KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Cách mạng tháng Mười - Văn học Xô Viết và văn học Việt Nam
Tin đăng ngày: 31/10/2017 - Xem: 1465
 

GS. Phong Lê

 

 

Upload

Lê nin và phong trào cách mạng Nga

Một hình dung cụ thể về kết quả mối quan hệ và giao lưu văn học Xô viết và văn học Việt Nam trước và sau 1945 - đó là sự tiếp tục những thành tựu hiện đại hóa đã được khơi nguồn từ trước 1945, mà văn học Nga cổ điển có đóng góp một phần, trong tư cách là một nền văn học lớn phương Tây, qua một vài đại diện còn ít ỏi, như L. Tônxtôi, F. Dostoievski, A. Tsê-khôp, M. Gorki,...

Từ sau 1954, do tình thế chiến tranh và đất nước bị chia đôi, nên việc tiếp nhận văn học Xô viết diễn ra có khác nhau trên hai miền Bắc và Nam. Ở miền Nam thì ngoài L. Tônxtôi và Dostoievski văn học Nga Xô viết chỉ có một vị trí khiêm nhường; và do khuynh hướng bài Xô và chống Cộng nên chỉ tiếp nhận các tác giả “có vấn đề”, tức là những người không thuận, hoặc đi ngược với khu vực chính thống như B. Pastecnac, Xôngiênhitxưn... Còn ở miền Bắc, gắn nối trực tiếp với trào lưu văn học cách mạng trước 1945; trên cơ sở các chuyển đổi trong ý thức hệ và quan điểm nghệ thuật chống lại “thế giới cũ”, và trong cuộc chiến giữa hai phe; văn học Xô viết - ở khu vực chính thống của nó đã trở thành ngọn cờ, thành mục tiêu, thành điểm tựa cho nền văn học Việt Nam mới, đang phấn đấu vượt lên và thoát khỏi các ràng buộc không chỉ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các tàn dư phong kiến, mà còn với cả hệ ý thức tư sản và tiểu tư sản, nhằm kiên định lập trường vô sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bởi, với thế giới các dân tộc bị áp bức thì con đường duy nhất cho sự nghiệp giải phóng, phải và chỉ là con đường Cách mạng tháng Mười. Là “Mãi mãi đi theo con đường Cách mạng tháng Mười...”, hoặc “Con đường Lênin”... như một khẩu hiệu quen thuộc trong các dịp kỷ niệm hàng năm, vào 7 tháng 11 - ngày chính quyền Sa hoàng sụp đổ.

Trong định hướng tiếp nhận như thế, những tên tuổi kinh điển gồm những người khai sáng văn học Xô viết, được xếp ở hàng đầu, đó là Gorki, Maiacopxki, Xêraphimôvitsơ, Phuôcmanôp, Gơlatcôp, Otxtơropxki, Solokhov, A. Tônxtôi.

Nếu hiểu lịch sử nhân loại là lịch sử đấu tranh giai cấp, văn học là một hình thái ý thức xã hội, và tính chiến đấu là đặc trưng cơ hữu của văn học cách mạng, thì sự hình thành của nền văn học mới, văn học cách mạng bao giờ cũng phải gắn với một cuộc cách mạng văn học, tức là sự đoạn tuyệt với “thế giới cũ”. Một sự nghiệp như thế cần đến những người khai phá; và một thời rất dài, kể từ khi hình thành nền văn học vô sản ở Việt Nam, người đứng đầu của đội ngũ khai sáng ấy, là Gorki - tác giả của tiểu thuyết Người mẹ, của kịch Dưới đáyNhững kẻ thù; của bộ ba tự thuật; của những truyện ngắn đánh thức những khát vọng cao cả ở con người, như Đancô, Bài ca chim báo bão; của sự khẳng định con đường hình thành và suy vong của giai cấp tư sản, như Phôma Gocđêep, Gia đình Actamônốp; của thái độ phê phán quyết liệt những mặt bạc nhược của con người cá nhân tiểu tư sản qua “lịch sử của một tâm hồn trống rỗng” như trong Cuộc đời Klim Sangghin(1) cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất vào cuối đời... Tác gia lớn Gorki còn là ông tổ của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, với Diễn văn tại Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ nhất - 1934, qua bản dịch tiếng Pháp đã đến với giới trí thức Việt Nam từ giữa những năm 1930; và từ 1960, là bản dịch tiếng Việt của Hoài Thanh, với Lời mở đầu, khẳng định - Gorki - “qua bản báo cáo này là hình ảnh một vĩ nhân đứng trên bậc cửa rất cao của cuộc đời mới nhìn sâu đến những chỗ tận cùng thời tiền sử, nhìn suốt xưa nay và chỉ đường đi tới”(2).

Trong tư cách là người sáng lập nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, những bài báo, bút chiến, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác của Gorki cũng được giới thiệu từ rất sớm, về sau được tập hợp qua Gorki - Bàn về văn học - 2 tập (Nxb. Văn học; 1965; tái bản; 1970) trong đó có những bài được giới trí thức - nhà văn chúng ta xem như cẩm nang để học tập, và luôn luôn được trích dẫn - như Tôi đã học viết như thế nào? Tôi viết như thế nào? Hoặc Các ông đứng về phía ai, những bậc thầy văn hoá?... Một Gorki trong suốt, kiên định như kim cương và rất vững tin về con đường mà nền văn học Xô viết đã chọn, và được khởi động từ ông, qua Người mẹ (1905). Nhưng bên cạnh những phẩm chất đó, vẫn còn một Gorki khác - đa diện và phức tạp, vừa thuận vừa không thuận với cách ứng xử của bộ máy quyền lực; đáng tiếc là các phẩm chất mới này ở Gorki, phải đến thời cải tổ mới được phát hiện trong tập sách Những tư tưởng không hợp thời(3) . Với cuốn sách này, Gorki không còn là một chân dung nguyên phiến đơn giản trong tư cách một nghệ sĩ vô sản mà là một chân dung vạm vỡ, lực lưỡng của một nhân cách văn hóa lớn, mà người đọc và cả giới Xô viết học ở Việt Nam, không dễ và không thể tiếp cận, khi Việt Nam còn đang trong hoàn cảnh chiến tranh, kể cả khi đã đến gần với công cuộc Đổi mới, mà Liên Xô chưa tiến hành công cuộc Cải tổ. Còn nhớ, từ đầu những năm 1970, ở Liên Xô, Viện sĩ Maccôp đã nói đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một “hệ thống mở”, nhưng luận đề này phải đến đầu những năm 1980 mới được giới lý luận Việt Nam biết đến và giới thiệu.

Tóm lại lý thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, với các vấn đề liên quan đến nó như tính đảng, nhân vật tích cực - và con người mới của thời đại, âm điệu lạc quan, sự khẳng định thế tất thắng của cách mạng rất cần được xem là những thành tố cần thiết và hoàn chỉnh cho việc xây dựng một nền văn học mới; và tất cả những điều đó, qua sự triển khai của giới lý luận, đều có thể tìm minh chứng trong toàn bộ sự nghiệp của Gorki, tác giả chiếm vị trí hàng đầu trong lịch sử tiếp nhận ở Việt Nam trước và sau 1945.

Cùng với Gorki, còn là một đội ngũ các chiến hữu đến sau ông, trong sứ mệnh xây dựng nền văn học Xô viết sau Cách mạng tháng Mười; với những tác phẩm đã trở thành kinh điển như Suối thép của Xêraphimôvits, Tsapaev của Phuôcmanốp, Xi măng của Glatkov, Con đường đau khổ của A. Tonxtôi, Thép đã tôi thế đấy của Otxtơropxki, và Sông Đông êm đềm của M. Solokhov...

Những tác phẩm trên đã sớm có mặt trong đời sống văn học và trong sự đón đợi của bạn đọc Việt Nam ngay từ sau 1945.

Ở hình ảnh “suối thép”, đó là khối sức mạnh dời non lấp biển của quần chúng, trong các chuyển động lịch sử nhằm phá vỡ thế giới cũ. Còn Tsapaev và Paven Korsaghin là biểu tượng con người mới của thời đại với tính phức tạp nhưng không khó hiểu về sự kiên định lý tưởng cách mạng là giải phóng giai cấp và giải phóng loài người. Trong Xi măng, là sự hình thành cuộc sống mới trong bề bộn những khó khăn do sự chống chọi của thế giới cũ và những tập quán cũ. Còn Con đường đau khổ là con đường của giới trí thức Nga trong chọn lựa giữa Tổ quốc và Cách mạng; một chọn lựa rất gay gắt, bởi chính tác giả của nó cũng đã phải trả giá bằng dăm năm lưu vong ở nước ngoài; và dẫu sự phân thân thành hai phía, gây ra bao đổ vỡ và đau khổ tinh thần cho con người, thì lòng tin và kết quả của sự dấn thân vẫn là một kết thúc có hậu “Đầm mình trong ba thứ nước. Tắm trong ba dòng máu. Nấu trong ba lần thuốc tẩy. Ta trong sạch hơn cả những người sạch nhất” (Đề từ tập II Con đường đau khổ: Năm mười tám). Và Sông Đông êm đềm, bức tranh bi tráng và hoành tráng nhất cho cả một thời nước Nga cách mạng - và nội chiến, qua số phận một gia đình, một vùng quê Tác ta, một giải đất sông Đông của người Cô dắc, nhờ vào tên tuổi Solokhov bỗng trở nên bất tử.

Những tác phẩm trên đã đem đến cho bạn đọc Việt Nam, cho đời sống tinh thần Việt Nam một khí hậu mới, giúp cho thấy rõ về sự gian khổ của cuộc đấu tranh giữa hai thế giới; và để cho thế giới mới được ra đời nhất thiết phải có sự sinh thành của con người mới - và đó chính là chất men say, sức hấp dẫn đến từ Người mẹThép đã tôi thế đấy. Hai nhân vật có cùng họ Paven gần như đã trở thành biểu tượng, là hiện thân cho một sự sống vượt ra ngoài khuôn khổ của mọi khái quát nghệ thuật. Rất nhiều thế hệ trẻ, trong đó không chỉ là những người say mê đọc văn hoặc có hứng thú viết văn, đã ghi vào sổ tay phương châm sống của Paven Korsaghin: “Cái quý nhất của con người là sự sống. Đời người ta chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, để đến khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói rằng: tất cả đời ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”. Quả là, những ai đã hiểu thế nào là xã hội cũ, đã từng biết hoặc tiếp xúc với những ông chủ thực dân, phong kiến; hoặc đã sống một tuổi trẻ trong chiến tranh, hẳn không ai không thấy trong câu nói của Paven Korsaghin như chất muối cần cho cơ thể mình, và thế hệ mình. Trong trang đầu cuốn Nhật ký ghi vào năm 1968, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã nắn nót chép những dòng này. Điều thật đáng cảm động là một thế hệ như Đặng Thùy Trâm đã sống đúng như Paven - người anh hùng thời nội chiến Liên Xô, cũng là hóa thân của chính tác giả.

Thời của các tên tuổi đã kể trên, theo giới nghiên cứu văn học Nga là thời của Thế kỷ Bạc - thời kỳ phát triển cao và sâu của văn học cổ điển Nga, với các tên tuổi lớn như: Platonov, Bungacop, Akhmatôva, Êxênhin... Đáng tiếc là những tên tuổi này đã không thể đến sớm với bạn đọc Việt Nam. Bởi Cách mạng tháng Mười, và sau đó, cách ứng xử của giới lãnh đạo đối với thế hệ này, đã như là một nhát cắt, khiến cho sự phát triển bị ngưng lại; và nhiều người trong họ đã không tiếp tục được sự nghiệp viết của mình, trong đó có Mandenxtam, bị thanh trừng vào năm 1938 - người đã có những tiên đoán về Nguyễn Ái Quốc, từ năm 1923.

Dĩ nhiên nói giao lưu còn là nói đến sự chọn lựa - văn học Việt Nam đã chọn lựa những gì cần thiết cho mình, và với những tên tuổi kể trên của văn học Xô viết, văn học Việt Nam đã tìm được một khuôn mẫu, hoặc một bổ sung cần thiết cho việc khẳng định lý tưởng và niềm tin của mình và dân tộc mình, kể từ Cách mạng tháng Tám; và xa hơn, kể từ khi Nguyễn Ái Quốc tìm đường đến phương Tây, trước là Pari, và sau là Matxcơva - quê hương Cách mạng tháng Mười.

*   *   *

Sau thế hệ khai sáng nền văn học mới, quan hệ văn học Xô viết và văn học Việt Nam còn được mở rộng và củng cố thêm bởi thế hệ những tác gia viết về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại để giải phóng Liên Xô, giải phóng châu Âu và tạo nên cục diện mới của thế giới sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc.

Trong số các tác giả sớm đến và chiếm vị trí cao trong sự đọc của người Việt Nam, và trở thành kiểu mẫu cho người viết Việt Nam trong chiến tranh trước hết phải nói đến Solokhov, Ximônôp, Fadeev, Erenbua, Polêvôi...

Solokhov viết Họ chiến đấu vì Tổ quốc, Khoa học căm thù trong chiến tranh, và Số phận một con người sau chiến tranh. Trong khoảng cách trên mười năm, Việt Nam vừa kết thúc chống Pháp lại chuẩn bị bước vào chống Mỹ. Do vậy bài học mẫu mực về Số phận một con người ở một người viết bậc thầy là Solokhov, trong một tuyệt tác có số trang cực ngắn mà bao chứa một khái quát rất sâu về số phận của nhân dân, qua “số phận một con người”, với bi kịch được đẩy đến độ tận cùng, chưa thể được tiếp nhận trọn vẹn, khiến cho, nếu bản dịch Số phận một con người lần đầu tiên đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1957 được nồng nhiệt đón nhận, thì phim Số phận một con người, cùng với các phim khác như Người thứ 41, Bài ca người lính, Đàn sếu bay qua vào đầu những năm 1960 lại gây lo lắng cho giới lãnh đạo; và ít lâu sau bị gom vào cùng một bị với các tác phẩm chịu ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại mà bất cứ người viết Việt Nam nào cũng phải lưu tâm cảnh giác (tiếc là sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, một số người viết cũng đã bị lâm nạn vì sự tiếp xúc với “chủ nghĩa xét lại” vào lúc này). Thế nhưng tác giả Sông Đông êm đềmĐất vỡ hoang là một tên tuổi quá lớn, không chỉ “thuộc về nền nghệ thuật Xô viết mà còn là thuộc toàn bộ nền văn hóa nhân loại” (Bôndarep); là người đã nói một câu nổi tiếng làm vinh quang cho Đảng và tính Đảng: Tôi viết theo chỉ thị của trái tim, mà trái tim tôi thì thuộc về Đảng, nên Số phận một con người vẫn giữ nguyên giá trị của nó, như một bi kịch lạc quan sâu sắc nhất; có ý nghĩa soi sáng cho các thế hệ viết về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam. Tôi nghĩ: có lẽ không có tác giả nào viết về chiến tranh, từ sau thập niên 1980 ở Việt Nam mà không ao ước viết được một tác phẩm ngắn mà có độ nén của cảm xúc và chất liệu tuyệt vời đến thế.

Ximônốp là tác giả sớm đến với bạn đọc Việt Nam qua bản dịch Đợi anh về nổi tiếng của Tố Hữu. Một bản dịch thật đẹp trong sự giản dị và thân thương của lời Việt - đã diễn tả thật đúng và thật trúng tâm trạng không phải chỉ người lính ở chiến trường, mà là cả một dân tộc trong khăng khít gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương, trước hết là những người vợ, người mẹ không lúc nào không mong người chồng, người con rồi sẽ trở về. “Đợi anh, anh sẽ về!” - một niềm tin ngỡ như duy tâm, thế mà ai đọc cũng muốn được tin tưởng. Ximônốp từng được biết như là tác gia lớn của văn học Xô viết về chiến tranh, với những tiểu thuyết đặc sắc như Ngày và đêm, viết trong chiến tranh, và bộ tứ: Bạn chiến đấu, Những người sống và những người chết, Người ta sinh ra không phải đã là lính, Mùa hè cuối cùng viết sau chiến tranh. Ông còn là người lãnh đạo Hội nhà văn Liên Xô, nhiều lần sang thăm Việt Nam, có tình bạn với nhiều tác giả Việt Nam; nhưng chỉ cần một Đợi anh về đủ để đưa ông vào tên tuổi những người bạn thân thiết nhất với văn học Việt Nam.

Phađêep - nổi tiếng với Chiến bại viết thời nội chiến, càng được đón nhận với bạn đọc Việt Nam trong chiến tranh qua bộ ba Đội cận vệ thanh niên, bởi sự khai thác chất liệu anh hùng trong đời thực - người thực - việc thực. Chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh ở Liên Xô, cũng như ở Việt Nam là hiện thực một trăm phần trăm, bởi đó là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ phẩm giá làm người. Và Phađêep đã không bỏ phí những chất liệu mình có để đưa vào cấu trúc tiểu thuyết một tác phẩm xứng đáng với tầm vóc của sự kiện, và với những con người xứng đáng được tôn vinh. Ở tư cách tác giả, Phađêep là thuộc số người được biết sớm và được yêu mến trong bạn đọc Việt Nam, kể từ Chiến bại; nhưng còn trong tư cách người lãnh đạo cao nhất của Hội nhà văn Liên Xô, với bi kịch dẫn tới cái chết - tự sát, năm 1956, thì phải đến thời Cải tổ mới được hiểu - để thấy số phận thật nghiệt ngã đối với những nhà văn có phẩm cách và lương tâm trung thực.

Nói đến Đội cận vệ thanh niên của Phađêep lại không thể không nói đến Người chân chính của B. Polêvôi, cùng khai thác chất liệu là cuộc đời và chiến công của những người anh hùng. Với Polêvôi, đó là anh hùng phi công Maretxép; và qua Maretxép là chiến công chung của tất cả những anh hùng có tên hoặc không tên, trong tên gọi chung là Người Xô viết, như tên một tập truyện khác: Người Xô viết chúng tôi, của cùng tác giả, được dịch từ rất sớm ở Việt Nam, và được in lại nhiều lần, khiến cho Pôlêvôi luôn luôn là cái tên quen thuộc đối với bạn đọc Việt Nam. Phải nói là bạn đọc và người viết Việt Nam trong chiến tranh đã rất hào hứng với việc đón nhận nội dung và cách viết của Polêvôi trong tư cách phóng viên chiến tranh, biết tìm đến những tấm gương tiêu biểu, vừa là để ghi nhận chiến công của họ, vừa là với ý nguyện nhân rộng ra sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng, trong một cuộc chiến rất cần đến chủ nghĩa anh hùng để giành chiến thắng trước mọi kẻ thù, và trong mọi thử thách của hoàn cảnh.

Có lẽ chính vì yêu cầu lớn lao và bức xúc đó của cuộc sống, và do ảnh hưởng trực tiếp của văn học Xô viết mà văn học Việt Nam 1945-1975 đã rất được mùa trong dòng viết người thực - những anh hùng có thực, bắt đầu từ các ghi chép ngắn Em Ngọc, Trần Cừ, và những anh hùng chiến sĩ thi đua trong Giải thưởng văn nghệ 1951-1952, đến Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Sống như Anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi... Một dòng viết tìm được cảm hứng chung với các tác giả của Tsapaep, Đội cận vệ thanh niên, và Người chân chính..

Êrenbua, theo tôi nghĩ có lẽ là tác giả được đọc nhiều trong giới trí thức Việt Nam, bởi tư chất một nhà văn hóa, nhà chính luận, nhà báo, nhà tiểu thuyết... Là tác giả những bài báo mà Hồng quân Liên Xô được lệnh phải giữ gìn và chuyền tay, chứ không được xé ra để hút thuốc, tùy bút của Êrenbua, như trong Thời gian ủng hộ chúng ta không chỉ quen thuộc, mà còn là được “thuộc” trong giới bạn đọc trẻ tuổi Việt Nam một thời. Chạm vào cõi thiêng là lòng yêu nước, tôi nghĩ không ít người đọc thuộc thế hệ tôi ít ai không thuộc đoạn văn đi tìm một định nghĩa cụ thể cho lòng yêu nước ở Êrenbua - đó là “lòng yêu những gì bình thường nhất. Yêu cái cây trồng ở trước nhà. Yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông. Yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh...”. Cảnh là cảnh Nga, nhưng cũng chẳng có gì là xa lạ với chúng ta. Chỉ cần thay đổi tên sông, tên phố, tên cây lá, tên các địa danh là đã có thể xem đó là áng văn cho mình, của người nước mình... Êrenbua trong Con người - năm tháng - cuộc đời - một tùy bút thật khoáng đạt mà sâu sắc trong ý tưởng, ai tiếp xúc mà không thấy mình “vỡ ra” hoặc “khôn” hơn lên một chút. Rồi Cơn bão táp - cũng với tầm vóc hoành tráng như Mùa xuân trên sông Ô đe của Kazakiêvit, viết về cuộc chiến chống phát xít trên một không gian rộng gồm gần khắp địa bàn châu Âu, với số phận chìm nổi hoặc bi kịch của nhiều lớp người... Tôi nghĩ, mùa gặt đầu tiên trong văn xuôi Việt Nam vào mở đầu những năm 1960 với những tiểu thuyết nhiều tập như Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng (mới có tập I), Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi (2 tập), Cửa biển của Nguyên Hồng (3 tập), Bão biển của Chu Văn (2 tập)... dường như đều có dấu ấn ảnh hưởng bởi những bộ ba như Cơn bão táp...

Thuộc số các nhà văn Xô viết đến với văn học Việt Nam trong chiến tranh, và để lại dư âm khá sâu nơi ký ức người đọc, đó còn là Pautopxky trong Bông hồng vàng, Bình minh mưa, và những truyện ngắn gợi rất nhiều bâng khuâng về những gặp gỡ thật ngẫu nhiên trong đời, về những gì có thể xẩy ra không ngờ mà như đã được chuẩn bị. Những truyện ngắn mở rộng không gian cho biết bao ước mơ, suy tưởng khiến cuộc đời trở nên rất đáng sống. Có thể nói nếu có một chất thơ đích thực nhưng khó nắm ở đời thì Pautovski chính là bậc thầy cao nhất để nhận ra và lưu giữ được nó, khiến cho mỗi chuyện đời bình dị qua ông bỗng trở nên lung linh một áng cổ tích, như trong Tuyết, Cô gái làm ren, Lẵng quả thông... Với         Pautovski, hoặc với Prisơvin, Olga Becgon... bên cạnh Sôlôkhôp, Êrenbua, đó là những phong cách rõ nét đứng bên nhau, chứ không phải với trật tự lớn nhỏ, trước sau. Một âm hưởng hoặc dư vị Pautovski - dường như là có nguồn mạch trong văn học hiện đại Việt Nam, kể từ Thạch Lam, Hồ Dzếnh... đến Đỗ Chu, Nguyễn Ngọc Tấn, Lưu Quang Vũ...

Bối cảnh hoành tráng, chất sử thi hòa quyện với trữ tình, các kiểu xung đột giữa các thế lực đối nghịch hoặc giữa cá nhân và hoàn cảnh rất dồi dào trong văn học Xô viết, cùng với chất lạc quan trong bi kịch của nó đã tìm được sự đón nhận và gieo cấy trong văn học Việt Nam. Những gì làm nên đặc trưng và phẩm chất của văn học Việt Nam 1945-1975 trong phần ưu việt của nó đều có sự bắt nguồn từ văn học Xô viết, qua một số đại biểu như trên.

Tất nhiên, bi kịch con người trong chiến tranh, rộng ra, trong mọi chuyển động của thời cuộc, hoặc bao trùm là cõi nhân sinh; những “con đường đau khổ”; những dằn vặt tinh thần trong xác định hướng đi và đến cho cuộc đời - nó là đề tài muôn thuở của văn học, đã và sẽ được viết theo nhiều cách khác nhau và với tài năng không ai giống ai. Thế nhưng nếu văn học Việt Nam đã hào hứng tiếp nhận bộ ba Con đường đau khổ của A. Tonxtôi, thì lại không thể đón nhận Bác sĩ Zivagô của B. Pastecnac ngay sau khi tác phẩm vừa ra đời; và đó cũng là một hiện tượng đáng lưu ý, trong sự phát triển đầy mâu thuẫn và nghịch lý của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở chính quê hương của nó trong hơn nửa thế kỷ tồn tại...

Đón nhận những tác phẩm viết về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Liên Xô trong chiến tranh Vệ quốc, văn học Việt Nam 1945-1975 đã tìm được một kho “của” dồi dào và một kiểu mẫu quý giá để xây dựng những tác phẩm mang âm hưởng anh hùng, xứng đáng với một thời vẻ vang và khốc liệt bậc nhất của dân tộc. Chúng ta đã hướng về văn học Xô viết để tìm bạn, tìm đồng chí, và cả những bậc thầy cho mình. Nhưng khi cuộc chiến đấu ở Việt Nam diễn ra khốc liệt nhất thì Liên Xô đã có hòa bình sau mười năm, rồi hai mươi năm, và ba mươi năm. Liên Xô đã bước vào nhiều kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi chủ nghĩa xã hội phát triển, để thành một cường quốc về kinh tế và quân sự. Để đóng vai trò đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa. Để với quyết tâm đi lên chủ nghĩa cộng sản... Do vậy, những kinh nghiệm về phát triển kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất, tổ chức xã hội, cách mạng khoa học kỹ thuật, và đấu tranh tư tưởng... đặt ra trong các tác phẩm đều được chúng ta tiếp nhận như là những mô hình gương mẫu để vận dụng. Trong số những tác phẩm viết về cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội được dịch, qua chọn lọc, cho hợp với yêu cầu của ta, có thể kể ở hàng đầu, đó là Đất vỡ hoang (3 tập) của Solokhov, Mùa gặt (3 tập) của Nicôlaiêva, Kỹ sư Lôbanốp của Granin, Rừng Nga của Lêônôp, Xa Mạc Tư Khoa của Ajaép, Chuyện thường ngày ở huyện của Ôvetxkin (“Chuyện thường ngày ở huyện” đã trở thành cách nói quen thuộc, phổ thông ở ta từ sau khi có cuốn sách này)... Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1945-1975, hoặc nói đúng hơn từ 1960-1975, là chủ nghĩa xã hội chỉ diễn ra trên một nửa đất nước, và trong hoàn cảnh chiến tranh, nên bức tranh về nó, trong tất cả các góc khuất của nó, không dễ được phát hiện, và do thế chưa thể là một diện mạo trọn vẹn; càng không có độ sâu của những tìm kiếm và phát hiện những gì là bắt chước, là giáo điều, và sai quy luật... Nếu có manh nha một ít tìm kiếm ở các góc khuất này thì rồi dễ rơi vào “tai nạn”, như Võ Huy Tâm, Nguyên Ngọc, Hà Minh Tuân, Nguyễn Tuân trong văn. Như Lý Phương Liên, Việt Phương, Ngô Văn Phú, Phạm Tiến Duật trong thơ. Như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải trong kịch(3)... Không kể những “vụ” lớn như Nhân văn - Giai phẩm, hoặc “xét lại”... Cái chủ nghĩa xã hội đậm đặc ý chí luận được áp dụng từ mô hình Liên Xô và toàn phe này rồi sẽ được nhận diện và sửa sai sau khi chiến tranh kết thúc ngót mười năm; cùng lúc với sự nghiệp Cải tổ ở Liên Xô, khiến cho không ít kiểu mẫu trong khu vực chính thống, các giải thưởng lớn nhỏ từng được giới thiệu rất sớm và đề cao ở Việt Nam hầu như đều bị giảm nhẹ giá trị; và công phát hiện gắn với những tiên tri về con đường đi của lịch sử đã phải trả lại cho những tên tuổi bị quên lãng hoặc vùi dập trong nhiều chục năm như Bungacôp, Platônôp, Grôtxman, Patxternac, Xôngiênhitxưn... những tên tuổi chưa một lần cho bạn đọc Việt Nam được làm quen, thậm chí có người còn bị “đánh hôi” trong văn học miền Bắc trước 1975.

Đã và vẫn cần tiếp tục ghi nhận một danh sách dài những tác gia Xô viết đến với văn học Việt Nam sau 1975, rồi những năm 1980. Những tác gia lớn của văn học Nga, như Bêlov, Bưcốp, Abramov, Vassiliev, Astaphiev, Bondarep, Baklanov, Zalưghin, Sucxsin... bên cạnh những tác gia đặc sắc của các dân tộc nhỏ khác trong Liên bang Xô viết như Aimatov, Gamdatov, Dumbatzê,... Bạn đọc và văn học Việt Nam trong những năm Đổi mới đã có dịp đón làn gió mới của sự nghiệp Cải tổ với biết bao sự thật được phát hiện mới, hoặc được nhìn nhận lại, để cho sự vật được trở về với gương mặt đích thực của nó. Nhưng đó là chuyện của một giai đoạn mới; và với nó, văn học Việt Nam cũng tiếp tục nhận được những chỉ dẫn và kinh nghiệm từ văn học Nga Xô viết để giúp cho sự nhìn nhận lại chính bản thân mình.

*   *   *

Ba mươi năm (1945-1975), và kéo dài thêm một ít cho đến hết thập niên 1980, trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, văn học Xô viết đã đóng vai trò thật là tích cực cho sự hình thành một nền văn học Việt Nam mới, chọn con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu theo đuổi. Do mô hình hiện đại, trên tiến trình hiện đại hoá, để chuyển văn học Việt Nam từ trung đại sang hiện đại đã thực hiện xong trong khoảng trên dưới ba mươi năm trước 1945, với vai trò hàng đầu của văn học Pháp, nên từ sau 1945, trên đường ray đã có, văn học Việt Nam cần tiếp tục một chọn lựa mới; một chọn lựa tuỳ thuộc vào sự chọn lựa về thể chế chính trị, về nền tảng kinh tế, về hệ tư tưởng, về mô hình lý luận và sáng tác... Và lịch sử đã sắp xếp cho dân tộc và văn học dân tộc Việt Nam đi theo quỹ đạo Liên Xô. Và do vậy, những dấu ấn mà nền văn học Xô viết đa dân tộc ở Liên Xô để lại cho văn học Việt Nam, trong phần tích cực của nó là không nhỏ. Bên cạnh đó, do có độ lùi thời gian, và trên các sự kiện đã diễn ra đưa tới sự đổ vỡ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, ta cũng sẽ không quên những giá trị lớn, nằm trong cái phần thiếu, phần khuất còn chưa được biết đến, do hoàn cảnh chiến tranh hoặc do một cách nhìn chật hẹp khó tránh ở ta; và do chính những vận động nội tại, với rất nhiều nghịch lý, mâu thuẫn bên trong bản thân văn học Xô viết để cho sự vật cuối cùng đã được hiện ra trong diện mạo đích thực của nó, và cuộc sống được phát triển thuận theo quy luật.

 

Chú thích

(1). Tất cả các tên sách trên, trừ tiểu thuyết Cuộc đời Klim Sanghin, đều có bản dịch tiếng Việt.

(2). Văn học Xô Viết, Nxb. Văn học, 1960, tr.5.

(3). Tên cuốn sách tập hợp những bài Gocki viết, đăng trên Báo Đời sống mới trong các năm 1917-1918, mới được in lần đầu năm 1990.

Khám phá xứ Nghệ An khác:
30 năm hải chiến Gạc Ma, Trường Sa: Tháng Ba khắc khoải (14/3/2018)
Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: Ảnh hưởng quốc tế và hoạt động ngoại giao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (1/3/2018)
KH&CN Nghệ An - Dấu ấn năm 2017 (19/12/2017)
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Phan Bội Châu (26/12/1867-26/12/2017): Phan Bội Châu trong lịch sử và văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX(1) (19/12/2017)
Tình hình nghiên cứu về Phan Bội Châu ở nước ngoài từ trước tới nay (4/12/2017)
Cách mạng tháng Mười - Văn học Xô Viết và văn học Việt Nam (31/10/2017)
Những cảm nhận sâu sắc, những mối tình bền chặt (5/10/2017)
Tuyên ngôn độc lập 1945 - Những giá trị về quyền con người và quyền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam (7/9/2017)
Những năm tháng "Ăn cơm nhà, làm việc nhà" trên đất bạn (7/9/2017)
Ghi chép của người 6 lần được gặp Bác Hồ (3/7/2017)
Một số luận điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần (3/7/2017)
Biết bao nhiêu tình... (3/7/2017)
Về vấn đề "Một nước hai chế độ" của Trung Quốc (3/7/2017)
Viết nhân ngày sinh lần thứ 127 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (23/5/2017)
VĂN HỌC TRONG HAI CUỘC CHIẾN TRANH VÀ MỘT ĐỘI NGŨ NHÀ VĂN CẦM SÚNG (31/3/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,362 | Tất cả: 1,422,462
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp