ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ
Nhà giáo, học giả Bùi Dương Lịch
Tin đăng ngày: 26/9/2017 - Xem: 576
 

                             Hồ Sĩ Hùy

        Bùi Dương Lịch tự là Tồn Thành, hiệu Thạch Phủ & Tồn Trai, người thôn Yên Hội, xã Yên Toàn, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông sinh năm 1757 trong một gia đình khoa bảng. Thân phụ là Bùi Quốc Toại, đậu Hương cống (học vị này từ 1825 đổi gọi là Cử nhân) từng làm Tri phủ phủ Thiệu Thiên (Thanh Hóa) thời Lê mạt(1). Nổi tiếng thông minh, Bùi Dương Lịch chỉ ở nhà học với cha, năm 17 tuổi đã đậu Hương cống. Sau đó được sự khuyến khích của cha, ông trẩy Kinh học thêm ở Quốc Tử Giám & dần dần nổi tiếng là bậc hay chữ ở Thăng Long.

        Năm 1786 Bùi Dương Lịch được bổ làm Huấn đạo phủ Lý Nhân nhưng vì đang có tang cha nên ông từ chối. Cũng năm này, nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh, trao quyền cho vua Lê rồi rút về Nam. Họ Trịnh trở lại tranh chấp quyền hành với vua Lê. Vua xuống chiếu cầu hiền, nhân đó Bùi Dương Lịch được tiến cử & được Lê Chiêu Thống cho giữ chức Nội hàn viện Cung phụng sứ ngoại lang, chuyên hầu cận vua để tiện hỏi han. Vừa làm cố vấn cho vua, ông vừa đến giảng kinh nghĩa cho Điền quận công Lê Duy Nghĩa (em ruột Lê Chiêu Thống) tại nhà riêng.

        Tháng 10 (âm lịch) năm 1787, Bùi Dương Lịch đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, được vua hứa gả công chúa cho. Nhưng rồi Chiêu Thống rước quân Thanh vào nước ta, sau đó lại theo gót quân Thanh chiến bại chạy sang Trung Quốc. Cảm ơn tri ngộ của vua, theo gia phả họ Bùi & theo Nghệ An ký ông chạy theo vua đến Lạng Sơn nhưng bị chận lại bèn theo đường Thái Nguyên quay về Kinh.

        Năm 1789 có chỉ vua Quang Trung tuyên triệu giúp việc triều chính nhưng ông đã vào Phú Xuân nhờ Trần Văn Kỷ che chở để được trở về phụng dưỡng mẹ già. Năm 1791 vua lại một lần nữa gọi ông ra giúp việc biên soạn & dịch thuật ở viện Sùng chính dưới quyền Viện trưởng La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Ông đã tham gia tích cực & được khen thưởng(2). Nhưng rồi năm 1792 Quang Trung đột ngột băng hà, viện Sùng chính ngừng hoạt động, ông lại trở về quê nhà dạy học.

        Năm 1802 triều Nguyễn thành lập, Bùi Dương Lịch lại được triệu ra. Khẩn khoản chối từ không được, năm 1805 ông ra nhận chức Đốc học Nghệ An nhưng chỉ hơn một năm lại xin từ quan. Triều đình đã cho Nguyễn Danh Dương thay thế nhưng gặp lúc Nguyễn Danh Dương ốm nặng nên ông đành phải trở lại nhận chức vào năm 1808(3); sau đó lại được thăng Phó Đốc học Quốc Tử Giám (1812). Nhưng năm 1813 thì ông lại cáo quan về quê tiếp tục dạy học & viết sách cho đến ngày qua đời (1828). Hoàn cảnh xô đẩy khiến ông thành kẻ tùy thời phải làm quan trải 3 triều đại nên bị người đời mai mỉa:

         Lê triều cử Tiến sĩ

         Tây ngụysĩ Hàn lâm

         Bản triều vi Đốc học

        Tứ hải cộng tri âm.

        (Triều Lê đậu Tiến sĩ/Tây “ngụy” làm quan Hàn lâm/ Triều ta (triều Nguyễn) làm Đốc học/Bốn bể đều biết tiếng).

        Thực tâm, Bùi Dương Lịch luôn hướng về nhà Lê như ông giãi bày trong bài thơ Phu phụ thạch (Đá chồng vợ):

         Kỷ độ giang hà thành biến cải

         Phong ba bất mội thử kiên trinh

      (Bao phen sông nước đổi thay/ Phong ba không vẩn lòng này kiên trinh).

        Tuy vậy, bấy giờ chế độ phong kiến khủng hoảng nghiêm trọng. Việc các thế lực phong kiến đấu đá, nạn ngoại xâm & khởi nghĩa nông dân buộc kẻ sĩ phải có những lựa chọn khác nhau. Trí thức xứ Nghệ kẻ trước người sau lần lượt ra giúp triều Tây Sơn như Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Nễ, Nguyễn Thiếp, Phan Tố Định… chắc chắn tác động nhiều đến thái độ của Bùi Dương Lịch. Công bằng mà xét ông là kẻ sĩ đáng trân trọng, có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước.

Một bậc danh sư

        Ông chỉ làm quan cho nhà Lê chưa đầy nửa năm thì vua tôi đã phải chạy “loạn”. Những công việc quan ngắn ngủi dưới triều Tây Sơn & triều Nguyễn chỉ là những công việc gắn bó với nghề dạy học & trước tác sở trường của ông. 71 tuổi đời, trên dưới 40 năm dạy học, ông là một nhà giáo xuất sắc có nhiều công lao đối với học trò xứ Nghệ & cả đối với nhân dân quê hương nói chung.

Có đầu óc thông minh sáng tạo, ông sớm nhận ra nhược điểm của sách giáo khoa Trung Quốc nên đã tự soạn Bùi gia huấn hài (Sách dạy trẻ của nhà họ Bùi). Lời Tựa sách này nói rõ: “Tôi từng ở làng, thấy mọi nhà dạy trẻ, phần nhiều cho học thuộc lòng quyển Thiên tự văn của Chu Hưng Tự (người đời Lương ở Trung Quốc), cuối cùng chẳng ích lợi gì. Hoặc lấy sách Hiếu kinh, Tiểu học thay vào, nhưng câu đặt dài ngắn không đều, khó khăn cho trẻ con. Tôi cho rằng trẻ con có tính nhớ, nhưng hiểu biết còn kém, nếu không đặt theo cách luật thì đọc không thuận miệng mà đễ sinh nản lòng, không bảo rõ ý nghĩa thì lòng hiểu mập mờ, nhận định không được đúng. Vì thế, tôi tóm tắt những điều cốt yếu, trên từ việc sinh ra trời đất, người, vật, tiếp đến thứ tự các đời đế vương, kể rõ sự tích nước Việt ta lúc chia, lúc hợp, rồi đến truyền thống về đạo học, sau cùng đến phương pháp học của trẻ con, đều chọn lọc trong những lời của các tiên nho đã phát minh & giảng rõ, đặt ra những câu văn dễ dàng mà có vần, bằng trắc xen nhau, mỗi câu 4 chữ, gồm 2000 câu, để cho lũ trẻ trong nhà học tập, gọi là Bùi gia huấn hài(4). Sách này được Phan Huy Chú (1782 - 1840) khen: “Sách lược chép đại yếu các sách tử sử & tính lý, lời gọn, ý rộng(5).

        Chịu ơn sâu của vua Lê, ông bất đắc dĩ làm quan với nhà Nguyễn nên triều đại này tỏ ra rất hờ hững với ông. Đại Nam nhât thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn mục Nhân vật của tỉnh Nghệ An (bấy giờ đạo Hà Tĩnh chỉ lãnh 3 huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh) không có dòng nào về ông mặc dù ông có học vị & chức vụ cao, lại có nhiều công lao đào tạo thế hệ trẻ(6). Trái lại, văn bia Bùi Dương Lịch dựng năm 1866 do Phó bảng Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) soạn đánh giá rất cao vai trò nhà giáo của ông: “Ở Hoan Châu nhân tài nối tiếp xuất hiện, cùng sánh vai với các vùng trong nước. Triều đại hưng thịnh như ngày nay, nếu không có công lao đóng góp của ông, ai là người tác thành cho lớp hậu tiến, để nước nhà sẵn có mà dùng? Kẻ sĩ nối tiếp thành đạt ở châu Hoan này, không chỉ có tình nghĩa thân thiết, mà phần lớn đã trở thành những bậc danh thần, tiếp bước rạng rỡ trên văn trường, sĩ bản…(7).

        Theo gia phả họ Bùi ở Tùng Ảnh, học trò của ông trước sau có đến hơn ngàn người, trong đó có khoảng 300 vị có đỗ đạt. Tiêu biểu có Ngụy Khắc Thận đậu Hương cống năm 1813. Ngụy Khắc Tuần (1799 - 1854) đậu Hương cống năm 1821, đậu Tiến sĩ năm 1826: “là người mẫn đạt, trải thờ 3 triều,làm quan trải 14 tỉnh, đến đâu cũng có chính tích hay. Đầu đời Tự Dức được triệu về Kinh, trao cho chức Thượng thư bộ Hộ, sung Giảng quan kinh diên, Phó tổng tài Sử quán & kiêm lãnh việc Quốc tử giám. Chết tặng Hiệp biện đại học sĩ, liệt thờ ở đền Hiền Lương(8). Bùi Thức Kiên (1813 - 1892) đậu Cử nhân năm 1840, đậu Hoàng giáp năm 1848 làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, Tổng đốc Hà Ninh…

Một học giả xuất sắc

        Ngoài việc dạy học, Bùi Dương Lịch còn say mê viết sách. Không kể Bùi gia huấn hài đã nhắc ở trên, ông còn là tác giả các bộ:

  1. Ốc lậu thoại (Câu chuyện ở ngôi nhà dột) gồm trên 50 bài thơ văn kiểu đề vịnh, cảm tác , hoặc nói về đạo Trời, đạo Phật “qua đó có thể theo dõi được tư tưởng tình cảm của ông(9).
  2. Lê quý dật sử chép sự kiện lịch sử cuối Lê đầu Tây Sơn (từ 1758 – 1793) theo lối biên niên. (Nay đã có bản dịch của Phạm Văn Thắm. Nxb Khoa học Xã hội, H.1987).
  3. Yên Hội thôn chí là cuốn địa phương chí làng quê tác giả, “biên soạn công phu, sắp xếp hệ thống & thông báo được nhiều tài liệu, số liệu lịch sử cũng như kinh tế trong khoảng cuối Lê & Tây Sơn trong một thôn nhỏ bé của vùng Nghệ Tĩnh mà nhiều nhà nghiên cứu sử hiện nay vẫn không ngại trong việc sử dụng…(10) (nay đã có bản dịch của Nguyễn Thanh Hà, Sở VHTT Hà Tĩnh, 2000).
  4. Nghệ An phong thổ ký ghi chép về phong thổ Nghệ An, tác phẩm do nhiều người biên soạn, Bùi Dương Lịch chủ biên, có lẽ hoàn thành năm 1811-1812.
  5. Nghệ An chí chép sơ lược địa chí Nghệ An.
  6. Nghệ An ký gồm 2 quyển, được xem là tập đại thành của Nghệ An phong thổ ký & Nghệ An chí (nay đã có bản dịch của Nguyễn Thị Thảo, Nxb Khoa học Xã hội, 2003). Quyển I gồm: 1/Thiên chí nói về cõi trời của đất Nghệ Tĩnh nói riêng & Việt Nam nói chung có 2 mục: a/Thiên dã nói về cõi đất theo thiên văn, b/Thiên khí nói về khí hậu. 2/ Địa chí: địa lý hình thế gồm: a/Cương vực; b/Điều lý (mạch đất); c/ Núi non (85 đơn vị, kể cả gò, đảo); d/ Sông ngòi (31 đơn vị, kể cả khe, suối, hồ đầm); e/Cửa biển (12 đơn vị). Quyển II có 1 chương Nhân chí (nói về người) gồm 2 phần: 1/Phần đại cương gồm 2 mục: a/Khí chất (tâm tính & thể chất con người); b/ Sinh lý(đời sống kinh tế). 2/Phần nhân vật có 3 mục: a/ Cổ đế (Việt Thường thị & Mai Hắc đế); b/Văn nhân (150 Nho sĩ nổi tiếng, có cả tiểu sử tác giả); c/Võ tướng (31 người có tên tuổi).

        Trong quyển II tác giả có những nhận xét chuẩn xác rất đáng tham khảo về đặc điểm con người Nghệ An: “khí chất chất phác đôn hậu, tính tình từ tốn chậm chạp, cho nên làm việc gì cũng giữ cẩn thận, bền vững, ít khi bị xao động bởi những lợi hại trước mắtthổ âm người Nghệ An đục & nặng (trọc), nhưng đều có thể bắt chước tiếng khác được… văn chương người Nghệ An phần nhiều mạnh mẽ cứng cỏi, ít bóng bẩy. Vì rằng văn chương là tiếng nói của lòng, khí chất như thế nên phát ra lời văn cũng như thếbinh lính Nghệ An ngày xưa… khéo dùng thì đủ để trở nên vô địch trong thiên hạ. Cũng không phải là họ dũng mãnh quả cảm hơn người, mà chỉ vì họ quen sự cần cù gian khổ, sợ lễ tục luật pháp, thân với người trên & liều chết vì bậc trưởng. Triều Lê khi sáng nghiệp & trung hưng, đều dùng sức quân Nghệ An, rất có hiệu quả…(11).

        Quyển I lại có chỗ xuất sắc về tư tưởng. Ở ông có xu hướng tìm tòi khoa học (cách vật trí tri), có những tư tưởng mang tính chất duy vật & biện chứng tự phát. Nếu Lê Quý Đôn còn có quan điểm thần bí, tin vào bói toán, báo ứng thì Bùi Dương Lịch cho rằng mọi cái đều do khí lưu hành mà sinh ra, đều do khí mà có. Sở dĩ có người trí, kẻ ngu là bẩm thụ khí thanh hay trọc; sinh tử chỉ là sự tụ tán của khí (12). Do vậy mà: “Dứt đi một mối lo sợ thường xuyên, một nguồn mê tín làm mất nhuệ khí con người, làm giảm sự chú tâm vào cuộc sống… Nhà nho như Bùi Dương Lịch là hơi hiếm. Ông theo con đường Trương Tái mà tiếp cận với duy vật luận. Trên không có Thượng đế sáng tạo, dưới không có linh hồn bất tử, đó là hai điểm cơ bản làm chỗ dựa cho mọi hoạt động bài trừ mê tín & xây dựng sức mạnh tinh thần của con người(13).

        Nhìn chung, viết Nghệ An ký tác giả tỏ ra thận trọng, mỗi trích dẫn thường có xuất xứ, cố gắng đạt mức chính xác cao, lại chịu khó đến các địa phương sưu tầm, chú ý kiến thức thực tế giống cách làm việc của Lê Quý Đôn (1726 - 1784) nhưng chưa đạt được tầm bao quát như họ Lê. Tác giả còn sao nhãng lĩnh vực kinh tế, sinh hoạt của quần chúng nhân dân như các bộ địa chí khác.

        “Tuy có những hạn chế nhưng Nghệ An ký vẫn là bộ sách được biên soạn công phu, có giá trị về nhiều mặt, nhất là mặt địa lý lịch sử(14) & được giới khoa học hiện nay xem là bộ địa chí trội hơn cả trong các sách địa chí xưa.

        Đánh giá chung về trước tác của Bùi Dương Lịch GS. Nguyễn Huệ Chi viết: “Về mặt bút pháp cách ghi chép của ông tương đối cặn kẽ, chú trọng phần xác tín của tư liệu. Việc mô tả hình thế núi sông, khí hậu, phong tục… cụ thể rõ ràng, với con mắt của một người trực tiếp điền dã, có phần nào giống phương pháp của Lê Quý Đôn. Đặc biệt, tuy là sách địa chí hoặc tập hợp thơ văn, các tác phẩm của ông đều dành một số trang để nói về mình cùng những sự kiện lịch sử xảy ra dồn dập từ Nghệ An đến Thăng Long mà ông có tham dự… Đây chính là những trang hồi ký nóng hổi tính thời sự có giá trị bổ sung cho sách Hoàng Lê nhất thống chí”(15). Cũng theo Nguyễn Huệ Chi ở Bùi Dương Lịch tư cách nhà sử học, nhà địa lý học lịch sử trội hơn tư cách nhà văn, nhà thơ.

        Thấu hiểu bi kịch của một trí thức sống trong thời đại biến loạn, nhận rõ đóng góp & hạn chế của Bùi Dương Lịch, hậu thế ghi nhận đúng công lao của một bậc danh sĩ tiền bối đáng kính. Nhà thờ Bùi Dương Lịch do học trò cũ xây dựng, đặt tại khu đất vườn của thầy ở xã Tùng Ảnh, có tấm bia khắc bài văn do Nguyễn Văn Siêu soạn làm từ năm 1866, đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định của Bộ Văn hóa Thông tin ngày 24-1-1998. Hiện nay, ở Vinh, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh… đều có con đường mang tên ông. Đó là những hình thức tưởng niệm xứng đáng tỏ rõ đạo lý uống nước nhớ nguồn.

 

Chú thích

        (1). Theo Thái Kim Đỉnh (2004): Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh, Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, tr.129 thì Bùi Quốc Toại đỗ Hương cống năm 1747, đỗ đầu khảo thí ở phủ, thi Hội khoa Nhâm thân (1752) trúng cách, đứng tên thứ 6, nhưng khi gần yết bảng thì có thư nặc danh tố cáo quan giữ đề thi mở trộm xem đề trước nên vua có sắc chỉ cho bộ Lễ thu hồi các bài đã được lấy đỗ, ra đề thi khác, nên ông bị hỏng. Ông làm quan trải các chức Huấn đạo Tiên Bình, Tri châu Bố Chính, Tri huyện Thạch Hà, Tri phủ Thiệu Thiên.

        (2). Theo Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử. Nxb Minh Tân..Pari thì trong 1 tờ Chiếu của vua Quang Trung có đoạn: “… Trẫm đã từng xem tiên sinh (La Sơn phu tử) giảng bài, phu diễn kể đã chăm chỉ. Những viên giúp việc là Nguyễn Công, Nguyễn Thiệu, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch đều có công. Vậy ban thưởng cổ tiền 100 quan, do trấn quan chiếu theo mà cấp”. Chú thích của dịch giả Nghệ An ký Nxb. Khoa học Xã hội. 1993, tr.8. Nhân đây cũng cần nói thêm: Sách Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên (Nxb. Văn học, in lần thứ 3,.H.2000, tr.345 chép về Bùi Dương Lịch: “Ông không chịu ra làm quan với nhà Tây Sơn, nhưng lại ra làm quan với Gia Long (1802 - 1820) là hoàn toàn nhầm lẫn.

        (3). Theo Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ thì năm 1806 Nguyễn Danh Dương thay ông làm Đốc học Nghệ An, nhưng vì Nguyễn Danh Dương lúc ấy ốm nặng nên ông lại phải trở lại nhận chức. Chú thích của dịch giả Nghệ An ký, Sđd, tr.8

        (4), (5). Trần Văn Giáp (1984): Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 1, Nxb Văn hóa, tr.267.

        (6). Quốc sử quán triều Nguyễn (2006): Đại Nam nhất thống chí Nxb Thuận Hóa. T2,

        (7). Theo Văn bia đặt tại nhà thờ Bùi Dương Lịch ở xã Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Nhà thờ do học trò cũ xây dựng, đặt tại khu đất vườn của thầy.

        (8). Quốc sử quán triều Nguyễn (2006): Đại Nam nhất thống chí Sđd, T2,tr.246-247.

        (9),(11),(12). Bùi Dương Lịch (1993), Nghệ An ký, Sđd, tr.12; tr.211,215,217;tr.69-77.

        (10), (14). Nguyễn Thị Thảo, Bạch Hào (GS. Nguyễn Đổng Chi): Bùi Dương Lịch & sáchNghệ An ký, Bùi Dương Lịch (1993): Nghệ An ký, Sđd, tr.16-17.

        (13). Trần Văn Giàu (1973): Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Nxb. Khoa học Xã hội, T1, tr.163.

        (15). Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (cb)(2004): Từ Điển Văn Học (Bộ Mới) Nxb. Thế giới, tr161-162.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 361 | Tất cả: 1,418,215
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp