ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ
Hệ thống biểu tượng trong dân ca ví, giặm xứ Nghệ (Kỳ 1)
Tin đăng ngày: 3/7/2017 - Xem: 377
 

Phạm Quang Ái

Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh

Tóm tắt: Phần quan trọng nhất, có giá trị văn hoá - thẩm mỹ lớn nhất trong dân ca ví - giặm là ca từ. Và trong ca từ thì hệ thống biểu trưng là mạng lưới “bóng bán dẫn” tích tụ năng lượng, khả năng sinh nghĩa của thành phần văn học. Tiểu luận này tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong dân ca ví giặm với ba loại chính của nó là: biểu tượng văn hoá; biểu tượng nghệ thuật và biểu tượng ngôn từ nghệ thuật. Trong văn hoá dân gian xứ Nghệ nói chung, dân ca ví - giặm nói riêng, ba loại biểu tượng này có tính chất kết hợp, tương tác và chuyển hoá cho nhau để tạo nên những giá trị biểu trưng phong phú, sâu sắc.

I. “Người xứ Nghệ thích thơ ca, thích hát, có thể còn hơn cả thích kể chuyện”. Đó là một nhận xét khá thú vị trong sách Địa chí Văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, phần viết về Thơ - ca - nhạc - dân gian(1).

Quả đúng như vậy. Chỉ nói riêng về phần lời, nếu đem so sánh những gì đã được các nhà Nghệ học sưu tầm và xuất bản từ trước đến bây giờ, thì các vựng tập về thơ ca dân gian (với 9 tập vè(2), 2 tập ca dao có độ dày hàng chục ngàn trang in(3)) nhiều hơn hàng chục lần so với các vựng tập về truyện kể (Bộ Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ, 4 tập với khoảng 2000 trang in(4)) cả về độ dài của lời lẫn số lượng đơn vị tác phẩm.

Người xứ Nghệ yêu thơ, thích ca hát và thơ ca nhạc xứ Nghệ, từ dân gian đến bác học, đều làm say lòng người. Thơ ca bác học thì xưa nay chưa ai vượt qua được kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và dân ca ví - giặm xứ Nghệ đã từng cuốn hút các tao nhân mặc khách, anh hùng chí sĩ vào những cuộc hát thâu đêm. Vả chăng, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Mai đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng như rất nhiều áng thi ca nổi tiếng cổ kim được nuôi dưỡng trên mảnh đất màu mỡ của sinh hoạt văn nghệ dân gian xứ sở núi Hồng sông Lam đều là những sản phẩm ít nhiều được chưng cất từ câu ví lời giặm.       

Cái gì đã làm nên sức hấp dẫn của dân ca ví - giặm xứ Nghệ? Đó, trước hết là cuộc sống, tâm hồn, tính cách, bản lĩnh của người dân nơi đây. Đồng chí Lê Duẩn từng phát biểu: “Dân ca Nghệ Tĩnh giàu tình thương và lẽ phải”, nhà thơ Tố Hữu cũng đã nhận xét: “Dân ca Nghệ Tĩnh dễ đi sâu vào lòng người” và Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cho rằng, dân ca Nghệ Tĩnh là “... hay nhất thế giới(5)... Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích ca dao, dân ca xứ Nghệ, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau rằng, bên cạnh làn điệu, thành phần hấp dẫn nhất, có giá trị nhất của nó là lời ca. Và trong các yếu tố cấu thành ca từ của giặm - ví, hệ thống biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng.

II. Nếu như cuộc sống của chúng ta được bao bọc bởi một ký hiệu quyển thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang sống trong/bằng thế giới của những biểu tượng. Bởi tất cả các ký hiệu đều có tư cách là những biểu tượng và các biểu tượng cũng đều có tư cách là những ký hiệu. Trong đó, có những biểu tượng trừu tượng có tính chất tinh thần được biểu hiện bằng những ký hiệu cụ thể. Với tư cách là một hệ thống ký hiệu, ngôn ngữ khi thực hiện chức năng thông báo - thẩm mỹ đã hình thành nên những hình thể đặc biệt, đó là những biểu tượng có giá trị biểu trưng.

Vậy biểu tượng là gì?

Biểu tượng (symbol) vốn có một phạm vi tồn tại rất sâu rộng trong nền văn hóa và đời  sống văn hóa của một dân tộc. Theo         Ju.Lotman, thuật ngữ symbol là một trong những từ có nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(6) . Trong các văn bản tiếng Việt liên quan đến lĩnh vực khoa học này, từ “symbol” thường được dịch là tượng trưng, biểu trưng, biểu tượng, phù hiệu, kí hiệu. Thậm chí, có lúc người ta dịch nó bằng một cụm từ là: hình ảnh/hình tượng tượng trưng. Nhưng xét kỹ trong quá trình sử dụng, hiện nay, các tác giả người Việt hay sử dụng từ biểu tượng hoặc biểu trưng để dịch thuật ngữ     symbol. Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Hải, thì... “symbol symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp”: “Biểu tượng” có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý. Biểu tượng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán được dùng khá trừu tượng(7). Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng (danh từ) có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: “hình ảnh tượng trưng”, nghĩa thứ hai là: “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt(8). Còn từ biểu trưng, từ điển này chú như sau: “Biểu trưng đg (và d.): Biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất. Con rồng là biểu trưng cho một tín ngưỡng. Những biểu trưng của nghệ thuật nguyên thuỷ”(9). Theo nội dung định nghĩa này của Từ điển tiếng Việt thì biểu trưng cũng là biểu tượng nhưng là một dạng biểu tượng tiêu biểu. Trên một quan điểm như vậy, tác giả Đoàn Văn Chúc cũng cho rằng, biểu trưng là một trong những dạng thức tồn tại điển hình của biểu tượng. Ông giải thích khái niệm này như sau: “Biểu trưng: “trưng” là điềm, là dấu hiệu cho phép nhận thấy. Như thanh gươm và cái cân là những biểu trưng của công lý (châu Âu); con rắn quấn quanh cái cốc là biểu trưng của ngành y dược (con rắn: sự cẩn trọng, cái cốc: sự điều chế thuốc men); cây vương trượng ở châu Âu là biểu trưng của vương quyền, v.v… Trong trường hợp biểu trưng, người ta thấy các vật được chọn làm hình ảnh tự thân chúng có nghĩa gần gũi hay có khi chồng khớp với giá trị được diễn đạt, mà người ta có thể lĩnh hội được bằng một sự tương ứng loại suy tương đối dễ dàng, trực tiếp (như thanh gươm: uy quyền sinh sát, cái cân: sự công minh; chim bồ câu: sự hòa hợp, dễ gần.v.v...). Trong khi ấy, sự lĩnh hội ý nghĩa (tức giá trị) của biểu tượng là gẫy khúc và phức tạp hơn nhiều...”(10). Tuy nhiên, trong thực tế phiên dịch và sử dụng khái niệm, từ biểu trưng ngoài việc được dùng để dịch từ symbol, nó còn được dùng để dịch từ logo. Từ điển Wikipedia đã định nghĩa từ logo như sau: “Biểu trưng hay logo là một yếu tố đồ họa (kí hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng, hình tượng...) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành: một nhãn hiệu hay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phi thương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong trào hay một cá nhân nào đó. Thông thường, biểu trưng được chủ thể công nhận ngay sau khi nó được thiết kế xong và mặc nhiên có bản quyền, ít xảy ra trường hợp một biểu trưng tồn tại một thời gian dài mà không hoặc chưa có bản quyền. Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu(11). Như vậy, logo là những ký hiệu thiên về biểu hình và nội dung mà nó biểu đạt hoàn toàn được mặc định theo quy ước, người tiếp nhận không được phép hiểu khác ý đồ của tác giả và nó được dùng làm biểu hiện đại diện cho một tổ chức kinh tế - xã hội nào đó. Tuy được xác định trong một phạm vi hẹp như vậy, nhưng nét nghĩa chính của logo khá gần gũi với khái niệm biểu trưng trong các tài liệu đã nói trên.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không có điều kiện đi sâu vào khảo sát và giới thuyết đầy đủ về khái niệm công cụ này. Do đó, chúng tôi quan niệm rằng, biểu trưng là một dạng của biểu tượng nhưng có giá trị tượng trưng đặc định về một phạm vi, lĩnh vực của đời sống văn hoá một cộng đồng nào đấy; còn biểu tượng là những định danh được biểu trưng hoá trong quá trình giao tiếp xã hội. Như vậy biểu tượng là khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao gồm tất cả những ký hiệu được sử dụng trong đời sống xã hội con người. Trong ca dao, dân ca nói chung, dân ca ví - giặm xứ Nghệ nói riêng, xét từ tổng thể nguyên hợp các thành tố cũng như riêng về ca từ đều hình thành nên những biểu tượng của chúng trong quá trình diễn xướng. Riêng về phần lời ca, dân ca ví - giặm trong quá trình sinh thành và hành chức, do có sự tham gia sâu đậm của yếu tố văn hóa, văn chương bác học từ lực lượng nho sĩ nên xuất hiện và lưu hành khá nhiều biểu tượng vốn có nguồn gốc từ điển tích sách vở. Nhìn chung, hệ thống biểu tượng trong văn hoá dân gian nói chung, trong dân ca ví - giặm nói riêng, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tác động đến đời sống tinh thần của cộng đồng xứ sở.     

Nguồn dẫn liệu về dân ca ví - giặm mà chúng tôi sử dụng trong bài viết này là lấy từ 2 vựng tập quan trọng sau đây:

- Hát phường vải, Ninh Viết Giao sưu tầm và biên soạn, NXB VH-TT, H, 2002;

- Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Ninh Viết Giao (Chủ biên), NXB Nghệ An, 1996.

Khảo sát nguồn tư liệu dân ca từ hai công trình nói trên, chúng tôi thấy hệ thống biểu tượng trong dân ca ví - giặm xứ Nghệ, về cơ bản, có thể phân thành ba loại sau đây:

1. Các biểu trưng văn hoá

Biểu tượng văn hoá là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hoá nhất định: nghi lễ, hành vi kiêng kỵ, thần linh, trang phục… Biểu tượng văn hoá bao gồm cả những biến thể vật thể (các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc…) và phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học).

Trong dân ca ví - giặm, đây là các biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán người Việt Nam, quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian. Cụ thể, đó là những biểu tượng được lẩy ra từ các địa danh vốn gắn với những huyền thoại xa xưa của người Việt Nghệ như: núi Hồng - sông Lam, núi Tùng - sông La, núi Sạc - sông Cài. Những biểu trưng này tồn tại thành cặp vừa xác định vị trí sống vừa xác định không gian văn hoá của quần cư: hoặc, đó là các bản thể tự nhiên như nhật nguyệt, tinh tú (mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai,...); hoặc, đó là các biểu trưng có tính chất vũ trụ luận như vuông - tròn, trời - đất,.. các biểu trưng phồn thực, các biểu trưng nghi lễ như trầu - cau, các biểu trưng đặc định về không gian văn hoá như cây đa - bến nước - sân đình, tứ linh,..

Trong các biểu tượng văn hoá của người Nghệ, biểu tượng quan trọng nhất là núi Hồng sông Lam. Đây là cặp núi sông đã đi vào huyền thoại với câu chuyện ông Khổng Lồ đào núi, xẻ sông. Trong lịch sử xa xưa, thời mông muội, ký ức người Việt cổ, vịnh Hà Tĩnh đã được ghi lại ấn tượng sâu đậm nhất về một dãy núi chắn ngang trước mặt con người hướng biển, che chở cho con người tránh gió bão của biển Đông. Vì vậy, người Việt cổ ở đây đã gắn cho núi Hồng nhiều huyền thoại như thuở xa xưa có 100 con chim phượng hoàng (hoặc chim hồng) về đậu nhưng núi chỉ có 99 đỉnh nên một con phải lẻ bầy. Mỗi đỉnh núi, triền dốc, truông trẹm, khe suối đều gắn với những truyền thuyết về sự lao động và sáng tạo văn hoá - lịch sử của con người nơi đây. Bởi thế, xung quanh núi Hồng, người ta đã sưu tầm được rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết gắn với các nhân vật huyền thoại, huyền sử, truyền thuyết, tôn giáo, lịch sử như ông Đùng bà Đà, Kinh Dương Vương, công chúa Diệu Thiện, Nguyễn Xí, cố Bu (Phan Bô),... Từ điển       Wikipedia đã viết về núi Hồng - sông Lam như sau:

Núi Hồng Lĩnh tên Nôm là Ngàn Hống hay Rú Hôống, cũng đọc là Hống, tên chữ là Hồng Sơn (núi Hồng) hay Hồng Lĩnh, là dãy núi nổi tiếng nhất Hà Tĩnh. Cùng với sông Lam, núi Hồng Lĩnh được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ... Nổi tiếng của Hồng Lĩnh là bề dày của các di sản văn hoá - lịch sử, từ các di tích như: Đỉnh Tháp Cờ, nơi hoàng tử, con Mai Thúc Loan xây căn cứ, núi Lầu có hành cung của Lý Thánh Tông, lũy Đá của Ngô Quảng nổi lên chống Pháp và nhiều huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến núi Hồng như: Ông Đùng xếp núi, truyền thuyết về kinh đô của Vua Hùng... và với 7 sắc phong và 1 công lệnh thời Lê, cùng với biết bao nhiêu giai thoại, thần thoại khác. Nơi đây có khoảng 100 ngôi chùa và đền miếu. Có ngôi rất cổ như: chùa Hương Tích, chùa Chân Tiên, nơi vẫn còn dấu chân người và chân ngựa trên tảng đá (gắn với truyền thuyết Tiên giáng trần). Cụm Quần thể di tích lịch sử văn hóa Tiên Sơn đã được nhà nước xếp hạng di tích cấp tỉnh vào đầu năm 2012 và đang hoàn tất hồ sơ kiến trúc nghệ thuật đề nghị bộ VHTT DL xếp hạng cấp Quốc gia năm 2013 [Rú Tiên] Chùa Tiên Sơn, Đền Thánh, Miếu Bà Chúa kho, Đền Tiên,Tứ phủ Trần Triều,Tam tòa thánh mẫu. Theo đó hàng năm lễ hội Tiên Sơn khai hội vào ngày 15/tháng giêng âm lịch. Quy mô lớn trang nghiêm trịnh trọng hoành tráng để phục vụ du khách du xuân đi hội Tiên Sơn”... (wikipedia.org/wiki/Núi_Hồng_Lĩnh), “Sông Lam, (tên gọi khác ở Việt Nam là sông Rum, Ngàn Cả hay Sông Cả, ở Lào là Nam Khan), là một trong 2 con sông lớn nhất ở Bắc Trung bộ Việt Nam. Sông bắt nguồn từ cao nguyên Xiengkhuang, Lào. Phần chảy trên lãnh thổ Lào gọi là Nam Khan. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh đổ ra biển tại cửa Hội. Cụ thể, trên lãnh thổ Việt Nam, nó chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra vịnh Bắc bộ... Cùng với núi Hồng Lĩnh, sông Lam được xem là biểu tượng của xứ Nghệ. Hai bên dòng sông Lam có những làng văn hóa của Nghệ An và Hà Tĩnh như Yên Hồ (Đức Thọ), Tiên Điền, Uy Viễn (Nghi Xuân), Trung Lương (Thị xã Hồng Lĩnh), Trung Cần, Hoành Sơn, làng Kim Liên (Nam Đàn) tạo nên một vùng văn hóa Lam Hồng.”... (wikipedia.org/wiki/Sông_Lam).

Từ huyền thoại, thần thoại, truyền thuyết, tín ngưỡng, núi Hồng sông Lam đi vào thơ ca dân gian, văn chương bác học và được bồi đắp rất nhiều tầng lớp nghĩa để trở thành một biểu tượng văn hoá tiêu biểu của người Việt Nghệ.

Khi nghiên cứu về các địa danh văn hoá trong thơ ca dân gian, nhiều tác giả cho rằng, các địa danh này muốn được biểu tượng hoá, tức là có giá trị tượng trưng, tất yếu phải được tu từ hoá, tức là phải thông qua các phép chuyển nghĩa tu từ như hoán dụ, ẩn dụ, thì mới được coi là các biểu tượng. Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Kính, “Trong mảng ca dao phản ánh tình yêu quê hương đất nước, phản ánh danh lam thắng cảnh, đặc sản, thể hiện truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hầu như không có văn bản biểu hiện (tức là loại văn bản xây dựng bằng ẩn dụ, hoán dụ tu từ-PQA)”(12). Mặt khác, theo GS Trần Đình Sử, dẫn ý của V. Koginov, thì từ lâu người ta đã công nhận rằng tên gọi địa lý, nhất là những tên gọi ít quen thuộc, có khả năng tạo ra một thứ ma thuật âm thanh và nhiều nhà thơ đầu thế kỷ XX (Nga-PQA) đều sùng bái thủ pháp này(13). Điều mà V. Koginov gọi là “ma thuật âm thanh” chính là hiệu ứng tu từ có giá trị biểu trưng của việc nhắc lại các địa danh nhiều lần trong các diễn ngôn văn học. Nhưng hiệu ứng này trong các diễn ngôn văn học viết, ít nhiều có khác với trong văn học dân gian. Trong văn học viết, nó chỉ có giá trị gợi lên cái cảm giác vang vọng, rộng mở về không - thời gian; còn trong thơ ca dân gian, nó có giá trị biểu trưng đích thực, gợi lên những ký ức văn hoá cùng với những xúc cảm tương ứng.

Bởi vậy, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày và trong thơ ca dân gian, các địa danh không cần xuất hiện trong một biểu thức tu từ nào, mà chỉ cần nhắc đến chúng, thì đã gợi lên trong tâm thức dân bản địa cả một không gian văn hoá với một cảm xúc tự hào, xao xuyến. Do đó, với địa danh núi Hồng sông Lam, khi xuất hiện trong dân ca ví - giặm, thì hoặc là gợi lên niềm tự hào, ngưỡng vọng về công lao xây dựng giang sơn, lãnh thổ của tiền nhân:

Núi Hồng ai đắp mà cao,

Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu.

Hoặc về sự hiển đạt của một dòng họ:

Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Rum hết nước họ này hết quan.

Hoặc về tinh thần đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước:

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thì mới để Tây đóng đồn.

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thù này mới nguôi.

- Bao giờ Hồng Lĩnh thành cồn,

Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh.

Biết bao chàng trai, cô gái đã từng lấy núi Hồng sông Lam để tình tự, thề nguyền với nhau:

- Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây,

Sông Lam hết nước thì đó với đây mới hết tình.

Nội dung, ý nghĩa cụ thể mà những câu ví trên đây biểu đạt là khác nhau, nhưng những ý nghĩa đó bao giờ cũng được đặt trên cái ngữ cảnh văn hoá mà địa danh núi Hồng sông Lam đã gợi ra và ý nghĩa được mở rộng cũng trên cơ sở cái ngữ cảnh văn hoá đó. Thậm chí, trong một câu ví của người lao động nhằm bộc lộ sự căm giận những kẻ giàu có mà bất nhân, thâm độc, khi có sự hiện diện của địa danh Hồng Sơn, cũng gợi lên cái không gian văn hoá của xứ sở:

Nhất cao là núi Hồng Sơn,

Nhất thâm là bọn bất nhân nhà giàu.

Xứ Nghệ là đất cổ nước non nhà bao đời được mệnh danh là địa linh nhân kiệt“...núi sông hùng vĩ ở Nghệ Tĩnh chỗ nào cũng gắn với lịch sử. Thắng cảnh lồng trong kỳ tích, kỳ tích tô thêm ý nghĩa của thắng cảnh, làm cho thắng cảnh có linh hồn. Cái đẹp của thiên nhiên hoà trong cái đẹp của những chiến công trong lịch sử; bên cạnh lòng phơi phới lâng lâng là niềm tự hào, kính trọng(14). Bởi vậy, không chỉ có núi Hồng sông Lam là biểu trưng văn hoá điển hình (đã được khắc trên cửu đỉnh của triều Nguyễn) mà các núi sông, truông, trẹm, lèn, động, dốc, khe, suối, bến, bãi, ghềnh thác, vực,... trong xứ, hễ có liên quan ít nhiều với những kỳ tích, truyền thuyết về quá trình dựng nước và giữ nước của người dân nơi đây thì bao giờ cũng được hiện diện như là những biểu tượng văn hoá trong dân ca ví - giặm:

- Ai lên chốn đó Vụ Quang,

Nhớ khi Tây tả, cụ Phan dựng cờ.

- Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan,

Quân reo Bồ Ải, sóng tràn Khả Lưu.

- Tam Thai rú bạc ai xây,

Kim Nghê ai đắp, hồ Mây ai đào.

- Dưới bến Tam Soa sương trùm sóng vỗ,

Trên ngọn Tùng Sơn thông vũ gió gào.

  Cánh buồm ngược gió lao đao,

Hận chìm đáy nước, hờn cao ngút trời.

(Đoạn thơ của kịch gia Phan Lương Hảo đã được dân gian hoá)

Không chỉ có các địa danh gắn liền với các sự kiện văn hoá - lịch sử mà đến các địa danh gắn với vẻ đẹp một vùng quê, vẻ đẹp tự nhiên hoà trong vẻ đẹp của truyền thống lao động cần cù và sáng tạo văn hoá, cũng luôn gợi lên những ý nghĩa biểu trưng:

- Trai Đông Thái, gái Yên Hồ,

Gặp nhau xây dựng cơ đồ cũng nên.

- Muốn ăn cơm nếp độ chà,

Muốn lấy vợ đẹp thì ra Yên Hồ.

- Thượng, Hạ là đất thanh nhàn,

Khuyên em về Thượng, Hạ cùng lập đàng bán buôn...

 

Chú thích

(1), (5) Nguyễn Đổng Chi (Chủ biên), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, 1995, tái bản 2010; tr. 259;

(2) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ, 4 tập, NXB Nghệ An; 1993-1995;

(3) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng vè xứ Nghệ, 9 tập, NXB Nghệ An, 1999-2000;

(4) Ninh Viết Giao (Chủ biên), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, 2 tập, NXB Nghệ An, 1996;

(6) Ju.Lotman, Biểu tượng trong hệ thống văn hóa, bản dịch của Trần Đình Sử, http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=4979;

(7) Đinh Hồng Hải, Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng, www.vanchuongviet.org;

(8) Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ xuất bản, H, 1992; tr.80;

(9) Hoàng Phê (Chủ biên), TLĐD; tr.81

(10) Đoàn Văn Chúc, Văn hoá học, www.vanhoahoc.vn;

(11) Theo wikipedia.org/wiki/Biểu_trưng

(12) Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB ĐHQG H, 2004; tr. 126;

(13) Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu,  NXB Tác phẩm mới, H,1987; tr. 283-284;

(14) Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở VHTT Nghệ Tĩnh xuất bản, 1984; tr.47;

Đất và người xứ Nghệ khác:
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 335 | Tất cả: 1,418,189
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp