CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh một thế kỷ nhìn lại
Tin đăng ngày: 4/7/2017 - Xem: 1537
 

Chu Văn Thông

Nhà nghiên cứu, Tp Vinh

 

Khi ta so sánh hai số a và b, kết quả sẽ hiện thị ba thông số: a = b, a >b, a <b, ngoài ra không có giá trị nào khác. Khi so sánh phải biết vận dụng mọi tiêu chuẩn, không được phép bỏ ngoài tiêu chuẩn nào. Điều ta cần biết là tiêu chuẩn có khi rõ ràng, nhưng cũng có khi không, (sự không rõ ràng ấy chính là tiền đề ngầm. Có tiêu chuẩn ở dạng tiền đề ngầm, hiện nay cách viết của chúng ta đến phần nửa vấn đề thuộc về tiền đề ngầm). Đó là câu chuyện thuộc khoa học tự nhiên. Có bao giờ người ta lại đem so sánh hai vĩ nhân lịch sử với nhau không? đó là điều không thể, bởi nó thuộc khoa học xã hội. So sánh chính là thể hiện sự hơn, kém hay bằng nhau qua thang giá trị. Cần làm rõ những đóng góp cho đất nước của nhân vật lịch sử, người ta đánh giá, chứ không so sánh. Lịch sử luôn tôn trọng, đánh giá cao những anh hùng dân tộc qua mọi thời đại, không suy bì cao thấp, không cân đo đong đếm giữa người này người khác.

Hai lĩnh vực tự nhiên và xã hội, hoàn toàn khác nhau. Sự khác ấy được thể hiện ở mấy điểm sau: Hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hội diễn ra theo những quy luật nhất định. Quy luật tự nhiên nó diễn ra ở ngoài khả năng con người, độc lập với ý chí của con người. So sánh, đối chứng các hiện tượng tự nhiên là công việc thường nhật của các nhà nghiên cứu. Quy luật xã hội ở trong xã hội loài người. Con người thực hiện và thể hiện quy luật ấy,vì thế mới có chuyện vượt tình thế. Có những việc con người biết khó, nhưng vẫn quyết tâm hành động. Đánh giá hai nhân vật, phải thông qua hoạt động của họ, lịch sử tự thể hiện. Điều kiện lịch sử ấy được chia làm hai phần: Phần xã hội ngoài bản thân nhân vật và phần chính bản thân nhân vật đó.

Về xã hội bên ngoài bản thân nhân vật: Xã hội bên ngoài nhân vật chính là thời đại. Thời đại bao trùm lên tất cả mọi hoạt động của mỗi nhân vật lịch sử. Thời đại nào, sinh ra con người thuộc về thời đại ấy. Câu chuyện sau giúp chúng ta giải mã: Tại làng Châu Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nơi sinh ra ba nhân vật nổi tiếng, đó là Phan Đình Phùng, Hoàng Cao Khải và Trần Phú. Hoạt động của ba ông đi ba con đường khác nhau, bởi ba ông ở vào những thời đại khác nhau. Sinh ra trong thời đại Quân chủ đang trị vì, tư tưởng trung quân ái quốc là lẽ sống của Phan Đình Phùng. Sinh ra trong thời đại chủ nghĩa tư bản đang làm chủ thế giới, lý tưởng cộng sản là lẽ sống của Trần Phú. Mọi chuyện gần như được giải quyết êm xuôi, khi dùng yếu tố thời đại để cắt nghĩa. Chuyện rắc rối đã xẩy ra, hai ông sống cùng thời, lại đi theo hai con đường đối lập. Phan Đình Phùng đi với Cần Vương, Hoàng Cao Khải thỏa hiệp với Pháp. Cùng thời đại, hai cá thể hoạt động đối lập. Con người là sản phẩm của thời đại, khi đánh giá phải biết con người ấy đã làm được gì cho thời đại họ, không đặt vấn đề người ấy đã làm gì cho thời đại ngày nay. Vậy công lao của ông ta ở đâu? Lịch sử là sự phát triển liên tục, thời đại sau kế thừa thời đại trước. Vậy một nhân vật lịch sử đã cống hiến cho thời đại họ cũng là gián tiếp cống hiến cho muôn đời sau. Yếu tố thời đại không minh giải được, nghiên cứu điều kiện bên trong là con đường kiếm tìm lời giải đáp.

Về bản thân nhân vật: Gia đinh là xã hội thu nhỏ đầu tiên của con người khi chào đời. Yếu tố xã hội mà đứa trẻ tiếp cận, hình thành nhân cách đầu đời của nó cũng do gia đình tạo nên. Gia dình có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của con người. Câu chuyện về nhân vật Nguyễn Công Trứ là một minh chứng để đời cho lý giải vừa nêu. Nguyễn Công Trứ, với chức danh là Tham tri dưới triều đại Tự Đức. Khi được điều về Thái Bình để dẹp loạn nông dân khởi nghĩa, ông đã hoàn thành. Sau khi dẹp xong loạn dân ấy, ông được thăng chức. Ông không nhân và xin về làm chức doanh điền sứ tại Thái Bình, nơi ông vừa dẹp loạn. Vậy tại sao lại có hiện tượng này? Bố của Nguyễn Công Trứ lấy vợ người tỉnh Thái Bình. Nguyễn Công Trứ sinh ra trên mảnh đất này, đến năm 12 tuổi ông mới theo bố về quê. Nguyễn Công Trứ nghĩ rằng lấy gì để bảo đảm dân Thái Bình không nổi loạn tiếp, nếu đói kém cứ kéo dài. Mình không thể đem quân vể Thái Bình để dẹp loạn lần thứ hai. Chính vì vậy ông quyết tâm làm cho dân Thái Bình no đủ lên, chắc chắn họ sẽ không khởi nghĩa nữa. Về cốt cách tâm lý của nhân vật: Sống có trách nhiệm với đời là một nấc quan trọng trên thang giá trị làm người. Ai cũng có gia đình, quê hương, đất nước, có giá trị thân phận, là người phải cố gắng giữ lấy giá trị thân phận ấy. Phan Bội Châu từng nói “Thân ta sở dĩ vinh vì ta có nước. Thân ta sở dĩ nhục vì ta mất nước”(1). Trong mỗi con người đều có diện mạo riêng, giá trị riêng. Người Việt Nam thường có cách nhìn người khác theo mối quan hệ của cá thể với Tổ Quốc, với quê hương, gia đình. Mối quan hệ đó chính là cốt cách tâm lý của mỗi con người. Phải dựa vào yếu tố nội tại của cá thể, đó là  các yếu tố gia đình, quê hương đất nước. Mỗi con người đều có một gia đình, một quê hương, một đất nước. Gia đình, quê hương, đất nước có mối quan hệ biện chứng, keo sơn bền chặt. Trong gia đình có dáng vóc quê hương, có hình hài của nước, đó là khuôn đúc giá trị nhân bản cho mỗi con người. Gia đình là yếu tố cấu tạo nên cốt cách tâm lý cho mọi cá thể. Mối quan hệ gia đình quê hương đất nước trong mỗi con người Việt Nam chân chính đã trở thành một định đề gắn kết không phân cắt. Thông qua cốt cách tâm lý là điều để ta hiểu về một nhân vật lịch sử. Từ Hoàng đế đến cô nhi quả phụ đều không tránh khỏi cốt cách tâm lý. Qua suy nghĩ hay cách xử lý những sự việc cụ thể của con người, thường biểu hiện cốt cách tâm lý rất rõ nét. Câu chuyên của hai hoàng đế Tự Đức và Bảo Đại của Triều Nguyễn đã nói lên điều đó.

Với Tự Đức, sau khi biết Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký điều ước Nhâm Tuất 1862 với Pháp, trong đó Biên Hòa là nhượng địa. Tự Đức bực lắm và nói: Hai tên kia không những là tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân thiên cổ. Bởi Biên Hòa là quê ngoại của Tự Đức, Từ đó về sau vua không có quyền hành gì trên mảnh đất này nữa.Vua đã mất hết thể diện trước gia đình người thân đàng ngoại  và cả nhân dân Biên Hòa.

Ngày 25.8.1945, trước khi bàn giao ấn tín cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Vua Bảo Đại đã suy nghĩ một hồi lâu rồi đặt ra yêu cầu cho Chính phủ mới một viêc, đó là phần mộ của tổ tiên của Hoàng đế phải được bảo vệ. Đại diện chính quyền cách mạng là Trần Huy Liệu đồng ý, Bảo Đại lập tức trao ấn tín.

Về sự giáo dục đối với nhân vật: Bất cứ thời đại nào, học vấn của con người là điều rất được chú ý. Người xưa có câu “Nhân bất học bất tri lý”, là lời giáo huấn, sự nhắc nhở cảnh tĩnh cho bất kỳ ai. Giáo dục làm cho con người có khả năng giao tiếp, ứng xử trong gia đình, ngoài xã hội.

Từ những cơ sở của lý thuyết của các vấn đề thời đại, vấn đề gia đình, quê hương, đất nước, vấn đề giáo dục người ta lấy làm cơ sở để ta suy xét về hai nhân vật Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh.

1.Về Phan Bội Châu, ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho ở Nghệ Tĩnh. Bố là Phan Văn Phổ cũng là một nhà nho làm nghề dạy học nơi Thục quán. Thời nhà Nguyễn, vùng Thanh Nghệ Tĩnh, nho giáo phát triển rất sâu rộng xuống tận làng xã. Nho giáo đã  xâm nhâp sâu vào dân chúng và đã đi vào cốt cách tâm lý của người dân. Người Nghệ Tĩnh quan niệm rằng đi học để gánh vác việc đời, lấy việc đời làm việc của chính mình. Việc đời là việc làng, việc nước. Nho giáo ở Nghệ tĩnh mang tính đặc biệt: Người dân rất coi trọng giá trị, nhân cách của nhà Nho. Nguyễn Công Trứ đã khẳng định: Hay tám vạn, nghìn từ mặc kệ / Không quân thần, phụ tử không ra người. Nho giáo vùng Nghệ Tĩnh thiên về lý tưởng kẻ sĩ. Nho sinh đa xác định theo đuổi công việc đèn sách, chính là lúc họ xác định phải có danh gì với núi sông. Phan Bội Châu tâm dắc: Dĩ thiên hạ vi kỷ niệm,(2) (lấy việc thiên hạ làm trách nhiệm của mình). Quê hương Phan Bội Châu là vùng có phong trào Cần Vương phát sinh, phát triển và suy vong. Phan Bội Châu sinh năm 1867, Cần Vương nổ ra vào năm 1885. Cần Vương nổ ra khi Phan Bội Châu đã trưởng thành. Đêm đêm tiếng mõ khua vang dục giã nghĩa sĩ Cần Vương hành động. Nghe tiếng mõ, Phan Bội Châu nhận rõ việc mất nước. Từ đó Phan Bội Châu coi việc cứu nước là việc của mình. Mười hai năm ông chứng kiến phong trào Cần Vương không tiến, không lui ở rừng núi Vũ Quang, cứ quay tròn trong một khoảng không định mệnh, bởi nơi ấy là trời tròn đất vuông. Cần Vương tàn lụi, cả dân tộc lầm than, Phan tâm sự: Giang sơn tự hỷ sinh đồ nhuế (núi sông chết rồi, mình sống chỉ thêm nhục). Cho dù giang sơn đất nước không còn nữa, nhưng người này đã gắn sinh mạng của mình với sự tồn vong của quốc gia dân tộc. Nét tâm lý của Phan Bội Châu rất đặc biêt, trong tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu, ông đã tự phán đã bộc lộ cốt cách tâm lý rất đậm nét. Phan Bội Châu tự phán như thế nào? Lich sử đời tôi, lịch sử thất bại, thất bại là vì có nhiều lầm lẫn, tuy vậy vẫn có những mặt tốt. Ông trình bày lại để hậu thé tránh lầm lẫn. Phan Bội Châu nói ông có ba sai lầm lớn:

Thứ nhất, ông tin rằng trong thiên hạ này không có việc gì là không làm được. Từ đó ông suy nghĩ và kiên quyết hành động để xoay lại vận nước. Ông thấy bản thân ông có tính quá tự tin, không biết tự lượng sức mình. Việc cứu nước là việc của thiên hạ, ông cho rằng việc thiên hạ chính là việc của mình. Việc đó làm được, nên ông đã gắng hết sức để làm. Phan Bội Châu coi đó là trách nhiệm của bản thân đối với đất nước. Phan Bội Châu là một nhân cách lớn, một con người vĩ đại nhiều đời hiếm thấy. Thứ hai, quá thật thà, quá thẳng thắn trong cách cư xử với mọi người. Phan cho rằng con người trong thiên hạ không ai là không đáng tin. Ông khẳng định bản thân ông không có năng lực về cơ mưu quyền biến. (Xem cơ mưu quyền biến của Chủ tich Hồ Chí Minh trong tạp chí KHXH&NV Nghệ An, số tháng 3.2014 của tác giả). Thứ ba, khi xét người để trù tính công việc, Phan Bội Châu chỉ nghĩ đến đại thể chứ không chú ý đến cái nhỏ. Trong thực tế đôi khi việc nhỏ không thành, làm hỏng luôn cả việc lớn. Ông gọi đó là sơ suất, không cẩn thận. Phan Bội Châu thấy mình có ba việc tốt sau đây: Một lầ Cả gan mạo hiểm dám làm, hàng vạn kẻ thù trước mặt, vẫn cả gan xông tới. Hai là, khi giao thiệp với người nên nghe việc gì hay, biết điều gì tốt thì suốt đời không quên. Nhất là những lời nói thật, phê bình gay gắt thì suốt đời nghe theo. Về mặt tâm lý, Phan Bội Châu là một người có tầm chuyển đổi nhận thức mau lẹ, từ hệ tư tưởng Quân chủ lên Quân chủ lập hiến, rồi dân chủ cộng hòa, cuối cùng tiếp cận với chủ nghĩa cộng sản một cách chóng vánh. Ba là, suốt đời chỉ nghĩ đến mục đích. Phan tán thành câu nói của Napoleon Ponaparte là Số phận của chiến dịch được quyết định trong 5 phút cuối cùng. Phan Bội Châu cho rằng: Thủ đoạn, biện pháp có thể thay đổi, cốt sao đạt được mục đích cuối cùng.(3)

Phan Bội Châu, quả thật ông là một vĩ nhân của thời đại. Chứng kiến Cần Vương lụi tàn, lòng yêu nước của dân chúng đương thời tan nát, ông không hề run sợ, vẫn quyết tâm đánh Pháp đến cùng. Tại sao Phan Bội Châu có được niềm tin ấy? Phan Bội Châu đã tạo được niềm tin cách mạng trong một điều kiện lịch sử khác với điều kiện của Cần Vương. Phan Bội Châu đọc Tân thư, tân văn qua tay của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Lộ Trạch. Hàng loạt những biến cố xã hội đang diễn ra trong khu vực và thế giới như Duy tân Nhật Bản 1868, Mậu Tuất chính biến 1898 ở Trung Quốc, Châu á thức tỉnh....Phan Bội Châu hiểu được giá trị của những biến cố lịch sử ấy. Phan đã đi tiên phong trên con đường cứu nước mới. Con đường cứu nước của Phan hoàn toàn khác với thời Cần Vương, mặc dù ông sống trọn giai đoạn Cần Vương. Tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu mang màu sắc mới khi tiếp cận văn minh động. Vậy, Phan Bội Châu tiếp cận văn minh động như thế nào? Không bằng con đường tư sản hóa, Phan Bội Châu tiếp cận tư tưởng mới, văn minh mới bằng cách tự vượt lên chính mình khi còn là một nhà nho. Tự vượt tình thế khi nước Việt Nam còn mang tính chất phong kiến, (cơ sở tư sản của Pháp mới chỉ bắt đầu), để tự đến với điều kiện mới của thế giới. Phan Bội Châu làm cách mạng không nhằm mục đích phục chế Quân chủ. Phan Bội Châu không muốn đưa dân tộc trở lại con đường lỗi thời ấy, đó là nét đặc thù của lịch sử cận đại Việt Nam. Phan Bội Châu là người khai phá ra con đường cứu nước mới. Ông cho rằng đánh pháp phải có lực lượng, lực lượng không có thì cầu viện. Năm 1905 gặp Lương Khải Siêu tại Hoành Tân, Nhật bản, Phan đã thay đổi cách xây dựng lực lượng cách mạng. Phong trào Đông du do Phan Bội Châu tạo dựng đã ghi danh vào lịch sử. Hai trăm mười bốn thanh thiếu niên Việt Nam lên đường sang Nhật du học, không ngoài mục đích đó.

2. Phan Chu Trinh quê ở Quảng Nam, một địa danh có nền thương mại phát triển sớm vào loại bậc nhất ở Việt Nam. Điều kiện này của quê hương có làm ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng cải cách của Phan Chu Trinh hay không, đến nay vẫn chưa được giới nghiên cứu khẳng định. Gia đình Phan Chu Trinh, không theo nghề buôn bán, người cha là một võ quan trong triều nhà Nguyễn. Là một phó bảng, ông không ứng quan mà chọn con đường làm cách mạng cứu nước, cứu dân. Phan Chu Trinh, sinh năm 1872. Khi Cần Vương thất bại 1895 Phan Chu Trinh đã trưởng thành. Ông cho rằng, dùng vũ trang để chống Pháp, người Việt Nam đã làm rồi, chẳng được gì ngoài chết chóc. Nhận thức của Phan Chu Trinh, hoàn toàn trái ngược với nhận thức đánh Pháp đến cùng bằng vũ lực của Phan Bội Châu. Tại sao lại có sự khác biệt ấy khi hai ông cùng chung mục đích yêu nước?

Vấn đề nan giải này cho tới nay đối với giới khoa học vẫn chưa đưa ra được lời minh giải tận tường. Xuất phát từ quan niệm ấy, Phan Chu Trinh đi tìm con đường cứu nước khác. Ông đọc Tân thư, tân văn, hiểu phong trào thức tỉnh châu á, chứng kiến trực tiếp văn minh Nhật Bản, tiếp cận với sức mạnh vật chất do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập vào nước ta... Phan Chu Trinh nhận biết những tín hiệu của văn minh động, văn minh tư bản chủ nghĩa đang hấp dẫn lòng người. Khi nhìn lại trình độ dân trí của người dân Việt Nam, ông cho rằng: Dân trí nước mình có khai thông mở mang, mở mang công thương nghiệp cho nước mạnh, chế tạo được những vật dụng như người Pháp,...lúc bấy giờ mới nghĩ đến tự chủ tự cường. Nhưng làm thế nào để mở mang dân trí, phát triển dân sinh, nới rộng dân quyền, Phan Chu Trinh cho rằng con đường tốt nhất, nhanh nhất là phải dựa vào Pháp. Từ nhận thức ấy, Phan Chu Trinh bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng cứu dân cứu nước theo cách riêng của mình. Phan Chu Trinh liên hệ với Hội nhân quyền người Pháp ở Đông Dương. Hội này tỏ ra ủng hộ Phan Chu Trinh. Một quan tư người Pháp tỏ ra sốt sáng với chủ trường này của Phan Tây Hồ. Thế là từ đó Phan Chu Trinh tiến hành gặp trực tiếp viên công sứ Pháp tại Quảng Nam đòi cải cách. Trong chương trình nghị sự với công sứ tỉnh Quảng Nam, Phan Chu Trinh yêu cầu: - Người Pháp khai hóa nhưng không thực bụng. Ông đã nêu hàng loạt chứng cứ để minh giải luận: Dung túng quan lại Nam triều làm khổ dân An Nam. Vì vậy Phan Chu Trinh yêu cầu phải thực bụng với người Nam mà thay đổi cách cai trị.

- Phan Chu Trinh tố cáo nạn cường hào ở nông thôn Việt Nam. Ông khẳng định vì người Pháp dung túng, che chở cho họ. Phan Chu Trình còn nêu vấn đề cách cai trị của người Pháp không có gì mới. Sau khi hội kiến xong, Phan Chu Trinh gửi toàn văn kiến nghi này lên Toàn quyền với nhan đề -Thư gửi toàn quyền Beau.

Vì vậy, hội nhân quyền phổ biến chủ trương này. Phan Chu Trinh cũng nói thẳng với viên toàn quyền Beau: chí khí của người Việt Nam không bao giờ cam chịu nô lệ. Nếu người Pháp không thay đổi cải cách, người dân sẽ đồng loạt nổi dậy. Người Pháp có giết, cũng không thể giết hết được. Phan Chu Trinh cùng một số đồng nghiệp mở cuộc vận động cải cách làng ở nông thôn, mở hội buôn ở đô thi, hội cày, hội trồng quế, tổ chức hợp tác xã, tổ chức diễn thuyết bãi bỏ hủ tục...Tổ chức diễn thuyết của Phan Chu Trinh nhằm mục đích chấn hưng dân khí. Năm 1908, tại Quảng Nam và một số tỉnh lân cận, quần chúng đã nổ ra phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Có phải đây là hiệu ứng, là kết quả tất yếu của cuộc vận động cải cách của Phan Chu Trinh khởi xướng hay không? lịch sử đang tìm câu trả lời. Phong trào chống thuế Trung Kỳ, là một phong trào mang tính quần chúng rộng lớn, có mục tiêu đấu tranh rõ ràng, đã mang màu sắc chính trị. Lịch sử không loại trừ khả năng quần chúng vượt qua tầm vóc của các nhà lãnh đạo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình. Phong trào chống thuế Trung Kỳ đâu phải lần đầu tiên diễn ra loại hình đó. Năm 1888, Vua Hàm Nghi bị bắt, lãnh đạo phong trào băn khoăn lấy gì để Cần Vương nữa? Vậy mà phong trào của quần chúng vẫn phát triển mạnh mẽ hơn, rộng lớn hơn giai đoạn trước, đã nói lên chân lý đó.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, dưới tác động nhiều chiều của tình hình quốc tế và trong nước, xã hội Việt Nam đang biến chuyển. Quần chúng đã chứng kiến quan điểm cải cách của Phan Chu Trinh, khi ông phó bảng này dựa vào Pháp để hành động. Để bảo vệ quan điểm chính trị của mình, Phan Chu Trinh lớn tiếng tuyên bố “Bất bạo động, bạo động tắc tử /Bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”. Cụ phó bảng đã dùng từ bạo động, mọi người nên hiểu theo nghĩa nào cho đúng ý cụ? Bạo động là hành vi của những người không theo kế hoạch, không có suy nghĩ chín chắn, hành động không suy tính, đi đến tự sát là tất yếu. Vọng ngoại là trông chờ vào nước ngoài. Vào thời điểm lịch sử này, trong tư duy của giới nhân sĩ yêu nước trên đất nước Việt Nam, bạo động chắc chắn không còn chỗ đứng trong tư tưởng cách mạng của họ. Những hành động liều lĩnh vũ trang bạo động của thời Cần Vương, đã mang tầm vóc của bài học lớn. Năm 1904 tại Quảng Nam, Duy Tân Hội đã ra đời. Dù còn sơ khai, nhưng tầm vóc của Duy Tân Hội là một chính đảng cách mạng đầu tiên đã ra đời trên đất Việt Nam. Những nhân vật chủ chốt của đảng như Phan Bội Châu, Tiểu La Nguyễn Hàm, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính... tán thành con đường cứu nước bằng bạo lực. Bạo lực chứ không phải bạo động. Nhìn từ góc độ nào quan điểm của Phan Chu Trinh vẫn là thủ tiêu bạo lực, cho dù hiểu ở góc độ bạo động hay bạo lực.

Năm 1906, Phan Bội Châu gặp Phan Chu Trinh tại Hồng Công. Hai ông nắm tay nhau cùng sang đất nước Nhật Bản, rồi cùng nhau nhìn vào “cửa sổ của văn minh”. Sau đó hai cụ cùng lên Tokyo. Vừa xuống tàu hỏa, có một cảnh sát lễ phép chào, mời hai ngài lên xe. Phan Bội Châu nói người này phúc hậu. Về đến khách san, lại quên hành lý, Phan Bội Châu định đi trình báo, nhưng mấy phút sau lại thấy hành lý xuất hiện. Hai cụ ngơ ngác nhìn nhau, vẻ thán phục cái văn minh Nhật Bản. Quang cảnh Tôkyo nhộn nhịp, đường phố ngăn nắp, buôn bán sầm uất. Phan Bội Châu kể: Thời Minh Trị duy tân, nước Nhật nghèo, dân ăn khoai thay gạo, nhưng ai nấy đều vì đát nước mà chịu đựng..(4) Phan Bội Châu thấy văn minh nước Nhật làm tăng giá trị của con người, của dân tộc Nhật. Phan Chu Trinh cũng có cảm tưởng ấy. Theo Phan Chu Trinh, đó chính là dân trí nước Nhật. Dân trí làm nên quốc trí (thế nước). Thế nước mạnh thì tự chủ được. Phan Chu Trinh nói: Dân trí cao, quốc thế mạnh, nước tự chủ / Dân trí thấp, quốc thế yếu, nước nô lệ (5) Hai cụ đã đồng sàng mà dị mộng, cùng ở trên đất Nhật, nhưng nhận thức về dân trí và văn minh khác nhau. Sau đó hai ông trao đổi với nhau về hành động cứu nước. Phan Chu Trinh chỉ trích Phan Bội Châu về việc đưa Cường Để làm minh chủ, đứng đầu đám du học ở Nhật. Phan Chu trinh nói : ông ấy không làm nên trò trống gì (6). Phan Bội Châu nghe nhưng không nói gì. Phan Chu Trinh nói tiếp: hiện nay nên đề xướng dân chủ, dân quyền, để làm cho dân trí mở mang, may ra vãn hồi được tình thế nguy ngập, mất nước hiện nay. Phan Bội Châu nói Dân không còn nữa thì chủ với ai?(7). Sau đó hai cụ chia tay nhau. Phan Bội Châu nói : Bây giờ cốt sao cho nước được độc lập, ông về trong nước khởi xướng dân chủ, dân quyền. Tôi ở ngoài lo học tập để có lực lượng mưu cầu đại sự mai sau. Nếu đại sự mà thành, nước độc lập thì Bội Châu tôi xin cài ngắn vạt áo, đội khăn đi bên cạnh cụ để đề xướng, để thực hiện dân chủ dân quyền. (8)

Giữa năm 1907, phong trào Đông du đang cường thịnh, 214 thanh thiếu niên đã vào các trường học của Nhật bản, thậm chí đã có những học viên đã tốt nghiệp ra trường. Phan Bội Châu tập trung lực lượng kêu gọi quyên góp kim tiền, chủ yếu là tầng lớp đại địa chủ Nam Kỳ. Phan Chu Trinh ở Nhật về nước, ông đã khuấy lên một làn sóng hủy diêt phong kiến, thực diện ba mục tiêu dân trí, dân khí và dân quyền. Bao năm tồn tại hai xu hướng bạo động và cải cách, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là đại diện, tưởng chừng như vô hại, giờ này đã làm tung tóe trên chính trường. Xét ở góc độ nào cũng vậy, sự va đập ngoài ý muốn ấy cách mạng nước nhà cũng phải chịu tổn thất.

Dân trí được coi là yếu tố then chốt trong sự tiến hóa của một dân tộc. Với Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, dân trí phải được đặt trên một nền tảng mới tiến bộ hơn, đó chính là tư tưởng dân chủ tư sản. Tư tưởng này xuất hiện ở thời kỳ văn hóa phục hưng, khi cấp tư sản Tây Âu bắt đầu tấn công phong kiến. Vậy lực lượng nào đã có công phổ biến tư tưởng mới cho nhân dân Việt Nam? Lớp trí thức Tây học không làm được, cũng chẳng phải người Pháp mang lại, mà chính là những trí thức Nho học mang tư tưởng cách mạng, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Một thế kỷ nhìn lại, vấn đề hai cụ Phan vẫn như ngày nào. Phải chăng, giới nghiên cứu đang niêm phong hai cụ với những gì đã có. Dù xét ở góc độ nào, hai cụ Phan là những người tiên phong trong việc tiếp cận, truyền bá tư tương mới, tư tương dân chủ tư sản vào Việt Nam. Đó là cái vốn, là nền tảng tư tưởng cho cách mạng Việt Nam phát triển tiệm cận với văn minh nhân loại. Phan Bội Châu - Phan Chu Trinh, mãi song hành cùng lịch sử. Nhân dân Việt Nam luôn ngưỡng công lao hai cụ Phan với một tâm trạng vui buồn chen lấn, nửa đầy nửa vơi./.                                                  

Ghi chú:

(1), Tác phẩm Ngục trung thư, tr 47.

 (2) tác phẩm Dư ngu sám tr76

 (3). PBC toàn tập, Tập 6, tr 108

 (4)(5)(6)(7) (8): Phan Bội Châu niên biểu, Phần 3, tr 213 -229

Chức năng nhiệm vụ khác:
Vận dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng hiện nay (4/7/2017)
Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh một thế kỷ nhìn lại (4/7/2017)
Đôi điều về công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" (4/7/2017)
Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại (4/7/2017)
Cúng bản (4/7/2017)
Dấu vết, di tích lịch sử của nghĩa quân Lê Lợi trên đất Anh Sơn (4/7/2017)
Rừng có phải là “vàng” của người Việt? (4/7/2017)
Bàn thêm cách dịch bài thơ "Thiết cảng" (4/7/2017)
Trung tâm KHXH&NV Nghệ An - Dấu ấn qua 10 năm và mô hình phát triển (23/5/2017)
Xây dựng Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An trở thành đầu mối khoa học của tỉnh, của vùng (23/5/2017)
Khoa học xã hội và nhân văn – mười năm phát triển và mấy giới hạn (23/5/2017)
MƯỜI NĂM HOẠT ĐỘNG - NHỮNG KẾT QUẢ ĐÁNG GHI NHẬN (Tiếp theo) (30/12/2016)
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN - MỘT DIỄN ĐÀN KHOA HỌC TIN CẬY VỀ XỨ NGHỆ (30/12/2016)
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN NĂM 2016 (29/12/2016)
MƯỜI NĂM TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN VỚI VIỆC GIẢI PHÓNG TIỀM NĂNG KHXH&NV XỨ NGHỆ (29/11/2016)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 813 | Tất cả: 3,328,287
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp