THÔNG TIN - TƯ LIỆU
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông
Tin đăng ngày: 6/10/2017 - Xem: 468
 

Bùi Văn Chất

 Đền Cuông, đền thờ An Dương Vương, vị vua, cách nay hơn 2.250 năm về trước, đã lập lên nước Âu Lạc, dựng kinh đô Phong Khê, xây thành Cổ Loa kiên cố. Vì không tỉnh táo trước âm mưu thâm độc của bọn bành trướng phương Bắc nên An Dương Vương đã sa cơ.

 “Vương đế ngũ thập niên, công tại sinh linh, danh tại sử:…” (câu đối Đền Cuông - Cao Xuân Dục).

Sự nghiệp của Thục Vương kéo dài 50 năm, khởi đầu từ năm 218 TCN, khi các lạc tướng suy tôn là vị lãnh tụ. Kháng chiến thắng lợi, Thục Vương nắm trọn quyền uy, dốc sức dựng cơ đồ đại nghiệp. Thế nhưng, lại kết thúc một cách bi thảm vào năm 208 TCN, tại nơi, mà Le Breton, theo cách gọi của dân gian xứ Nghệ, gắn địa danh với nhân vật/sự kiện: “Bến An Dương”.

 “Bến An Dương”, xưa là Cửa Hiền, bị bồi lấp từ lâu, nằm ở phía Đông Nam đền thờ An Dương Vương, nay thuộc xã Nghi Yên, Nghi Lộc. Trên sườn núi cận kề đường 1A là tòa miếu cổ kính nguy nga, một di tích văn hóa lịch sử lâu đời, dựng lên từ ngàn năm trước. Đây là khu rừng thiêng, thỉnh thoảng nhiều chim cuông tới múa, nên mới có tên Núi Cuông. Do sự tàn sát của người dân mà nơi đây, từ nửa cuối thế kỷ 20, vắng bóng loại chim này. Tuy nhiên, trong tiềm thức dân gian: Cánh chim cuông, móng rùa thần, lông ngỗng, sừng tê giác… vẫn còn in đậm nét như Thành Ốc - Đền Cuông… từng lưu giữ trong lòng nó “Công lao - Đức nghiệp An Dương” cùng truyền thuyết và những trang sử chép về Tiên Vương. Bởi vậy, mỗi khi trông lên đỉnh Núi Dạ chiêm ngưỡng Đền Cuông, hoài niệm tích xưa, hỏi,  lòng ai lại không khỏi băn khoăn xao xuyến?                                              

“Bờ biển La Nham vách núi cao       

Nỏ thân khởi họa tự năm nao  

Diễn Châu đường cái đà phai gấm

Mộ Dạ đền thiêng vẫn sáng sao   

Mặt biển, mênh mông tê rẽ nước         

Bên rừng, thi thoảng hạc khoe

Hoang đường ngoại sử không tin

Ra cổng, ghìm cương, dạ xuyến xao..” 

(Thơ Bùi Huy Bích: Qua Dạ Sơn nhớ chuyện xưa trong Nghệ An ký -  Mục từ Dạ Sơn -  BVC dịch).  

Góp phần lưu giữ hồn cốt uy linh thiên bi sử của thời mở nước và ngợi ca cảnh trí “Cổ miếu Danh sơn” còn có mảng “Văn bia, Câu đối ở Đền Cuông”. Nhưng  tiếc là  phần  diễn dịch, theo như  trên các sách hiện nay, có  chỗ  cần được khảo đính.  Đó là Hai bản dịch Văn  bia số I  gồm: Một bản do Trần Nghĩa sưu tầm, diễn dịch,  in  trong cuốn “Cuộc đời và tác phẩm Phạm Hy Lượng”, Nxb. VHTT-1977; Một bản có trong “Văn bia Nghệ An”, Nxb NA-2004, theo cuốn: “Từ Cổ Loa đến đền Cuông” của Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb Nghệ An-1993. Và Một bản dịch Văn bia số II trong “Văn bia Nghệ An” theo bản dịch chép tay lưu giữ tại Thư viện Nghệ An do Đào Tam Tỉnh cung cấp.

 Bia số I:  An Dương từ bi/ ký

Y sao    安陽王祠碑記

我始君曰鴻龐氏猶古之大庭葛天貌乎不可考其表現者惟我王見諸史則龜爪換机鵝毛識路筆載又難盡信聲靈蠁肸寔在演州之夜山祠至扣其祀之始求其祀之由伏臘村翁見聞異辭過郵亭者所以瞻周道而不禁慨然也夫帝牖松雲無煩譽大禹功明德見者思源我王之勳蹟至今為烈乃攷古者典籍無稽自畫籍談亡祖不已傎乎名山古廟石崖天齊幸其有所傳思以廣其傳是(足)在後之覽者.

皇朝嗣德甲戌秋        壽昌范熙亮拜識 (1)

Bản dịch I  do Trần Nghĩa sưu tầm, phiên - chú - dịch.

Phiên: Ngã Việt thủy quân viết Hồng Bàng Thị, do cổ chi đại định Cát Thiên mạc hồ bất khả khảo. Kỳ biểu hiển giả, duy ngã Vương, kiến chư sử, tắc quy trảo hoán cơ, nga mao chí lộ, bút tái hựu nan tận tín, thanh linh hưởng hất thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ. Chí khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phục liệp thôn ông kiến văn dị từ, quá bưu đình  giả sở dĩ chiêm chu đạo nhi bất cấm khái nhiên giã.

Phù Đế dũ Tùng vân vô phiền dự đại; Vũ công minh đức, kiến giả tư nguyên. Ngã Vương chi huân tích chí kim vi liệt. Nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê, tự hoạch tịch đàm, vong tổ  bất dĩ điên hồ?

Danh sơn cổ miếu thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ hữu sở truyền, tư dĩ quảng kỳ truyền, túc tại hậu chi lãm giả.

Hoàng triều Tự Đức Giáp Tuất thu, Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí(1).

Dịch nghĩa: Bài văn bia ở đền thờ An Dương Vương

Vua đầu tiên của nước Việt ta là họ Hồng Bàng, cũng giống như triều đình Cát Thiên(2) của Trung Quốc thời Thượng cổ vậy, xa vời không thể khảo cứu được. Thể hiện rõ ràng chăng, duy có vua An Dương Vương của ta: chuyện đánh tráo lẫy nỏ móng rùa, chuyện rắc lông ngỗng để đánh dấu đường đi, đều thấy chép trong sử sách. Những điều bút ghi tuy khó mà tin hết được, nhưng thanh linh của nhà vua vẫn còn bàng bạc ở đền Dạ Sơn đất Diễn Châu. Tới đây tìm hiểu về gốc gác và lý do thờ tự, dò hỏi những điều tai nghe mắt thấy khác nhau của các vị bô lão trong thôn, khách qua đường nhìn đại lộ mà không khỏi cảm khái.

Kìa đối với các bậc thiên thần, thiên tiên(3) có ca ngợi lắm cũng bằng thừa; công to đức sáng, ai mà chẳng uống nước nhớ nguồn. Vua An Dương Vương của ta huân tích nay vẫn còn hiển hách. Vậy mà các nhà cổ học lại thường lấy cớ sách vở không ghi chép nên gác lại không bàn tới, quên tổ tông chẳng quá lắm sao?

Danh sơn cổ miếu, vách đá ngang trời. May mà sự tích còn truyền, muốn được truyền rộng ra nữa để đời sau biết tới.

Hoàng triều Tự Đức, mùa thu năm Giáp Tuất (1874) Phạm Hy Lượng người Thọ Xương kính viết bài ghi nhớ.                                                                                                       

Bản dịch II:  Văn bia Nghệ An”, Nxb NA- 2004, theo “Từ Cổ Loa đến Đền Cuông”  của Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb NA-1993.

  Phiên: Ngã Việt thủy quân viết Hồng Bàng thị do cổ chi Đại Đình Khát Thiên mạo hồ bất khả khảo, kỳ biểu hiện giả.                                                                                         

Duy ngã vương kiến chư sử tắc quy trảo hiến cơ, nga mao chứng lộ, bút tải vạn nan tận tín, thanh danh ngao tấn.

Thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ chí khấu kỳ tự chi thủy, lai kỳ. Kỳ chi do, Phục Khát  thôn, ông(2) kiến văn dị biện  quá thùy đình sở dĩ chiếm chu đạo nhi bất khả khái nhiên dã.

Phù đế biển tùng văn vô phiền dữ đại vũ công minh đức kiến giả. Tư nguyên ngã vương chi huân trạch chí kim vi liệt nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô trâm tự họa tịch đàm(3) vọng cố bất dị thận hồ.

Danh sơn cổ miếu, thạch nhãn thiên tế. Hạnh kỳ hữu sở truyền tư dĩ quảng kỳ truyền, thị tại hậu chi lãm giả.

 Tự Đức Giáp Tuất trọng đông nhật

Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí(1).

Dịch: “… Vua thủy tổ dân tộc ta thuộc họ là Hồng Bàng, truyền xa xưa từ Đại Đình Khát Thiên, nay chưa xác định được. Riêng vua ta, theo sách truyền, có việc móng rùa thần làm máy nỏ bị tráo đổi, mắc chước rải lông ngỗng chỉ đường. Bút ghi cũng quá sơ lược.

Thực tại hiện có đền ở núi Mộ Dạ - Diễn Châu, đặt lễ thờ phụng từ xưa. Lễ thờ phụng vốn từ thôn Phúc Khát, lời truyền có nhiều phần khác nhau. Tuy nhiên cũng tùy lòng tín ngưỡng của nhân dân, không ai ngăn cấm được. Vả lại, uy đức của nhà vua vẫn tươi xanh như áng mây, như thông rừng, công đức nhà vua thật sáng rạng.

Nhớ nguồn huân nghiệp của Người, đến nay các nhà khảo cứu mỗi lần sao lục điển tích càng gắng tìm tòi cặn kẽ để tỏ lòng tôn sùng đức tổ.

Cảnh danh thắng miếu cổ, núi chạm trời vân thê! Thật là may còn ghi được tích truyền để ngày càng lan tỏa ra các đời sau đặng kính thờ và thăm viếng.

Tiết trọng đông năm Giáp Tuất (1874) đời vua Tự Đức

Thọ Xương Phạm Hy Lương kính soạn(2).

 Bản dịch III: BVC khảo đính, phiên âm, chú, dịch

Phiên: Ngã thủy quân viết Hồng Bàng thị do cổ chi đại đình Cát Thiên mạc hồ bất khả khảo kỳ biểu hiện giả. Duy ngã vương, kiến chư sử tắc quy trảo hoán  cơ, nga mao thức lộ, bút tải vạn nan tận tín. Thanh linh hướng hật. Thực tại Diễn Châu chi Dạ Sơn từ, chi khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phúc lạp thôn ông kiến văn dị từ.  Quá  bưu đình  giả sở dĩ chiêm chu đạo nhi bất cấm khái nhiên dã.

Phu Đế dũ Tùng vân vô phiến dữ đại Vũ công minh đức. Kiến giả tư nguyên.

Ngã vương chi huân tích chi kim vi liệt, nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê tự họa Tịch Đàm vong tố  bất di điên hồ?      

Danh sơn cổ miếu, thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ hữu sở truyền, tư dĩ quảng kỳ truyền,  thị tại hậu chi lãm giả.

Hoàng triềuTự Đức GiápTuất Thu. Thọ Xương Phạm Hy Lượng bái chí (1).

Dịch nghĩa: Văn bia - Đền thờ An Dương Vương

Vua đầu tiên của ta thuộc họ Hồng Bàng(3) tương ứng với thời “Cát Thiên”(4) xa xưa bên Trung Quốc, không thể khảo được. Biểu hiện rõ hình tượng  vua ta (An Dương Vương) chỉ thấy trong các sử có sự tích “Móng rùa bị đổi”, “Lông ngỗng chỉ đường”… bút tả lại khó tin. Thanh  linh Người đang phảng phất trong chốn u minh(5). Thực tại, đến Đền Dạ Sơn Diễn Châu, hỏi về việc thờ phụng được lập lên tự thuở nào, nguyên do thờ tự, thì những người trong thôn, chăm lo hương khói (phục lạp)(6) ở đền, mỗi người nói một khác. Khách đi qua “bưu đình” (trạm dịch đặt trên đường thiên lý Bắc Nam)(7) trông lên, ai mà không cảm khái.

Ôi! Hiển tích của bậc thiên thân(8) chói ngời uy đức, như công lao vua Vũ thời nhà Hạ(9). Biết để nhớ nguồn.

Huân nghiệp của vua ta nay còn sáng chói, vậy mà các nhà khảo cổ cho rằng điển tịch không kê, cam chịu tiếng “Tịch Đàm vong tổ”(10), chẳng đã điên sao? 

 “Danh sơn Cổ miếu” vách núi chạm trời. May còn có sự tích lưu truyền, từ đó truyền rộng ra, để  đời sau xem, hiểu.

Ngày tốt tháng 11 năm Giáp Tuất Tự Đức (1874).

Thọ Xương, Phạm Hy Lượng, bái, ghi (bia).

Bia số 2. “Đông Thành huyện An Dương Vương miếu bi” 

Tấm bia này hiện chưa thấy, song văn bia đã được ghi trong tập: “Hoan Châu bi ký”, bản chữ Hán, chép tay bằng bút lông, chữ chân phương, gồm 7 dòng, lưu tại Viện Viễn Đông bác cổ. Thư viện Nghệ An lưu bản chụp, mang số thư tịch NA-HN 8.

 Y sao nguyên văn:東城縣安陽王廟碑

我越始君曰鴻龐氏猶古之大庭葛天邈乎不可攷其表顯者惟我王見諸史龜爪換机鵝毛識路筆載又難盡信聲靈蠁肸寔在演州夜山祠扣其祀之始求其祀之由伏臘村翁見同辭過郵亭者思源我王之顯蹟至今為烈乃考古者每以典籍無稽自畫籍談忘祖不已傎乎名山古廟石崔天齊幸其有所傳思以廣其傳是在後之覽者

演州府太守阮玉振奉誌 (1)

Phiên: Ngã Việt thủy quân viết: Hồng Bàng thị do cổ chi đại đình Cát Thiên mạo hồ bất khả khảo kỳ biểu hiển giả. Duy ngã vương, kiến chư sử “quy trảo hoán cơ, nga mao thức lộ”, bút nan hựu nan tận tín. Thanh danh hướng hật. Thực tại Diễn Châu Dạ Sơn từ, khấu kỳ tự chi thủy, cầu kỳ tự chi do, phục liệp thôn ông đồng từ. Quá bưu đình giả tư nguyên, ngã vương chi hiển tích chí kim vi liệt. Nãi khảo cổ giả mỗi dĩ điển tịch vô kê tư Tịch Đàm vong tổ bất dĩ điên hồ!

Danh sơn cổ miếu, thạch nhai thiên tề. Hạnh kỳ sở hữu kỳ truyện tư dĩ quảng kỳ truyền thị tại hậu chi lãm giả.

Diễn Châu phủ Thái Thú Nguyễn Ngọc Chấn phụng chí (1).

 Bản  dịch I của “ Văn bia Nghệ An” 

Vua đầu nước Việt ta thuộc họ Hồng Bàng, một triều đình thời cổ. Trời đất mênh mang, không khảo vào đâu được.

Điều rõ rệt là vua ta (An Dương Vương) được ghi trong sử. Truyện đổi lẩy nỏ móng rùa, lông nga chỉ đường, bút ghi lại khó tin lắm. Tiếng thiêng khá nổi ở đền Dạ Sơn, Diễn Châu. Tìm đền có từ bao giờ, nguyên do làm đền, ông Kiến thôn Phục Lạp cũng hỏi vậy. Song sẽ qua đồng ruộng nhớ nguồn: Công lao vua ta đến nay vẫn rực rỡ. Thế mà người khảo cổ mỗi khi không sách kê cứu liền tự tỏ ra như Tịch Đàm mất tổ, thực là điên rồ.

Núi non miếu cổ, sườn đá chân trời, may còn có dấu truyền lại. Nay nhớ mà truyền rộng ra để người sau coi biết.

Thái thú phủ Diễn Châu Nguyễn Ngọc Chấn kính ghi (Sđd, tr.58).                                         

Bản dịch II: của Bùi Văn Chất.

Vua đầu tiên của nước Việt ta thuộc họ Hồng Bàng, từ thuở triều đình thời Cát Thiên  xa xưa không khảo được. Duy chỉ biết vua ta thấy trong các sử chép câu chuyện “Móng rùa bị đổi/ Lông ngỗng chỉ đường…” bút ghi lại khó tin. Thanh linh Người đang phảng phất trong chốn u minh. Thực tại đến đền Dạ Sơn tìm hiểu Đền lập tự thuở nào, lý do thờ phụng thì các vị chăm lo hương khói ở Đền đều từ chối (bởi họ cũng chưa rõ), đi qua đường thiên lý trông lên, nhớ tới cội nguồn, hiển tích vua ta nay càng chói sáng. Vậy mà các nhà khảo cổ lại cho rằng điển tích không kê đành chịu tội “Tịch Đàm vong tổ”, chẳng đã điên sao.

Danh sơn cổ miếu, vách đá chạm trời. May mà còn có chuyện truyền lại đời sau để mọi người thấu hiểu.

Thái thú phủ Diễn Châu Nguyễn Ngọc Chấn kính ghi.

 

 Chú thích của Trần Nghĩa

  1. Bài văn bia này được chép ở tấm bia đặt phía trái, trong ngôi đình thứ ba của đền thờ An Dương Vương tại xã Tập Phúc, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Thác bản văn bia hiện được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu 2377. Bia 1 mặt, khổ 65x100 cm. Không có trán bia và hình trang trí. Toàn văn chữ Hán khắc chân phương, gồm 10 dòng, cả thảy 181 chữ.
  2. Cát Thiên: tức “Cát Thiên Thị”, tên một bộ lạc thời Viễn cổ ở Trung Quốc, theo truyền thuyết. Có nhạc của Cát Thiên Thị, được kể lại là ba người nắm đuôi trâu mà hát, gồm 8 đoạn tất cả (theo Lã Thị xuân thu Cổ nhạc thiên).
  3. “Thiên thần” nguyên là “Đề dũ: cửa số của Thượng đế; Tùng vân: mây của tiên Xích Tùng Tử. Dịch là Thiên thần Thiên tiên cho dễ hiểu (Trần Nghĩa).

Chú thích của nhóm biên soạn “Văn bia Nghệ An”, PGS. Ninh Viết Giao chủ biên.  

  1. Phạm Hy Lượng (1834 - 1886), tự Hối Thúc, hiệu Ngư Đường, người xã Nam Ngư, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội; nay là phố Nam Ngư, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Ông đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý (1852), 29 tuổi đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Tự Đức 15 (1862). Được bổ chức Tri huyện Yên Dũng, năm 1867 về kinh làm Hộ bộ ngoại lang, năm 1870 thăng làm Quang Lộc tự thiếu khanh, Biện lý hình bộ sự vụ, cùng năm sung chúc Phó sứ sang nhà Thanh. Trở về được thăng Quang Lộc tự khanh. Năm 1873, lĩnh chức bố chính Nghệ An. Khi quân Pháp đánh Bắc kỳ, ông mộ nghĩa binh đánh giặc, trái ý triều đình, bị sung quân thứ Tam Tuyên. Năm Tự Đức 36 (1883) được phục chức quyền Án sát, thăng Tuần phủ Ninh Bình. Năm 1884, ông bị ốm về nhà rồi mất, thọ 53 tuổi.
  2. Chưa rõ ông Kiến thôn Phục Lạp là ai và thôn Phục Lạp ở đâu mà tác giả nhắc ở đây.
  3. Tịch Đàm: Người nước Tấn thời Xuân Thu, khi vào nhà Chu, Chu Vương hỏi lịch sử nước Tấn, không đáp lại được, người ta chê là người vong tổ. Đây ý nói không hiểu biết về lịch sử cụ thể đời An Dương Vương là người

Chú thích của Bùi Văn Chất:

  1. Nội dung của hai bài văn bia hầu hết giống nhau, chỉ khác một số từ/ cụm từ ; Số chữ/ từ trong “Đông Thành huyện … miếu bi” ít hơn; Niên đại dựng bia số II không thấy ghi. Theo “Bia mộ Nguyễn Ngọc Chấn (1817-1863), ông người Nho Lâm, huyện Đông Thành. Năm 1859, làm bang biện phủ Diễn Châu. Năm Tự Đức 15 (1862), lĩnh Tri phủ Kiến Thụy; Tháng 6 năm TĐ16, đi đánh giặc, bị thương, qua đời ngày 12/7 khi đang tại chức. Từ đó suy ra niên đại Nguyễn Ngọc Chấn soạn “Đông Thành huyện An Dương Vương miếu bi” vào năm 1859 trước.
  2. Những từ, cụm từ, đoạn văn trong “Hai bản dịch” nêu trên, có gạch dưới, cần hiệu đính.
  3. Họ Hồng Bàng là Kỷ đầu tiên của nước ta, từ 2879-258 TCN, quốc hiệu Văn Lang.
  4. Cát Thiên thị tức thiên nhạc cổ thời Tam Hoàng - Ngũ Đế, tương ứng thời Hồng Bàng, nước ta.
  5. Hưởng hật (蠁肸), từ cổ, có 2 nghĩa: 1. Hưng Thịnh; 2. Phảng phất trong chốn u minh. “Thanh linh hưởng hất” = Thanh danh và anh linh của Người phảng phất…
  6. Phúc lạp: Ngày phục nhật mùa hạ và ngày lạp nhật mùa Đông.
  7. Bưu đình: Nhà trạm, đặt bên đường thiên lý Bắc Nam. Trong đó có trạm dưới chân Núi Dạ.
  8. Đế dũ Tùng vân (xem chú thích ở bản dịch của Trần Nghĩa).
  9. Vũ vương: Vua Hạ Vũ, đời thượng cổ bên Tàu, có công khỏi nghiệp Nhà Hạ.
  10. “Tịch Đàm vong tổ” (xem chú thích (3) “Văn bia Nghệ An”, vong tổ (“Văn bia Nghệ An”, Nxb. NA, 2004. Tr57).
 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Thông tin - Tư liệu khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn
(Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn (Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn