THÔNG TIN - TƯ LIỆU
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm
Tin đăng ngày: 3/7/2017 - Xem: 335
 

Nguyễn Đình Trung

Tp Vinh

Trên Báo An ninh cuối tuần số 187 tháng 3/2017, tác giả Ngô Minh đăng bài “Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm và 16 chữ vàng ròng”. Tiêu đề bài viết là về 16 chữ vàng, nhưng tác giả lại chủ yếu viết về lai lịch, thân thế, sự nghiệp của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, còn về 16 chữ  thì chỉ dành viết 1/3 bài. Tuy vậy, tác giả cũng đã phân tích, chỉ rõ về xuất xứ, nội dung, ý nghĩa, giá trị của Tứ tôn châm. Tôi rất thích bài viết và xin lược trích nội dung cơ bản phần viết về Tứ tôn châm để độc giả nghiên cứu, tìm hiểu thêm như sau:

          (Tôn tộc đại quy)

            (Tôn lộc đại suy)

            (Tôn tài đại thịnh)

             (Tôn nịnh đại nguy)

“… Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh ở Huế dịch: Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp; Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan; Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh; Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong.

Theo sách, trong cuộc gặp gỡ với các tiến sĩ tân khoa (sau khi cụ Nguyễn Khắc Niêm thi đỗ đại khoa), vua Thành Thái đề nghị mỗi vị góp kế sách để phục hưng quốc gia. Kế sách của cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm được cô đúc trong 4 câu trên (Tứ tôn châm). Thế mới biết vị vua trẻ Thành Thái đã biết dùng trí thức như thế nào, càng hiểu thêm bản lĩnh của cụ Nguyễn Khắc Niêm, trước vua đã nói thẳng thắn những lời thông thái của mình, dù có thể bị xem là “khinh khi”...

... Châm là răn. Bốn điều răn, có 16 chữ gồm 04 chữ Tôn, 04 chữ Đại và 08 chữ đối nhau: Tộc, Lộc, Tài, Nịnh đối với Quy, Nguy, Thịnh, Suy - thành một câu châm ngôn ứng xử của vua, của người lãnh đạo đất nước mọi thời đại, có thể phân tích, giảng giải thành cả tập sách dày; là phương châm “trị quốc” của bất cứ triều đại tiến bộ nào. Tôn tộc đại quy - là đề cao sự đoàn kết dân tộc. Tôn tộc tức mọi người phải quy về một mối là dân tộc, Tổ quốc, nòi giống lên trên hết. Có được sự đồng lòng đó thì nhất định làm được mọi việc, chiến thắng mọi kẻ thù...; Tôn lộc đại nguy - ý của cụ Hoàng không phải xem thường sự phát triển của đất nước giàu có, vì dân giàu nước mới mạnh, mà “tôn lộc” ở đây là nói người làm quan mà đặt lợi lộc của mình, “lợi ích nhóm” mình lên trên lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, thì đó là lúc nguy nan đang đến với đất nước. Vì lúc đó lẽ công bằng bị vi phạm, tham nhũng hoành hành, bè phái, phe nhóm trong chính quyền sinh sôi, nảy nở. Tôn tài đại thịnh - vì “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” - đó là một chân lý vĩnh hằng. Coi thường trí thức, gạt tầng lớp trí thức ra ngoài hành trình của đất nước, nhất định đất nước suy vong. Trí thức thường là những người có cá tính, không phải loại người “gọi dạ, bảo vâng”, lại là những người hay nêu ý kiến phản biện (không biết phản biện không phải là trí thức), nên hay làm cho lãnh đạo ghét. Người lãnh đạo giỏi là người biết trọng tài năng, tập hợp nhân tài phục vụ quốc gia, lúc đó đất nước mới vững mạnh lên được. Tôn nịnh đại suy - cũng là một chân lý lịch sử. Ở triều đại nào cũng có vô số người nịnh hót. Người lãnh đạo đa phần lại thích nghe bọn xum xoe, nịnh bợ, biến phải thành trái, biến người tốt thành người xấu. Vì vậy người lãnh đạo phải là người đủ cương trực, đủ trình độ, đủ nhạy cảm mới nhận ra kẻ nịnh để lánh xa, người trung để gần gũi…..”.

Tứ tôn châm viết bằng chữ Nho. Mà chữ Nho, chữ Hán, theo tôi được biết là  ý nghĩa rất rộng và ở rất nhiều góc độ khác nhau, rất phức tạp, nên nếu để phân tích, giảng giải Tứ tôn châm như tác giả Ngô Minh nói là “thành cả một tập sách dày” cũng chưa thỏa, nhất là dịch thơ, phú, châm… ví dụ như bản dịch của Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh ở trên thực ra cũng mới chỉ khái quát nội dung và ý nghĩa của Tứ ngôn châm, chứ chưa thỏa, nhất là khi dịch chữ Tôn lộc và tôn nịnh, cụ Trần Đại Vinh đều dịch nghĩa là “Tôn trọng”; nguyên bản của Tứ tôn châm là “tôn nịnh đại nguy”, nên dịch nghĩa là “đất nước đến lúc nguy nan” “tôn lộc đại suy” thì nên dịch nghĩa là “đất nước đang đến thời suy tàn” thì đúng và hợp lý hơn. Bởi thế, ngoài nội dung, ý nghĩa Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh đã dịch và tác giả Ngô Minh đã phân tích, giảng giải, tôi xin mạn phép bàn luận, góp thêm vài điều, nhất là liên hệ thêm trong lúc Đảng ta đã ban hành và đang tiến hành chỉ đạo triển khai kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” (Gọi chung là 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII). Tôi thiết nghĩ tuy kiến thức của tôi còn hạn chế, nhưng cũng cần thiết.

Trong bài, tác giả Ngô Minh giải nghĩa châm và châm ngôn là răn, còn theo sách châm ngôn được định nghĩa đại ý là “Một câu nói ngắn gọn, khúc triết, súc tích, minh bạch nhờ sự anthithèse - đối ngẫu (hay tương phản) và so sánh mà sinh ra linh động…, phương pháp giáo dục của người Phương Đông là luôn lặp đi lặp lại tư tưởng khôn ngoan, thực tế dưới một hình thức làm cho nó gắn chặt vào tư tưởng”. Tứ ngôn châm của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm cũng thế, và đã trở thành phương thức giáo dục, ứng xử không chỉ với vua và người lãnh đạo đất nước mọi thời đại mà còn với tất cả mọi người.

Trong chữ Hán, chữ Nho và âm Hán Việt có nhiều chữ đồng âm khác nghĩa, mỗi chữ lại có nhiều nghĩa khác nhau tùy từng trường hợp, từng ngữ cảnh; ở đây ta chỉ bàn các chữ, các nghĩa liên quan đến Tứ tôn châm như sau: Chữ Tôn ngoài tôn trọng như tác giả Ngô Minh giải nghĩa, thì Tôn còn có nghĩa là tôn chuộng (yêu, thích), tôn sùng (sùng bái, suy tôn, tôn kính, coi nặng, coi trọng, chú trọng), tôn phục, tôn ty, tôn nghiêm…; chữ Đại ngoài ý nghĩa thường gặp là lớn còn có ý nghĩa là hoàn toàn, sâu rộng, nhất, rất, vô cùng, cũng có nghĩa là nhất định, chắc chắn và có khi ở thời quá khứ, hiện tại và cả tương lai…; chữ Tộc ngoài chỉ dân tộc, đất nước, Tộc còn chỉ một dòng họ hoặc một tộc người...; chữ Lộc, ngoài nghĩa thường chỉ “không tốt lắm” là bổng lộc (giành cho những người làm quan và phải ở vị trí nhất định mới có) còn có nghĩa “tương đối tốt” là phúc lộc (sự phát triển, sự giàu có của đất nước, là dân giàu nước mạnh (theo tác giả Ngô Minh) và có lẽ giành cho những người làm việc thiện, việc tử tế xứng đáng và đương nhiên được hưởng); chữ Quy như nghĩa của tác giả phân tích rất hay, nhưng còn nghĩa là chuẩn mực, quy ước, tầm cỡ và quy mô, quy chế, quy định; còn có thể suy rộng và cao hơn là hiến pháp, là pháp luật; chữ Tài có tài phiệt và tiền tài… (có thể gần nghĩa với bổng lộc trong Tứ tôn châm), nhưng chữ Tài trong Tứ tôn châm là tài năng, nhân tài, hiền tài, tài trí; chữ Suy ở mức độ thấp là suy yếu, cao hơn là suy tàn và thậm chí là suy vong…; chữ Thịnh ngoài nghĩa là thịnh vượng, giàu mạnh… còn có nghĩa là rộng, cao, to, lớn, nhiều, phát triển…; chữ Nguy ở mức độ thấp là nguy cơ, nguy hại, cao hơn là nguy cấp, nguy kịch, thậm chí có thể nói là nguy vong; còn chữ Nịnh thì có dễ hiểu hơn là nịnh bợ, nịnh hót…

Từ đó, tôi xin bàn thêm, góp thêm một vài ý như sau: Tôn tộc đại quy còn có nghĩa là tất cả mọi người, không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, mọi gia đình, mọi dòng họ (đều là tế bào của xã hội) đều yêu mến, suy tôn, sự tôn ty trật tự, sự tôn nghiêm và thượng tôn pháp luật, không ai có quyền đứng trên pháp luật... nếu đã thế (nếu đang thế và sẽ như thế) thì khối đại đoàn kết dân tộc mới bền chắc, đất nước mới yên bình, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội mới được đảm bảo, nhân dân mới hạnh phúc…; Tôn lộc đại suy, tôn nịnh đại nguy (Tác giả Ngô Minh viết khi phân tích trong bài là Tôn lộc đại nguy, tôn nịnh đại suy) có nghĩa khi đám quan lại, quan tham của một triều đại, một chế độ nào đó chỉ tôn sùng, coi nặng, coi trọng bổng lộc, tiền tài, xem thường cái thiện, sự tử tế; thích được và luôn nịnh bợ, nịnh hót, mơn trớn, không thích, không trọng lời và con người ngay thẳng v.v. thì đó là lúc đất nước, chế độ đang nguy nan, đang bên bờ vực của sự suy tàn; xét trong tình hình hiện nay, khi BCH Trung ương Đảng phải ban hành 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII) thì Đảng đã nhận diện rõ ràng có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, cán bộ lãnh đạo đã và đang sa vào tệ tôn lộc tôn nịnh.

Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, hành động quyết liệt của những người đứng đầu Đảng, Chính phủ (cái “đầu tàu”) trong thời gian qua là thể hiện sự “tôn tộc, tôn tài” nhằm ngăn chặn nạn “tôn lộc, tôn nịnh”, nhưng thiết nghĩ “đầu tàu” dù có quyết tâm, có mạnh đến đâu mà các “toa tàu” (bọn tôn lộc, tôn nịnh) bị cũ nát, hư hỏng, sét rỉ thì liệu đầu tàu có kéo nổi? Việc triển khai thực hiện 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII) nếu không thực chất, không hiệu quả như mong muốn, nạn “Tôn lộc, tôn nịnh” của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, cán bộ lãnh đạo không giảm, không được đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm minh thì bộ phận lớn là những cán bộ đảng viên, nhân dân luôn “Tôn tộc, tôn tài” sẽ bị tác động, ảnh hưởng, sẽ giảm đi (số lượng và niềm tin) và rồi sẽ bị kéo đi về đâu? Trong kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) nếu còn biểu hiện “phê” nhau “có khuyết điểm rất lớn là chưa nhận hết… ưu điểm”, hay “khuyết điểm lớn nhất là nhận nhiều… khuyết điểm” (Cũng có thể các bên không đủ năng lực, trình độ để nhận biết thiện ý, ẩn ý trong nội dung, phương thức phê bình và tự phê bình) và nếu khuyết điểm qua phê bình và tự phê bình mới chỉ phát hiện những khuyết điểm nhỏ trong những biểu hiện nêu trong 02 Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI và khóa XII), còn những khuyết điểm lớn và nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng thì chưa có cán bộ nào tự phê bình, tự nhận hay qua phê bình phát hiện được, dẫn đến tình trạng chức vẫn được thăng thần tốc, lộc vẫn tăng nghìn tỷ…. Nếu trong xã hội còn có biểu hiện những kẻ thuộc mẫu “Hòa Đại Nhân” luôn nịnh hót, biết “cúng lộc” thì được coi là biết điều, được ưu ái, được đánh giá cao, là “đồng chí tốt”, còn những “Lưu Gù”, người có cá tính, yêu Tổ quốc, chỉ biết “tôn tộc, tôn tài”, “bất tôn lộc, bất tôn nịnh”, không chịu “gọi dạ, bảo vâng”, chỉ biết tận tụy với công việc, không có mấy “Ệ”… ngược lại bị ghét bỏ... thì tình trạng đó chắc chắn sẽ bị các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức, cá nhân phản động và các đối tượng cực đoan, chống đối bằng mọi cách lôi kéo, lợi dụng để chống phá quyết liệt, gây rối ANTT, gây ra cuộc “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và sẽ làm cho đất nước, chế độ lâm vào thời kỳ suy tàn nguy nan. Tác giả Ngô Minh cho rằng “người lãnh đạo phải là người đủ cương trực, đủ trình độ, đủ nhạy cảm mới nhận ra kẻ nịnh để lánh xa, người trung để gần gũi”. Thật ra, đã là lãnh đạo mọi thời đại nói chung và thời nay nói riêng không mấy ai không đủ trình độ, không đủ nhạy cảm để nhận ra kẻ nịnh và người trung (nếu không nhận ra thì chỉ có thể là loại cán bộ lãnh đạo được bổ nhiệm “đúng quy trình” nhưng sai tiêu chuẩn, sai đối tượng), mà cái chính là vì không đủ cương trực, nên đã tự biến mình thành người “vừa câm, vừa điếc lại vừa đui mù” (tàn và phế) hoặc những kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”, cố tình không nhận ra mà thôi, những kẻ đó ở bất cứ thời đại nào, chế độ nào thì cũng đích thị là những tên phản dân, hại nước, đáng bị lên án, đáng bị trừng trị.

Trong bài “Bảo vệ chủ quyền biển đảo trong bối cảnh mới” đăng trên Tạp chí Thế giới toàn cảnh, số 83 tháng 3 năm 2017, PGS, TS Lê Văn Cương nói về 3 nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của một quốc gia (Cũng bao hàm Tứ tôn châm): “(1) Có chiến lược chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn và với bộ máy thực sự trong sạch, vững mạnh, nhất là ở cấp hoạch định và chỉ đạo quyết sách quốc gia; (2) Có sự đồng thuận trong xã hội với ý chí “triệu người như một” của toàn dân và (3) Có sức mạnh vật chất cần thiết (kinh tế, quốc phòng…). Trong  hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, Việt Nam hội tụ đủ 3 nhân tố cơ bản nói trên, nhờ đó dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác…”.

Qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, mọi lãnh đạo, cán bộ đảng viên, người dân chỉ cần nhìn thẳng vào sự thật và trả lời câu hỏi: Thời kỳ đó, giai đoạn lịch sử đó đất nước, chế độ, con người có hội tụ đầy đủ 3 nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh như PGS, TS Lê Văn Cương nêu ra hay không, hoặc suy ngẫm qua Tứ tôn châm của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm cũng có thể nhận diện đất nước, chế độ đang ở thời kỳ nào đại quy, đại thịnh hay đại nguy, đại suy theo quy luật thịnh - suy, tồn - vong của lịch sử, để tự cảnh giác, tự răn mình.

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) ở nhóm 3 về các biểu hiện “tự diễn biến” - 自演变, “tự chuyển hóa” - 自轉化 nếu phân tích, giảng nghĩa chữ Tự -自ở đây là tự mình, tự thân mang tính cá nhân thì người ta thường cho rằng cá nhân mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người tự mình không chịu học hỏi, không chịu rèn luyện, không chịu phấn đấu… nên dẫn đến bị tha hóa, bị biến chất thành người xấu, chống đối, đi ngược lại quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước... Nhưng theo tôi quy luật cuộc sống rất ít khi do “Tự”, mà luôn có sự tương hỗ - 相互 (tác động, kích thích, ảnh hưởng) của môi trường, của các tác nhân khác... ví dụ sự cháy phải là sự kết hợp của 3 yếu tố: Chất cháy, nguồn nhiệt và ô xi. Nếu thiếu 1 trong 3 yếu tố này thì không thể xảy ra sự cháy hay như người ta thường nói là “không có lửa làm sao có khói”. Do đó để bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tôi trước hết yếu tố quan trọng đúng là do bản thân mỗi người không chịu học hỏi, rèn luyện, phấn đấu... nên dẫn đến bị tha hóa, biến chất; bên cạnh đó còn có việc bị các thế lực thù địch, bọn phản động lợi dụng hoàn cảnh, điều kiện để tác động, lôi kéo, dụ dỗ; và sự tác động, ảnh hưởng từ những “tấm gương tồi” của nạn “tôn lộc, tôn nịnh, bất tôn tộc, bất tôn tài”, những kẻ chỉ biết hô hào hãy “làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm”… làm cho cán bộ đảng viên, nhân dân mất niềm tin. Nhận thức đầy đủ điều này Trung ương Đảng, Chính phủ sẽ có sự nghiên cứu bổ sung, chỉ đạo toàn diện hơn việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) nói riêng và lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung.

Xin phép bàn vài lời và nêu vài ý kiến để mọi người nghiên cứu, tham khảo và mong được tiếp tục trao đổi.

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Thông tin - Tư liệu khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn