CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Rừng có phải là “vàng” của người Việt?
Tin đăng ngày: 4/7/2017 - Xem: 1165
 

Nguyễn Văn Toàn

 

Rừng ở Việt Nam rất quan trọng cho đời sống và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Về tiềm lực kinh tế thì rừng được ví như vàng, còn biển chỉ là bạc. Biết bao ký ức về rừng vẫn còn đọng lại trong tâm thức người Việt Nam.

Rừng trong văn hóa Việt Nam

Rừng có giá trị nhiều mặt cho con người. Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí, bảo vệ và cải tạo đất, chống hạn hán lẫn lũ lụt. Rừng cũng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, nhiều loại cây khác nhau. Rừng chính là “nguồn sống” của những bầy người nguyên thủy, của các thị tộc, các bộ lạc trên đất nước ta trước và trong thời đại Hùng vương. Rừng còn là nơi nhân dân ta nương náu trong cuộc cuộc chống ngoại xâm nhà Tần. Bởi thế, rừng gắn với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, gắn liền với một nền văn hóa cổ xưa của dân tộc. Trong chiến đấu thì có câu thơ “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” của nhà thơ Tố Hữu.

 “Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…”

Những câu thơ trên của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chính là nét mộc mạc của khởi nguồn dân tộc ta. Nhân dân ta đã lớn lên bằng những cái “ngày xửa ngày xưa..” nhưng rất thật:

“Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh

Không hề lừa ta dù cao dao, cổ tích

Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật”

Vậy nên, những câu chuyện cổ tích, những huyền thoại, những truyền thuyết vẫn sống mãi trong lòng dân tộc ta như một minh chứng về một thời đại đã qua nhưng không bao giờ bị quên lãng!

Đầu tiên, huyền thoại “Lạc Long Quân và Âu Cơ” kể chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ và sinh ra được một bọc 100 trứng, nở thành 100 người con. Một hôm Lạc Long Quân bảo với Âu Cơ: Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, ở với nhau lâu không được. Vậy nàng hãy đưa năm mươi con lên rừng. Ta đưa năm mươi con xuống vùng biển. Như vậy, ngay từ đầu, rừng được xác định là một địa bàn sinh sống quan trọng của dân tộc ta! Bởi thế nên dân gian ta có câu cửa miệng: “Rừng vàng, Biển bạc”. Chính tại nơi đây, người con trai trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã lên ngôi ở Phong Châu (Phú Thọ), lấy hiệu là Hùng Vương và lập ra quốc gia Văn Lang, mở đầu một thời đại mới cho dân tộc ta!

Trong truyền thuyết “Vua Hùng dạy dân cấy lúa” đã viết rằng: Thuở xưa, nhân dân chưa biết cày cấy làm ra thóc gạo mà ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, quả cây và các loại rau dại, lúa hoang nhặt được.... Như vậy, trước thời vua Hùng, nhân dân ta vẫn sống dựa vào rừng là chính, đây chính là lối sống săn bắt hái lượm thời tiền sử mà mọi dân tộc đều phải trải qua. Cho nên các lâm sản như thịt rừng, quả dại, rau dại, thậm chí rễ cây chính là nguồn sống của nhân dân ta thời đó! Nhưng sau đó, từ loài lúa hoang nhặt được từ rừng, Hùng vương đã dạy nhân dân cách trồng lúa nước và tạo ra được một nền văn minh Sông Hồng rực rỡ! Hiện nay, nhiều học giả đã chứng minh được rằng nước ta là một trong những ‘cái nôi” của nền văn minh lúa nước! Chính rừng, chứ không phải nơi nào khác, đã cưu mang cho dân tộc ta trong thời kỳ tiền sử để rồi cũng chính từ rừng, từ cây lúa hoang của rừng đã tạo ra một nền văn minh nông nghiệp lúa nước rực rỡ của dân tộc ta!

Bên cạnh đó, “Sự tích trầu cau” cho thấy cây trầu, cây cau, vôi, những nguyên liệu làm nên món trầu cau truyền thống của người Việt Nam ta, được người dân phát hiện ra ở rừng. “Sự tích trầu cau” kể lại rằng: Sau khi người em bị người chị dâu nhầm là chồng mình (vì hai anh em sinh đôi giống nhau như tạc) nên ôm chầm lấy khiến người em xấu hổ thì: Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, người em ngồi một mình nhìn ra khu rừng xa xa, cảm thấy cô quạnh, lại càng buồn tủi, vùng đứng dậy ra đi. Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm u. Trời bắt đầu tối, trăng đã lên, mà chàng vẫn cứ đi. Đi đến một con suối rộng nước sâu và xanh biếc, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc thổn thức, tiếng suối reo và cứ reo, át cả tiếng khóc của chàng. Đêm mỗi lúc một khuya, sương xuống mỗi lúc một nhiều, sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng, chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá. Người anh trai thương nhớ nên đi tìm em, người vợ thương nhớ nên tìm chồng đều đã đi đến nơi người em trai đã ngồi. Như vậy, trong câu chuyện trên, cả người em, người anh và người chị dâu đều đi đến vùng “rừng sâu âm u” và hóa thành thấy tảng đá làm vôi, cây cau, cây trầu. “Sự tích trầu cau” kể tiếp: Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay cay. Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi cái cây mọc thẳng kia là cây cau, cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ. Như vậy, chính vua Hùng là người đã thử nghiệm và phát hiện ra món trầu cau truyền thống của người Việt Nam ta từ những sản vật của rừng! Đây là một câu chuyện cổ tích nhưng cũng chứng tỏ “miếng trầu là đầu câu chuyện” cũng không thoát khỏi nguồn gốc của chúng là từ rừng!

Tiếp theo, sự tích “Bánh chưng, bánh dày” đã kể lại rằng: Vào đời Hùng vương thứ sáu, vua tuổi già nên muốn truyền ngôi. Nhân gần đến ngày giỗ Hùng Vương thứ năm, vua Hùng bảo các con hãy đi kiếm của ngon vật lạ để dâng lên. Ai tìm được sẽ truyền ngôi cho. Các vị quan lang lên đường tìm sơn hào hải vị, họ hi vọng mình sẽ được truyền ngôi… Đến ngày giỗ, các quan lang lần lượt đem về những túi sơn hào hải vị to tướng. Vị quan lang thứ hai dâng lên món gân nai hầm, vị quan lang thứ ba dâng lên món tay gấu và vị quan lang thứ tư dâng lên món nem công, chả phượng cực kỳ thơm ngon. Điều này cho thấy, vào thời Hùng Vương thứ sáu đã bắt đầu có việc khai thác các sản vật của rừng để chế biến các món ăn cầu kỳ như tay gấu, nem công chả phượng nhằm phục vụ cho đời sống cung đình ở kinh đô Phong Châu của nước Văn Lang. Tuy nhiên, vua Hùng thứ sáu lại chọn bánh chưng, bánh giầy do Lang Liêu dâng lên. Hai thứ bánh này được làm từ lúa gạo và thịt lợn. Chứng tỏ vào giai đoạn này, sản xuất nông nghiệp, gồm hai lĩnh vực là trồng trọt và chăn nuôi đã bắt đầu phát triển và chiếm lấy vị thế kinh tế, dần đẩy lùi lối sống săn bắt và hái lượm ở rừng. Tuy nhiên, có thể cho rằng kinh tế rừng vẫn chưa mất hẳn tính quan trọng của nó trong thời kỳ này.

Cuối cùng, trong truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, Sơn Tinh là thần núi Tản Viên đến xin vua Hùng thứ mười tám cưới Mỵ Nương. Nhưng vì có Thủy Tinh, thủy thần sông Hồng cũng xin cưới Mỵ Nương nên vua Hùng đã dùng cách thách cưới. Lễ vật có: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nẹp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Ai đem lễ vật đến trước sẽ cưới được Mỵ Nương. Nhìn vào lễ vật thì chúng ta thấy được vua Hùng ưu ái Sơn Tinh rõ ràng. Vì voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao là những sản vật chỉ có ở rừng. Bởi thế, Sơn Tinh là người đến sớm hơn Thủy Tinh và cũng là người lấy được Mỵ Nương!

Truyện xưa là vậy nhưng đủ để cho ta biết người Việt cổ đã khai thác rừng và coi trọng rừng như thế nào! Chính vỉ vậy, trên trống đồng Đông Sơn, một linh khí của thời Văn Lang cũng có những khắc những con vật ở rừng như chim, thú như hươu nai, cáo, chim lạc... Vào mùa lễ hội, người dân Văn Lang cũng đội những chiếc mũ bằng lông chim rừng.

Chính vì nguồn lợi rừng của nước ta vô cùng phong phú nên người phương Bắc đã bắt đầu dòm ngó! Tư liệu cổ nhất ghi chép về việc nhà Tần xâm lược nước ta là sách “Hoài Nam tử” của hoàng thân nhà Hán là Hoài Nam vương Lưu An, sống sau thời Tần khoảng trên 50 năm. Lưu An lý giải thêm nguyên nhân “nam tiến” của vua Tần là do “ham sừng tê, ngà voi, lông trả, ngọc châu và ngọc cơ của người Việt, bèn sai Đồ Thư mang 50 vạn binh chia làm 5 đạo…”. Để tránh thế mạnh của quân Tần, người Việt rút vào rừng sâu để đánh tỉa dần quân giặc và cùng nhau bầu thủ lĩnh mới để chống địch. Thục Phán trở thành thủ lĩnh đứng lên chống Tần. Về sau chính là An Dương Vương, người lập ra nhà nước Âu Lạc.

Về mặt tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có liên quan đến rừng. Đó là Mẫu Thượng Ngàn. Mẫu Thượng Ngàn theo tương truyền là Quế Hoa Mị Nương công chúa, con vua Hùng Vương. Theo sự tích khi sinh bà ra, Hoàng Hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên vua Hùng Vương mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa. Sau khi sinh được bà thì Hoàng Hậu cũng qua đời nên lớn lên bà quyết chí tu hành, không kết duyên, về sau cùng mười hai nàng thị nữ vào rừng sâu. Sau đó nhiều lần bà hiển linh, dạy dân trồng trọt, làm ăn, biết lên rẫy làm nương, đi rừng, làm ruộng bậc thang. Tín ngưỡng thờ Mẫu được nhìn nhận là đã xuất hiện từ thời Hùng vương và có thể còn trước đó nữa khi các thị tộc mẫu hệ và kinh tế rừng vẫn còn thống trị.

Rừng đang “kêu cứu”!

Vì các nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu biết khai thác một cách hợp lý và có kế hoạch trồng rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả mãn được các nhu cầu của mình, vừa không làm tổn hại đến rừng.

Rừng hiện nay đang bị chặt phá trước tiên là để lấy đất làm nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, nuôi thuỷ sản, xây dựng...  kéo theo đó là hệ động vật trong rừng bị khủng hoảng, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng. Hiện nay ở đất nước ta đã có hiện tượng những nhóm lâm tặc vào rừng để đốn trộm gỗ, săn bắt lâm sản. Bên cạnh đó không ít những thợ săn chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư cũng tham gia để thỏa mãn thú vui. Nguyên nhân nữa gây mất rừng là do dùng lửa thiếu thận trọng trong rừng, thiên tai, chiến tranh... Nhiều vùng rừng bị chất độc hoá học tàn phá trong chiến tranh đến nay vẫn chưa mọc lại được.

Theo thống kê, từ năm 2008 đến nay, đã có trên 100.000 ha đất rừng khộp - một hệ sinh thái đặc thù của thế giới - tại Tây Nguyên bị chuyển đổi sang trồng cao su. Tương tự, diện tích rừng ngập mặn từ 400.000 ha năm 1943, đến nay chỉ còn 130.000 ha. Diện tích san hô toàn quốc, mệnh danh là “khu rừng dưới biển” đã giảm đến 10%, hiện còn 14.000 ha, trong đó chỉ 3% phát triển thêm.

Về pháp luật thì rừng thuộc tài sản của quốc gia, của chung của xã hội và của toàn thể cộng đồng. Không một ai được hưởng dụng rừng khi Nhà nước chưa cho phép. Ở địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số trước đây còn có “khu rừng thiêng”, “rừng cấm” không cho bất kỳ ai đốn gỗ, nhặt củi, tắm giặt để bảo vệ nguồn nước, tránh thảm họa lũ lụt.

Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh vật. Năm 2007, Việt Nam có 880 loài động, thực vật được ghi vào Sách đỏ, trong đó có những loài sống ở rừng. Đến nay, đã có 10 loài động vật bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên là: tê giác hai sừng, tê giác một sừng, bò xám, lợn vò, cầy rái cá, cá chình Nhật, cá chép gốc, cá lợ thân thấp, hươu sao, cá sấu hoa cà.

Bên cạnh đó, vào cuối năm 1975, có tới 2.000 con voi rừng ở Việt Nam nhưng hiện nay chỉ còn có 50 con. Nghiệt ngã thay, Chúa Sơn Lâm cũng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường vào năm 2012, số lượng hổ ở Việt Nam chỉ còn khoảng 28 - 47 cá thể sinh sống rải rác ở các khu rừng hẻo lánh và đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt diệt do bị săn bắt, buôn bán và mất nơi sinh sống. Sau hổ sẽ là các loài như các loài chim quý, tê tê… sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng nếu như Việt Nam không mạnh tay hơn trong công tác bảo vệ cá thể sinh vật và bảo tồn môi trường sống hoang dã cho chúng. Đó là dự đoán của tổ chức Quỹ động vật hoang dã (WWF), Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV).

Các chuyên gia linh trưởng trên thế giới cũng đã công bố Danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất toàn cầu giai đoạn 2014-2016, trong đó có ba loài ở Việt Nam. Hơn 100 năm qua không có ghi nhận nào về linh trưởng bị tuyệt chủng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đang có nguy cơ nhận “danh hiệu” là “quốc gia đầu tiên có linh trưởng bị tuyệt chủng”, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) - Chương trình Việt Nam đã đưa ra cảnh báo vào cuối năm 2015.

Do đó, Đề án ứng phó biến đổi khí hậu của Bô Tài nguyên và Môi trường đã đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ nâng độ che phủ rừng lên 45%, ổn định diện tích rừng đặc dụng trên 2 triệu héc ta, phục hồi 0,62 triệu héc ta rừng tự nhiên, trồng thêm 250.000 héc ta và tái sinh tự nhiên 750.000 héc ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cải tạo 350.000 héc ta rừng tự nhiên nghèo. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Trồng cây là việc làm nhỏ, mọi người đều làm được nhưng đem lại lợi ích rất lớn. Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây...”.

Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn bảo vệ môi trường sống của nhân dân thì phải bảo vệ “lá phổi xanh”. Tại Đại hội Chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ 3 (23/5/1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định rằng: “Núi trọc như đầu bình vôi/ Sông không có nước, nước hiếm hoi như vàng/ Hàng năm hạn hán tan hoang/ Người người đói rách, làng làng xác xơ”.

Tiếp đó, khi cả nước đang chuẩn bị bước vào thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Tết trồng cây gây rừng”. Trong bài: “Tết trồng cây”, đăng trên Báo Nhân dân số 2082, ngày 28/11/1959, Người nêu rõ: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều... Nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta...”. Đối với Bác, trồng cây không chỉ là lợi ích trước mắt mà còn là mùa Xuân: “Mùa Xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. 

Trong bài nói chuyện với đại biểu thanh niên sáng ngày 5/2/1961 tại vườn hoa Thanh niên Công viên Thống nhất, Bác nói: “Nếu mỗi cháu thanh niên một năm trồng 3 cây chăm sóc thật tốt, thì tám triệu thanh niên miền Bắc sẽ

trồng được 24 triệu cây. Năm năm liền, các cháu sẽ trồng được 120 triệu cây”.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi năm 1963, Bác ân cần nhắc nhở: “Các cô, các chú cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng. Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại. Phá rừng thì dễ, nhưng gây dựng lại rừng phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều”.

Năm 1968, Bác căn dặn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Đàm Quang Trung, Tư lệnh Trưởng Quân khu IV: “Chiến tranh, bộ đội thường phải trú quân trong rừng nên phải hướng dẫn cho anh em tận dụng hang động, hạn chế tối đa việc chặt cây, phá rừng. Chặt cây động rừng, muông thú không có nơi ở phải bỏ đi lang thang. Bộ đội ở rừng gặp thú rừng là đương nhiên. Trong tay lại có súng, có đạn nên việc sát hại thú rừng là dễ xẩy ra lắm. Chú về chỉ thị, nhắc nhở toàn quân không được săn bắn thú rừng... Ta lại còn săn bắn nữa thì nay mai đất nước hòa bình, giang sơn đâu còn là rừng, rừng đâu còn muông thú? Thế chẳng khác gì đất không có người, sông không có cá”.

Bà Ketherine Muller - Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 2010 đã nhận định: “Với tầm nhìn xa rộng của mình, Người đã nhận thấy trước ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tăng cường mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, làm thủy lợi và cải thiện chất đất. Người khuyến khích nhân dân trồng thật nhiều cây”./.

Chức năng nhiệm vụ khác:
Vận dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng hiện nay (4/7/2017)
Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh một thế kỷ nhìn lại (4/7/2017)
Đôi điều về công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" (4/7/2017)
Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại (4/7/2017)
Cúng bản (4/7/2017)
Dấu vết, di tích lịch sử của nghĩa quân Lê Lợi trên đất Anh Sơn (4/7/2017)
Rừng có phải là “vàng” của người Việt? (4/7/2017)
Bàn thêm cách dịch bài thơ "Thiết cảng" (4/7/2017)
Trung tâm KHXH&NV Nghệ An - Dấu ấn qua 10 năm và mô hình phát triển (23/5/2017)
Xây dựng Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An trở thành đầu mối khoa học của tỉnh, của vùng (23/5/2017)
Khoa học xã hội và nhân văn – mười năm phát triển và mấy giới hạn (23/5/2017)
MƯỜI NĂM HOẠT ĐỘNG - NHỮNG KẾT QUẢ ĐÁNG GHI NHẬN (Tiếp theo) (30/12/2016)
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN - MỘT DIỄN ĐÀN KHOA HỌC TIN CẬY VỀ XỨ NGHỆ (30/12/2016)
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN NĂM 2016 (29/12/2016)
MƯỜI NĂM TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN VỚI VIỆC GIẢI PHÓNG TIỀM NĂNG KHXH&NV XỨ NGHỆ (29/11/2016)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,086 | Tất cả: 3,328,560
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp