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả nhằm thu hút FDI. Nói cách khác, chúng ta đang để cho nội lực của Nghệ An “ngủ” quá lâu!

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị ngày 30/7/2013 xác định mục tiêu “Phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản thành một tỉnh công nghiệp…”. Năm 2017 sắp qua, chỉ còn 2 năm nữa để đưa Nghệ Anm cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 26  của Bộ Chính trị.

Đến năm 2020, còn 3 năm 3 tháng nữa làm thế nào để Nghệ An “cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp…”? Như vậy, Nghệ An đang mắc nợ với dân (để nguồn lực ngủ quá lâu) và lỡ hẹn với Đảng (không đạt mục tiêu mà NQ.26 của Bộ Chính trị đặt ra).

Thứ tư, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Nhìn vào bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh Nghệ An qua các năm có nhiều tiến bộ tuy nhiên trong 10 tiêu chí có những tiêu chí Nghệ An đạt thấp đó là “chi phí không chính thức” và “cạnh tranh bình đẳng”. Xét về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Nghệ An là tỉnh khá. Năm 2012 Nghệ An đạt thứ 46 nhưng sau 5 năm Nghệ An vượt lên thứ 25, tăng hơn 20 bậc.

Bảng 4. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Nghệ An từ 2012 - 2016

Chỉ số

2012

2013

2014

2015

2016

Gia nhập thị trường

8.09

8.09

8.88

8.63

8.9

Tiếp cận đất đai

5.79

6.26

5.32

5.38

5.37

Tính minh bạch

5.85

5.42

5.89

6.37

6.42

Chi phí thời gian

5.73

5.47

6.5

6.22

6.25

Chi phí không chính thức

6.19

4.82

4.42

4.28

4.39

Tính năng động   

3.16

6.05

4.4

4.48

5.0

Hỗ trợ doanh nghiệp

3.98

5.5

6.28

6.02

5.73

Đào tạo lao động

4.85

5.68

6.2

5.81

6.51

Thiết chế pháp lý

2.45

4.89

5.27

5.58

5.3

Cạnh tranh bình đẳng

 

4.87

4.97

6.25

4.67

PCI

54.36

55.83

58.92

58.47

59.45

Xếp hạng

46/63

46/63

28/63

32/63

25/63

 

Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có vị trí địa lý chiến lược hết sức quan trọng của đất nước, gắn với trục Bắc - Nam và định hướng phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây. Những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kinh tế phát triển khá toàn diện, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 3 năm 2013 - 2016 tăng bình quân 7,59%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của 3 năm 2011 - 2013 là 5,54%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao được chú trọng đầu tư phát triển, từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến, thu hút được một số lượng lớn các dự án về nông nghiệp, chăn nuôi công nghệ cao đầu tư trên địa bàn tỉnh...

Tuy vậy, qua 4 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, lĩnh vực nông nghiệp đã có bước phát triển nhưng chưa thật sự vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng tăng trưởng thấp; chưa thu hút được nhiều dự án lớn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chưa đạt kế hoạch đề ra, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở các huyện miền núi Tây Nghệ An... Đến nay Nghệ An có 152 xã đạt nông thôn mới, chiếm 31, 3% số xã trong toàn tỉnh, cao hơn bình quân cả nước (23%). Toàn tỉnh có 2 đơn vị cấp huyện, thị xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Tuy vậy tiến độ xây dựng nông thôn mới còn chậm và chưa vững chắc. Nhiều chỉ tiêu sản phẩm chưa đạt mục tiêu như xi măng, đá trắng, chăn nuôi và chế biến sữa. Công tác quản lý trên một số lĩnh vực còn hạn chế như tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nợ xây dựng cơ bản lớn, chất lượng một số công trình chưa đạt yêu cầu. Công tác cải cách thủ tục hành chính còn chậm. Vấn đề xây dựng chính quyền điện tử và cải cách hành chính công vẫn còn nhiều khó khăn. Mục tiêu xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa của Bắc Trung bộ vẫn còn xa vời. Kinh tế miền Tây Nghệ An vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng thế mạnh của vùng. Lộ trình xây dựng “khu vực miền Tây thành một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, gắn vùng nguyên liệu với khai thác, chế biến khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp. Xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao với trung tâm là Nghĩa Đàn nhằm khai thác tiềm năng nông nghiệp khu vực miền Tây, tạo ra sản phẩm có chất lượng, năng suất, hiệu quả và làm điển hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ” như NQ 26 BCT đã nêu trong vòng 10 năm tới vẫn rất khó khăn bởi chưa tìm kiếm được nguồn đầu tư. Về nguyên nhân, khách quan có, chủ quan có nhưng theo chúng tôi chủ quan là chủ yếu. Nếu chúng ta so sánh với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung bộ thì không có tỉnh nào hội tụ được các yếu tố thuận lợi như Nghệ An. Hình như trong chiến lược phát triển Nghệ An đang thiếu tính đột phá, chưa tạo được sự khác biệt. Hình như trong tư duy, Nghệ An vẫn do dự, bảo thủ đi theo lối mòn truyền thống, chưa dám bứt phá để tạo đột biến.

  1. Kết luận và khuyến nghị

Từ 2013 đến 2017, trong lộ trình thực hiện NQ 26 của BCT, kinh tế - xã hội Nghệ An đã có nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Bức tranh kinh tế Nghệ An đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên bên cạnh những điểm sáng rất đáng ghi nhận, vẫn tồn tại những khoảng tối. Chính điều đó đã làm chậm lại việc thực hiện các mục tiêu mà NQ 26 của BCT đã đặt ra cho Nghệ An.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017 và những năm tiếp theo, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Nghệ An cần tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30-7-2013 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; tập trung hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2017; chỉ đạo quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28-4-2016 của Chính phủ và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16-5-2016 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sống trong lành cho nhân dân.

Cùng với đó, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương; chú trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái ứng dụng công nghệ cao; xã hội hóa mạnh mẽ công tác đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để cung ứng cho phát triển của địa phương, của vùng và xuất khẩu lao động ra nước ngoài; tăng cường công tác thu ngân sách trên địa bàn, từng bước cân đối thu chi của tỉnh, phấn đấu có đóng góp cho ngân sách trung ương.

Đồng thời, tập trung nguồn lực đầu tư của ngân sách nhà nước, cũng như các nguồn đầu tư, xã hội hóa để xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của vùng Bắc Trung bộ. Xây dựng khu du lịch Cửa Lò để Cửa Lò, TP Vinh và Nghĩa Đàn thành tam giác kinh tế động lực, trục tăng trưởng của tỉnh từ nay đến 2020 và những năm tiếp theo.

 

    Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị, số 26 NQ, TW; Phương hướng, nhiệm vụ, phát triển kinh tế Nghệ An đến 2020, ngày 30/7/1913.
  2. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2013 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2014
  3. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2013 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2014
  4. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2014 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2015
  5. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2015 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2016
  6. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An năm 2016 và kế hoạch phát triển KT- XH năm 2017
  7. Nghị quyết số 32 của HĐND kỳ họp thứ 3 tỉnh Nghệ An về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 .

 

 

 

 

 

 

 

* PGS.TS - Khoa Kinh tế , trường Đại học Vinh

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
Nghệ An cần tập trung phát triển chợ đầu mối (20/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển thương mại - dịch vụ Nghệ An đến năm 2020, định hướng 2025 (20/8/2018)
Nghệ An cần làm gì để khoa học - công nghệ thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển mới? (15/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển khoa học và công nghệ Nghệ An đến năm 2030 (15/8/2018)
Các bài văn cúng thông dụng của người xưa (13/8/2018)
Hội thảo Hình thức trình bày Tạp chí theo chuẩn quốc tế (8/8/2018)
Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận và khung phân tích về biến đổi văn hóa, quản lý Nhà nước về văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam (8/8/2018)
Hội thảo phát triển nguồn nhân lực và xây dựng con người văn hoá Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển (6/8/2018)
Hội thảo khoa học “Giải pháp ứng dụng tri thức bản địa của người Thái vào phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An” (10/7/2018)
Hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An (29/6/2018)
Hội thảo khoa học: Phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An (22/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,117 | Tất cả: 1,422,217
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp