CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Bàn thêm cách dịch bài thơ "Thiết cảng"
Tin đăng ngày: 4/7/2017 - Xem: 860
 

(Trao đổi với tác giả Nguyễn Huy Khuyến nhân đọc bài “Giá trị lịch sử qua các bài thơ

về địa danh ở Nghệ An của vua Thiệu Trị” đăng trên chuyên san KHXH&NV NA số 6/2015)

Thái Huy Bích

Câu lạc bộ Hán Nôm Nghệ An

Tôi cảm thấy thú vị khi được đọc bài“Giá trị lịch sử qua các bài thơ về địa danh ở Nghệ An của vua Thiệu Trị”. Tác giả Nguyễn Huy Khuyến (NHK) đã rất công phu sưu tầm, viết đầy đủ cả chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa. Riêng bài thơ “Thiết cảng” có đôi chỗ tôi cảm nhận hơi khác, xin được trao đổi cùng tác giả.

I. Về số chữ trên văn bia (1)

1. In sao nguyên văn chữ Hán và cách trình bày bia đá (có ảnh bia kèm theo)

(Văn bia chữ Hán đọc theo hàng dọc, từ phải sang trái. Khi in sao chúng tôi chuyển thành hàng ngang, đọc từ trái sang phải, nhưng vẫn giữ cách trình bày như ở bia đá. Chữ “隆” (long) cuối câu thơ thứ 6 được tách riêng đứng đầu dòng. Phần thơ chữ lớn. Phần chú thích xen vào các câu thơ, chữ nhỏ hơn hẳn)

                                           

  回小澗萬峰中聞道前人藉化鐵穴山腰留爛石  天威港

口淺流通   史 記 唐 時 高  駢 為  安 南 都 護  駢 使 林 諷 領 眾 疏 鑿 此

                         港  以 便 漕 運 至 興 元 縣  山 岡 亂 石 人 工摧  折 殆 欲 中

     止 時 五月  忽 當 晝 雷 震 數 百 聲 打 碎 其 亂 石 尚 遺 一 巨 石 眾 工

     亦力不能 施 悉 成 港 道   六月  間 雷 復 大 震 將 巨 石 一 時 碎 裂   港

     道 乃 成 時 人 稱 為 天 威 港 港

     之西是鐵穴山 故有名鐵港           玄微莫狀神機異 平坦尤徵世道

      相 傳 此 港 道 因 有 江 河 引 流 通 之 嶺 岫 随 勢 鑿 之 自 河 內 可

       通 乂 安 以 南 今 則 相 夾  田 疇 涵 蓄 資農 若 於 山 下 縈 紆 則  浮

        沙 日 壅 已 成 平 地 似 乎 天 意 漕 運 有 方 設 險 有 所 居 中 禦 外 不

        可 通 達 如 初 玄 妙 機 緘 亦未 可 知 玆 因 事 以 理 論 之 怪 異 之 事

        耳 食 之 言                         隴蜀崤函無二比 搬耡趙楚妙何窮 

         未 足 信 也   

  紹治二年十二月吉日               恭鐫                                                                      

 

2. Phiên âm

Tách riêng Bài thơ                                 

                             Thiết cảng

           Oanh hồi tiểu giản vạn phong trung.

           Văn đạo tiền nhân tạ hóa công.

           Thiết Huyệt sơn yêu lưu lạn thạch .             

           Thiên Uy cảng khẩu thiển lưu thông.        

           Huyền vi mạc trạng thần cơ dị .                  

           Bình thản vưu trưng thế đạo long.

           Lũng thục hào hàm vô nhị tỷ.                     

           Ban sừ triệu sở diệu hà cùng.

Lời chú

           Sử ký: Đường thời Cao Biền vi An Nam Đô hộ. Biền sử Lâm Phúng lãnh chúng sơ tạc thử cảng dĩ tiện tào vận. Chí Hưng Nguyên huyện, sơn cương loạn thạch, nhân công tồi chiết đãi dục trung chỉ. Thời ngũ nguyệt, hốt đương trú lôi chấn sổ bách thanh, đả toái kỳ loạn thạch. Thượng di nhất cự thạch, chúng công diệc lực bất năng thi tất thành cảng đạo. Lục nguyệt gian, lôi phục đại chấn, tương cự thạch nhất thời toái liệt. Cảng đạo nãi thành. Thời nhân xưng vi Thiên Uy cảng. Cảng chi tây thị Thiết Huyệt sơn cố hữu danh Thiết cảng. Tương truyền thử cảng đạo, nhân hữu giang hà, dẫn lưu thông chi lãnh tụ, tùy thế tạc chi, tự Hà Nội khả thông Nghệ An dĩ nam. Kim tắc tương giáp điền trù hàm súc tư nông, nhược ư sơn hạ oanh hu tắc phù sa nhật ủng, dĩ thành bình địa. Tự hồ thiên ý, tào vận hữu phương, thiết hiểm hữu sở, cư trung ngự ngoại, bất khả thông đạt như sơ. Huyền diệu cơ giam diệc vị khả tri. Tư nhân sự dĩ lý luận chi, quái dị chi sự. Nhĩ thực chi ngôn, vị túc tín dã. 

           Thiệu Trị nhị niên, thập nhị nguyệt cát nhật.   

            Cung tuyên.     Ngự chế thi nhất thủ .

3. Nhận xét:

           Về số lượng chữ Hán ở bia đá hoàn đầy đủ như văn bản “Ngự chế Bắc tuần thi tập”. Không phải thiếu 2 chữ như phần “Chú thích” của NHK. Cũng không phải sai khác 5 chữ như bảng “Một vài so sánh...”. Việc sai khác, chỉ là do “tam sao thất bản mà thôi”.                      

II. Về dịch nghĩa văn bia 

1. Tên bài thơ  là “Thiết cảngdịch là “kênh Sắt”, không phải “cảng Sắt”.

          Chữ “港” (cảng) có các nghĩa sau: 1/ Sông nhánh; 2/ Bến lớn để thuyền bè lớn đậu. Trong bài thơ này chữ “港” (cảng) khi thì dùng với nghĩa là bến sông, như “天威港口” (cảng Thiên Uy), khi thì dùng với nghĩa là sông, như “ 鐵港 ” (kênh Sắt), “ 港 道 ” (đường sông).

          Trong bản đồ huyện Hưng Nguyên thời Nguyễn, ở phía Bắc có một dòng kênh, trên đó đề như sau “ 鐵港自禁江至天威 港... (kênh Sắt từ sông Cấm đến cảng Thiên Uy...).

2. Về bản dịch bài thơ Kênh Sắt

          Hai câu kết bài thơ Thiết Cảng:  “Lũng thục hào hàm vô nhị tỷ,/ Ban sừ triệu sở diệu hà cùng.” Tác giả NHK dịch như sau: “Núi non của Lũng Thục cũng không sánh được, / Dời đến nước Triệu nước Sở vẻ đẹp sao hết được”. Lời dịch này không thể là đoạn kết bài thơ tả cảnh một con kênh của Việt Nam. Vua Thiệu Trị có ý thức tự tôn dân tộc khá cao. Trong thơ ít khi dùng điển tích Trung Quốc. Vì vậy những từ “Núi non của Lũng Thục...”, “Dời đến nước Triệu nước Sở...” thật lạ lẫm. Nhưng dịch đúng nghĩa của hai câu thơ trên thật khó. Tôi giới thiệu một cách dịch khác bài thơ Thiết Cảng, cố gắng lột tả ý tác giả, không quá câu nệ chữ nghĩa:

                              Kênh Sắt                             

                Suối chảy quanh quanh, núi điệp trùng. 

                Nghe nói người xưa cậy hóa công.

                Núi Sắt lưng sườn còn đá vụn,    

                Thiên Uy cảng khẩu khó lưu thông.

                Huyền vi như thể sức thần lạ,             

                Bằng phẳng càng hay thế sự hưng.               

                Đồng ruộng, núi non đâu sánh được,

                Sông thành bình địa, diệu kỳ không! (2)

3. Lời chú trên văn bia minh họa tứ thơ ở trên:

            Sử chép thời nhà Đường cai trị nước ta, Cao Biền làm An Nam đô hộ sứ (865-875) đã sai Lâm Phúng bắt dân ta đào con kênh để tiện việc vận chuyển. Khi đến địa phận Hưng Nguyên thì gặp những tảng đá lớn không sao đào tiếp được nữa. Trong lúc mọi người tưởng đã bó tay thì một hôm, vào tháng 5, giữa ban ngày bỗng có sấm sét dữ dội. Nhiều tảng đá bị đánh vỡ tan tành, chỉ còn một tảng đá lớn cản đường, khiến người dân không thể đào xong kênh. Đến tháng 6 lại có một tiếng sét lớn, hòn đá ấy lập tức vỡ vụn. Con kênh vừa đào xong, người ta gọi là kênh Thiên Uy. Vì phía Tây có núi Sắt nên còn có tên là kênh Sắt.

           Tương truyền, con kênh được đào dựa vào những con sông nhỏ men theo các hẻm núi, đi từ Hà Nội đến Nghệ An, rồi vào Nam. Nay thì ruộng lúa của nhà nông bao quanh chân núi làm cho phù sa ngày càng lấp đầy lòng kênh, trở thành bình địa. Tựa hồ ý trời: Việc vận chuyển đường sông phải theo phương đã định, nơi hiểm yếu thì có che chắn bên ngoài,  không cho đi lại dễ dàng.

            Điều huyền diệu chưa thể hiểu hết. Câu chuyện trên đây thật quái lạ . Nhưng chỉ căn cứ lời truyền tụng thì chưa đủ tin.

            Một ngày tốt lành, tháng 12  năm Thiệu Trị thứ hai (1842)

            Cung khắc một bài thơ của nhà Vua.   

          III. Vài nét về lịch sử con kênh Sắt

          Có thể giải thích chuyện quái lạ về việc kênh Sắt thời Cao Biền đã đào sau bị lấp như sau. Kênh đi qua núi Sắt, nơi có mỏ sắt, nên thường có sét. Có thể đã có một trận sét đánh vào hòn đá lớn gần sát cảng Thiên Uy, nay còn có hòn đá lớn bị nứt đôi, dân địa phương gọi là hòn Nẻ. Do vướng đá, nên thời ấy, cả đến thời vua Hồ Quý Ly, kênh vẫn đào dở dang. Đoạn kênh đã đào xong phía hạ lưu bị bồi lấp dần là lẽ tự nhiên, chứ chẳng phải ý trời như đồn đoán của người xưa. Khi mới đào người ta đặt tên kênh Thiên Uy, nhưng do kênh bị tắc ở đoạn có đá ngầm nên thuyền bè đến đây phải bốc dỡ hàng hóa để chuyển tiếp vào nam bằng phương tiện khác. Vì vậy xuât hiện cảng Thiên Uy. Cảng này chỉ biến mất khi đào xong kênh Sắt.

          Nơi dựng bia bài thơ Kênh Sắt, từng có đền thờ Bạch Y công chúa. Tương truyền vua Hồ Quý Ly sai dân đào kênh Sắt. Đến đoạn này gặp đá, đào mãi không xong. Vua sai công chúa mặc áo trắng đến động viên dân chúng. Thấy dân mỏi mệt, ốm đau nhiều, nàng đã đồng tình cho dân phu làm điều dại dột, giã một loại lá cây khi ngâm xuống nước có màu đỏ như máu, rồi bẩm báo rằng nơi đây có long mạch không thể đào. Âm mưu bại lộ, nhà Vua cho chém con gái và xử tử kẻ bày mưu. Mặc dầu vậy, kênh vẫn đào không xong. Nhân dân tiếc thương công chúa, lập đền thờ nàng. Giai thoại trên không chắc là thật, nhưng việc Hồ Quý Ly đào kênh Sắt dở dang là có thật. Đền Bạch Y cũng có thật, nhưng đã bị phá hồi chiền tranh.

          Năm 1866, niên hiệu Tự Đức 19, Tổng đốc Hoàng Tá Viêm vâng mênh Triều đình chỉ huy đào kênh Sắt. Nhờ tài ba của nhà địa chất Nguyễn Trường Tộ mà kênh Sắt đã đào xong. Đây là công trình có ý nghĩa to lớn về giao thông vận tải không chỉ thời ấy mà cả trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta.

          Trong bài “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ”, Nguyễn Trường Cửu có viết một đoạn về thân phụ mình như sau: “Tháng 5 năm Bính Dần, niên hiệu Tự Đức 19, Bộ sai quan Tổng Đốc Nghệ An là ông Hoàng Tá Viêm ra đào kênh Sắt. Người được chỉ ra trọ nơi Kim Khê, thì người viết thơ cậy ông Tộ đi khám xem hình đất thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan vua Đường bên Tàu, sang làm quan Đô hộ nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ, đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì nhiều đá lớn, như bên Tây có mìn thì cho nổ phá đi, ta không có nên phải tránh. Ông cắm tiêu một buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành. Ông Tộ có làm bài thơ mừng kênh Sắt” (3)./.

        Chú thích

        (1) Bia dựng ở bên trái dốc Tuần (từ Vinh ra), thuộc xóm 9 xã Diễn An, huyện Diễn Châu. Khi xưa nơi này thuộc huyện Hưng Nguyên. Bia một mặt khổ 63 x106 (cm), trán bia hình bán nguyệt chạm đầu rồng, xung quanh chạm hoa lá xoắn đều. Toàn bia gồm 14 dòng khoảng 300 chữ. Không khắc tên người viết. Không có nhà che bia. Năm 2013, khi mở rộng đường Quốc lộ I, đơn vị thi công đã chuyển vị trí bia, lùi mấy mét về phía núi, nằm sát bên lề đường, đồng thời xây nhà che bia.

       (2) Từ  隴蜀 (lũng thục): Có thể hiểu là một giải ruộng. Ch  (triệu): Còn có nghĩa trả lại. Ch (s): Còn có nghĩa bụi cây, bụi gai.

        (3) Nguyễn Trường Tộ- Tập 1- Trương Bá Cần- Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm- 1991- Tr 128. Nói thêm, ông Trường Bá Cần đã nhầm lẫn khi cho rằng kênh Sắt là kênh Gai.

Chức năng nhiệm vụ khác:
Vận dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng hiện nay (4/7/2017)
Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh một thế kỷ nhìn lại (4/7/2017)
Đôi điều về công trình "Văn hóa phồn thực dân gian xứ Nghệ" (4/7/2017)
Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại (4/7/2017)
Cúng bản (4/7/2017)
Dấu vết, di tích lịch sử của nghĩa quân Lê Lợi trên đất Anh Sơn (4/7/2017)
Rừng có phải là “vàng” của người Việt? (4/7/2017)
Bàn thêm cách dịch bài thơ "Thiết cảng" (4/7/2017)
Trung tâm KHXH&NV Nghệ An - Dấu ấn qua 10 năm và mô hình phát triển (23/5/2017)
Xây dựng Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An trở thành đầu mối khoa học của tỉnh, của vùng (23/5/2017)
Khoa học xã hội và nhân văn – mười năm phát triển và mấy giới hạn (23/5/2017)
MƯỜI NĂM HOẠT ĐỘNG - NHỮNG KẾT QUẢ ĐÁNG GHI NHẬN (Tiếp theo) (30/12/2016)
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN - MỘT DIỄN ĐÀN KHOA HỌC TIN CẬY VỀ XỨ NGHỆ (30/12/2016)
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHỆ AN NĂM 2016 (29/12/2016)
MƯỜI NĂM TRUNG TÂM KHXH&NV NGHỆ AN VỚI VIỆC GIẢI PHÓNG TIỀM NĂNG KHXH&NV XỨ NGHỆ (29/11/2016)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 855 | Tất cả: 3,328,329
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp