CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Cúng bản
Tin đăng ngày: 4/7/2017 - Xem: 1065
 

Quan Vi Miên

An Phú, Thuận An, Bình Dương

 

1. Mở đầu

“Cúng bản” là dịch từ tiếng Thái “xến bàn” (cúng bản), hoặc “xến phí bàn” (cúng ma bản), hay “xở phí bàn” (thờ ma bản); “ma bản” ở đây là “tổ tiên của dòng họ”, là “pủ chầu xừa” (thần chủ áo) của bản, tức là “thần bản”, kẻ khai bản, lập bản. Cúng bản là “tục lệ hàng năm vào dịp đầu xuân, tiếp sau lễ “cúng mường” (xến mương); người ta tổ chức lễ “cúng bản” (xến bàn) trong phạm vi từng bản, cùng một ý nghĩa như “cúng mường”(1). Cúng bản là lễ cúng bái trời đất, thần linh, tổ tiên dòng họ, người khai bản lập mường (thành hoàng), các ma quỷ, v.v… phù hộ cho chúa (chủ mường) ngày xưa, nay là toàn dân bản, một năm tốt đẹp. Lễ cúng bản cũng là dịp khai mạc một năm sản xuất, lao động. Lễ được tổ chức do toàn dân bản tham gia, ăn uống, vui chơi (hai, ba ngày trước đây, nay gói gọn trong một ngày). Mọi phí tổn đều do dân bản góp. Lễ tôn giáo, tín ngưỡng này thực chất là nhằm củng cố khối đoàn kết cộng đồng của toàn dân bản và khẳng định quyền thống trị của giai cấp quý tộc Thái trước đây, nay là quyền “dân chủ cơ sở” của tất cả mọi người dân trong bản.

Lễ cúng bản của người Thái ở Tây Bắc và Nghệ An cũng có những nét chung và riêng.

2. Lễ cúng bản của người Thái ở Tây Bắc (Trường hợp người Thái Đen, tỉnh Điện Biên).

Thời gian tổ chức vào khoảng tháng 9, tháng 10 lịch Thái, tức tháng 4, tháng 5 âm lịch. Người ta tổ chức hàng năm hoặc vài năm một lần. Địa điểm ở tại “đông xên” (rừng cúng), hoặc vạt rừng đầu bản, nơi có cây to trong bản, nguồn nước đầu bản, ngã ba sông suối, vũng nước cấm; cúng xong, khi về bản thì tổ chức ở nhà trưởng bản; vui chơi thì tổ chức ở bãi ven bản… Thời gian diễn ra 3 ngày (chọn ngày tốt): a) Ngày thứ nhất: Cúng “lẩu khắt lẩu khánh” tại nhà “chẩu xửa” (chủ áo/trưởng bản), khấn báo với “chẩu nặm” (chủ nước/thần linh), “chẩu đin” (chủ đất/thần linh); dựng lán cúng tại “đông xên”, cắm “ta leo” (tấm phên đan mắt cáo) báo hiệu cấm qua lại; b) Ngày thứ 2: Cúng “chẩu xửa”, “chẩu đin”, “chẩu nặm”, cắm “ta leo” ở cổng bản, báo hiệu cấm qua lại… Kết thúc phần “lễ”, sáng vui chơi: tung “còn”, kéo co, đi trên cây tre, bịt mắt bắt vịt, ăn cơm liên hoan, vui văn nghệ…đến tận đêm; c) Ngày thứ 3: tiếp tục vui chơi văn nghệ… và kết thúc(2)

3. Lễ cúng bản của người Thái ở Nghệ An

3.1. Thời gian

Hàng năm vào dịp đầu xuân (tháng 8 lịch Thái – tháng 2 âm lịch) người Thái ở Nghệ An làm lễ “cúng bản” sau khi đã làm lễ “cúng mường” (sớm hơn ở Tây Bắc). Lễ “cúng mường” ở phủ Quỳ Châu (cũ) trước đây, làm trước ngày 17 tháng 2 (âm lịch), cho nên lễ cúng bản nhất loạt phải làm sau ngày đó (không được phép làm trước). Cụ thể ngày nào thì do điều kiện của từng bản mà làm (từ 17 tháng 2 âm lịch trở đi).

3.2. Người chủ trì

Lễ cúng mường do “chầu mương” (chủ mường – tri phủ) và “chầu húa” (chủ đầu – chủ hồn) chủ trì tiến hành (ở Mường Noọc, Quế Phong; sau chuyển xuống ở Mường Chiêng Ngam, Quỳ Châu). Còn cúng bản là do trưởng tộc/trưởng họ và trưởng bản chủ trì. Trưởng tộc sẽ là người cúng lễ. Nếu trưởng tộc không biết cúng, thì phải tìm thầy mo trong bản để cúng. Thầy mo này là thầy “mo bản”, cấp thấp, chứ không cần phải là thầy “mo mường”, cấp “mường”. Thầy mo bản đó phải thông thạo công việc/nghi lễ cúng tổ tiên, dòng họ, thần bản, cúng vía/buộc vía, v.v.

3.3. Địa điểm

Lễ cúng bản được tiến hành tại “hươn xơ pủ” (nhà thờ tổ/nhà thờ họ) của bản. Ông “pủ” (tổ) là người “khai bản” (như thành hoàng làng của người Kinh) ngày xưa. Một ngày nào đó trong quá khứ xa xôi, ông “pủ/tổ” đã đến đây (bản) tìm đất để lập bản. Ông chặt cây, phát gai, khi ngồi nghỉ ông đã cắm một cái cọc, bặn cái áo của mình lên đó. Về sau người ta gọi ông là “pủ chầu xừa” (ông chủ áo) là vì vậy. Để đánh dấu chủ sở hữu vùng đất mà ông đã khai phá, khi ra về, ông đã gài tấm “tá léo” vào cọc đó. “Tá léo” (có vùng phát âm là “ta leo”) dịch nghĩa là “mắt thần/mắt ma”, - là mảnh phên đan bằng tre/nứa lối mắt cáo, hình lục lăng để tượng trưng cho chiếc chài. Có nhiều loại “tá léo”. Loại được coi là thiêng hơn cả là “tá léo” chín lớp (cầu chặn). “Chài” hay “tá léo” có ma lực thần bí xưa đuổi được ma quỷ, bảo vệ được hồn người, che mắt được trời đất. Đó là công cụ vạn năng giúp người thắng được mọi lực lượng siêu nhiên, “dựng ở nương, ma không dám về ăn hạt; dựng trước nhà, ma không dám đến hại nhà chủ”(3). “Tá léo” cũng là vật đánh dấu chủ sở hữu (như trên đã nói). Một người nào đó cũng đi tìm đất chẳng hạn, đến nơi này thấy có “tá léo” thì biết đất này đã có chủ rồi, đi kiếm chỗ khác thôi. Điều đó đã trở thành “lệ bản luật mường” (hịt bàn khong mương) từ xưa, mọi người tự giác thực hiện, không xẩy ra tranh chấp. Ông “pủ chầu xừa” (ông chủ áo) – người “đánh dấu” mảnh đất ấy trở thành vị “thần bản”, và được dân bản thờ cúng.

“Nhà thờ/đền thờ” bản làm theo kiểu nhà sàn nhỏ, vừa đủ trải vài chiếc chiếu, bày dăm cái mâm lễ. Còn nhớ, vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước, bản Chiêng Đôn (Khủn Tinh, Quỳ Hợp, Nghệ An) có “hươn xơ pủ” ở khu rừng Pả Đông cạnh bản, cây cối rậm rì, rêu phong, dây leo xùm xòa. Trong rừng có nhiều cây Phô, cây Pàng, cây thị, cây vải, cây gạo, và cả cau, cọ, bưởi, v.v. “Hươn xơ pủ” đó nhỏ nhưng làm bằng gỗ chắc chắn, cầu thang lên bằng gỗ, sàn lát ván, phên cũng thưng ván. Mái lợp bằng tranh cọ rất dày. Lớp cha ông tôi thường tổ chức “xơ/thờ” tổ tiên, từ hồi nhỏ tôi còn được tham gia, không thể nào quên được.

3.4. Chuẩn bị

Đúng ngày “cúng bản” đã định, cả bản tập trung lại nơi “hươn xơ pủ” từ sớm, để mổ trâu, hoặc lợn (1 con khoảng 40 – 50 kg), mổ gà vịt, nướng cá, đồ xôi, nấu cơm, nấu cháo (xương với đọt chuối rừng băm nhỏ). Con trâu/lợn này trước đây đã được giao cho người vỗ béo từ mấy tháng trước; các thứ khác thì góp lại theo quy định (kể cả củi đuốc). Đàn ông được phân công mổ trâu/lợn, pha thịt, bằm xương, gói mọc, tọng dồi, làm các món thịt; đàn bà hông nếp, nấu cơm, mổ gà vịt, nướng cá, giã bột gạo, đun nồi cháo, v.v. Mọi người làm theo sự phân công, đốc thúc của trưởng bản, trưởng tộc và thầy mo. Mỗi bộ phận có một người đứng đầu (mổ trâu/lợn, đồ xôi, nấu cơm, nấu cháo, nướng cá, nướng thịt, luộc gà vịt, v.v.) làm sao đến khoảng 10 giờ là đã chín các thứ để bày ra các mâm lễ. Bày các mâm lễ là do Trưởng bản phụ trách, dưới sự hướng dẫn của trưởng tộc và thầy mo. Có 1 mâm chính và các mâm phụ (các mâm phụ không quy định số lượng, cốt bày hết các thức đã nấu ra là được). Mâm chính gồm có: thủ, vòng cổ, sống lưng (bỏ xương), 2 chân trước, 2 chân sau, tim lòng, đuôi con lợn; 1 con gà, 1 con vịt, 1 gắp cá nướng, 1 cục xôi, 2 đĩa muối ớt, 2 ống cơm lam, 2 bát cháo, 2 gói mọc, 1 đĩa dồi, 1 đĩa xương thịt băm nhỏ (lom lem), 1 chén rượu (dành cho Then), 1 chén rượu (dành cho tổ chủ mường [Lo Căm/Sầm]), 1 chén rượu (dành cho thần mường [pủ cầu xừa/pủ ống xấn]), 1 chén rượu (dành cho thần bản/tổ họ/trưởng tộc [pủ chầu xừa]). Các mâm phụ thì bày gà vịt và những thứ còn lại. Nguyên tắc là có gì bày nấy, phải bày ra cho hết (tính theo đơn vị 1/1), không thì tổ tiên trách là con cháu “không cho ăn”!

Ở vùng Mường Chiêng Ngam (Quỳ Châu), mâm “cúng bản” phải đủ 5 cái mâm, thờ 5 vị sau: (1) Thần mường; (2) Anh em Căm Lự, Căm Lạn (là chủ mường); Nguồn nước Nặm Bỏ và các thần linh khác; Thần bản/Thành hoàng của bản; tổ tiên dòng họ (ông bà, cha mẹ).

3.5. Nội dung/các bước cúng bản

3.5.1. Cúng lễ

Trưởng tộc, hoặc thầy mo (mo bản) của dòng họ (trong bản) phụ trách việc cúng. Ông là người thông thạo các bản cúng. Văn bản cúng phổ biến nhất là bản: (1) “Xở phí quai” (cúng trâu) nếu có mổ trâu, dài 135 câu/dòng thơ; (2) “Xở phí bàn” (cúng bản/cúng ma bản) dài 53 câu/dòng thơ; (3) “Lể phí pủ” (cúng tổ) dài 349 câu/dòng thơ; (4) “Xở hỏng” (cúng ông bà, cha mẹ) dài 185 câu/dòng thơ.

Sau khi mọi mâm cỗ đã chuẩn bị xong, lúc đó chậm nhất là 11 giờ trưa, trưởng tộc “ban lệnh” bưng mâm lễ lên “hươn xơ pủ” (nhà thờ/đền thờ). Những người già trong dòng họ (được phân công) bắt đầu bưng mâm cỗ lên, tiến về phía chân thang đền thờ. Người bưng mâm chính (thờ thần mường) lên trước. Trưởng tộc/thầy mo đứng đón ở đầu cầu thang, bưng mâm vào đặt xuống vị trí cao nhất trong đền thờ. Người bưng mâm chính (mâm thứ 1) quay xuống sân, người thứ 2 (bưng mâm phụ - mâm thứ 2) mới tiếp theo bước lên thang. Cứ thế, 5 người trao 5 mâm xong, quay xuống đứng chờ ở dưới sân. Trên đền thờ có 3 người trực tiếp làm lễ cúng: (1) Trưởng tộc; (2) Thầy mo; (3) Trưởng bản. Sau khi xem xét lại các mâm xem đã đủ các món/lễ vật chưa, nếu chưa đủ thì gọi bổ sung, - 3 vị này chỉnh trang lại trang phục, khăn quấn/đội trên đầu, thầy mo tiến lên một bước, 2 vị còn lại đứng thấp hơn 1 bước, - bắt đầu thắp hương, chắp tay vái, và đọc bài cúng. Thầy mo đọc 5 bài cúng (đã nói ở trên) lần lượt từng bài 1, sau mỗi bài lại cúi lạy, và rót rượu vào chén, tỏ ý mời các “thần” uống.

Nội dung các bài cúng (ví dụ ở vùng Chiêng Ngam, Quỳ Châu) như sau:    

a) Cúng thần mường (người lập mường, tổ tiên xa xôi của dòng họ chủ mường): “Nghe tiếng tôi (mo) thức, hãy dậy/ Để “đẳm chủ” (tổ tiên dòng họ chủ mường) dậy cho tỉnh ngủ/ Tỉnh ngủ rồi để vốc nước rửa mặt/ Năm vốc nước lại mà rửa mắt…” (Xiếng khòi púc khằm tửn/ Hờ đằm chầu khằm tửn mau non/ Tửn non lẹo khằm cọp nặm ma xuổi xia nà/ Hà cọp nặm ma xuổi xia tá…)(4).

b) Cúng anh em Căm Lự, Căm Lạn (dòng họ chủ mường): “Anh cả xuống ngồi Pu Quai (núi ở Quế Phong)/ Em trai xuống ngồi Mường Choọng” [Anh cả ở đây là Căm Lự, em trai là Căm Lạn] (Ải cả lông nằng pu quai/ Noọng chai lông nằng mương choọng” (Sử thi “Lai lông mương/ Xuống mường); “Xin mời tổ mường lớn xuống ngồi nhà gỗ Tậu/ Xin mời ông Chá (chức dịch) xuống ngồi vào nhà to ngoài bản/ Chủ Căm Lạn xuống ngồi quản mường” (Xó mơi pủ mương huống lông nằng hươn tậu/ Xó mơi ống chá lông nằng hàu hươn huống noọc bàn/ Chầu Căm Lạn lông nằng tì tư mương)(5).

c) Cúng nguồn nước Nặm Bỏ và các thần linh khác: “Bây giờ con xin mời!/ Mời từ ông Thần Áo, Nặm Bỏ/ Thần Áo rãnh nhà/ Mời ông tổ Tằng Tài ngọn rào/ Mời bà Giằm Giắc nuôi gà/ Mời bà Giằm Giảy nuôi lợn nuôi chó/ Mời từ ông tổ chăn ngựa ngày xưa/ Ông tổ chăn trâu ngày trước/ Có mâm trâu mời đến/ Có cỗ lớn mời về…” (Bạt nị khòi tàm mơi!/ Mơi họt Pủ Chầu Xừa, Nặm Bỏ/ Pủ Chầu Xừa hỏ hươn/ Mơi Pủ Tằng Tài pái hộ/ Mơi nhả Giằm Giắc cứa cảy/ Nhả Giằm Giảy cứa mú cứa má/ Mơi tẻ Pủ Đu Ngua mở đai/ Pủ Đu Quai mở cỏn/ Mi pa quai láng huống ma tầu/ Mi pa khầu láng quàng mơi ma…)(6).

d) Cúng thần bản [người lập bản, các vị Xiều Luông (lập bản Luông), Xiều Bọ (lập bản Bua), Xiều Kẻ (lập bản Lầu)]: “Xin mời các ông xuống với tiếng tôi (mo) cúng, tôi thờ/ Mời các ông Xiều Luông, Xiều Bọ, Xiều Kẻ/ Người có công trước đây (lập) năm bản/ Kẻ có công có lênh (lập) năm mường/ Mường Kẻ Bua (vùng hang Bua) trước đây là do các ông…” (Lông năm xiếng cu họng, cu xơ/ Mơi ống Xiều Luông, Xiều Bọ, Xiều Kẻ/ Côn mi cống tang nà hà bàn/ Côn mi càn mi kỉnh hà mương/ Mương kẻ búa mảng còn hóng ông…)(7).

e) Cúng ông bà, cha mẹ: Ví dụ bài cúng của dòng họ Lang Vi ở bản Chiêng Đôn, Quỳ Hợp: “Ôi!/ Mâm cỗ này cháu trai/ Cung kính dùng hai tay bưng lên/ Vái hai tay mời/ Mời từ Bà nàng (bà Le) ở trên bàn thờ/ Mời từ bố mẹ đã qua đời về ăn/ Bố mẹ của con là chủ Lang Vi/ Nghe tiếng mời, Bà nàng, tổ tiên hãy dậy/ 23 tháng 8 hái lá dong trơn/ Về nhà rải lá dong mượt/ Gói bánh chưng to để thờ/ Ăn no để mà độ trì/ Phù hộ độ trì con nhỏ như gốc cây cụt/ Giúp đỡ cháu trai như cây thành bụi/ Đừng để đói rách/ Đừng gặp những đen đủi lớn/ Thêm một năm tới/ Cầu lộc cho được lộc/ Cầu tài cho được tài…”(8). [Bà nàng” ở đây là bà Le, người đã có công đánh đuổi quân Minh ở trên núi Pu Chẻ (bản Le) thế kỷ XV. Bà là người họ Vi].

3.5.2. Kết thúc

Cúng lễ xong, hương nhang tàn, thời gian quá giờ “chính ngọ” một chút, là người ta có thể “hạ mâm” được. Thầy cúng nói: “Then/Bôn (trời), tổ tiên và các thần linh (phí) ăn uống rồi, xin mời “về nghỉ”, con cháu xin phép được “hạ mâm” nhé!”. Nói rồi, cả 3 người (mo, trưởng tộc, trưởng bản) cúi lạy 3 cái, lễ cúng bản hoàn tất. Mấy người bưng mâm lúc đầu được gọi lên để bưng mâm xuống sân. Người ta tổ chức ăn uống cả bản tại nhà trưởng tộc. Tất cả xôi thịt, cá, cháo, v.v. được chuyển hết về nhà. Trưởng bản rao gọi mọi người trong bản đến ăn lễ không để thiếu một người nào, từ người già cho đến trẻ em. Các mâm phía trên dành cho đàn ông. Các mâm phía dưới dành cho đàn bà và trẻ em. Trưởng tộc lại chỗ bàn thờ trong nhà, “cúng qua” vài câu, kính báo với tổ tiên rằng hôm nay là ngày cúng bản (sau sẽ cúng nhà [xến hươn]), vậy con cháu xin được mời “ăn cơm, uống rượu” và con cháu dũng xin phép được “ăn cơm, uống rượu nhé!”. Trưởng tộc cúng xong, mời tất cả mọi người ăn uống. Tổ được phân công phục vụ ăn uống sẽ phân chia xôi thịt, cá cháo, v.v. cho mọi mâm đủ để mọi người được no say.       

Ăn uống xong, cả ngày và đêm hôm đó dân bản uống rượu cần, vui chơi (ném “còn”, kéo co, nhảy sạp, khắc luống, đi cà kheo, “tỏ mạc lẹ” (chọi quả “lẹ”), chọi gụ, bắn nỏ, v.v.; đánh cồng chiêng, hát dân ca [nhuôn, lăm, xuối], trai gái hát giao duyên hoặc nghe diễn xướng sử thi “Khủn Chưởng”, “Xuống mường”, “Trông mường”; nghe diễn xướng truyện thơ “Chim yểng”, “Xử Thôn”, “Khủn Tưởng – Khủn Tinh – Nàng Ni”, v.v.

4. Kết luận.

Cúng bản là một lễ hội mà ở đó thể hiện ước mơ, nguyện vọng của con người về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con người khỏe mạnh, không ốm đau, bệnh tật, v.v. Nó là lễ hội cầu yên cầu lành cho tất cả mọi người trong bản. Cúng bản là lễ hội nông nghiệp của cư dân Thái (mở đầu một năm làm ăn, lao động sản xuất). Đó còn là dịp cộng đồng dân bản củng cố tình đoàn kết gắn bó với nhau trong họ tộc và giữa họ tộc này với họ tộc khác. Cúng bản cũng là để ghi nhớ công ơn của tổ tiên đã có công “khai mường lập bản”, có công đánh giặc bảo vệ bản mường, v.v. Lễ hội này còn là nơi lưu giữ và phát triển vốn văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc của người Thái./. 

Chú thích

(1) Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 480.

(2) Đặng Thị Oanh (chủ biên), Lễ hội dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 238 – 250.

(3) Đặng Nghiêm Vạn, Sđd, tr. 438.

(4), (5), (6), (7), (8) Tác giả sưu tầm và dịch.

Chức năng nhiệm vụ khác:
Vận dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng hiện nay (4/7/2017)
Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh một thế kỷ nhìn lại (4/7/2017)
Đôi điều về công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" (4/7/2017)
Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại (4/7/2017)
Cúng bản (4/7/2017)
Dấu vết, di tích lịch sử của nghĩa quân Lê Lợi trên đất Anh Sơn (4/7/2017)
Rừng có phải là “vàng” của người Việt? (4/7/2017)
Bàn thêm cách dịch bài thơ "Thiết cảng" (4/7/2017)
Trung tâm KHXH&NV Nghệ An - Dấu ấn qua 10 năm và mô hình phát triển (23/5/2017)
Xây dựng Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An trở thành đầu mối khoa học của tỉnh, của vùng (23/5/2017)
Khoa học xã hội và nhân văn – mười năm phát triển và mấy giới hạn (23/5/2017)
MƯỜI NĂM HOẠT ĐỘNG - NHỮNG KẾT QUẢ ĐÁNG GHI NHẬN (Tiếp theo) (30/12/2016)
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN - MỘT DIỄN ĐÀN KHOA HỌC TIN CẬY VỀ XỨ NGHỆ (30/12/2016)
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN NĂM 2016 (29/12/2016)
MƯỜI NĂM TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN VỚI VIỆC GIẢI PHÓNG TIỀM NĂNG KHXH&NV XỨ NGHỆ (29/11/2016)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 847 | Tất cả: 3,328,321
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp