CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Từ niềm đam mê đến giải thưởng Sáng tạo Khoa học & Công nghệ
Tin đăng ngày: 3/7/2017 - Xem: 521
 

Hồ Thủy (thực hiện)

Trong 109 công trình sáng tạo gửi về Ban tổ chức Giải thưởng Sáng tạo Khoa học & Công Nghệ Nghệ An năm 2017, đã có 43 công trình đạt giải thuộc các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, tiểu thủ công nghiệp, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Giải đặc biệt năm nay được trao cho công trình “Nghiên cứu, sưu tầm biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Tay” của tác giả Sầm Văn Bình ở xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An. Đây là công trình được đánh giá có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn chữ Thái hệ Lai Tay, góp phần gìn giữ và phát huy văn hoá dân tộc Thái.

Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn có cuộc trao đổi với tác giả công trình, xin giới thiệu tới bạn đọc.

 

*   *

*

PV: Trước tiên, xin chúc mừng ông đã nhận giải thưởng danh giá nhất của ngành khoa học tỉnh nhà. Vậy cơ duyên nào đã đưa ông đến với việc tìm hiểu, nghiên cứu và đạt giải thưởng cao về chữ Thái Lai Tay, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Rất cảm ơn Tòa soạn đã quan tâm.

Phải nói là tìm hiểu, nghiên cứu chữ Thái Lai Tay không phải là cơ duyên mà là “nghiệp” đã vận vào và sẽ đi suốt cuộc đời tôi. Trước đây tôi vốn đã ham tìm hiểu về văn hóa dân tộc mình, đặc biệt là về hệ chữ Thái. Khi còn trẻ, một đôi lần tôi nhìn thấy chữ Thái qua các trang sách cổ còn lưu lại ở một số nhà dân trong bản, nhưng lúc đó chỉ xem chứ chưa hiểu cũng như chưa định hình được sẽ tìm hiểu và khám phá nó như thế nào.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Hàng hải, vì điều kiện gia đình khó khăn, tôi không tìm được công việc phù hợp với ngành nghề mình đã học, đành ở nhà lăn lộn với nhiều nghề để kiếm sống: làm nương, làm công nhân ở các mỏ đá, tham gia làm quặng vàng, thiếc. Tuy vất vả nhưng niềm đam mê tìm hiểu chữ Thái vẫn luôn thường trực trong tôi, luôn ý thức tìm các cuốn sách cổ để đọc và cố gắng giải mã. Tuy nhiên, mãi sau này, từ câu nói của bố tôi mới khiến tôi sực tỉnh và tìm ra hướng nghiên cứu cho mình: Văn hóa, phong tục của dân tộc Thái trước sau gì cũng bị mất đi nếu không có chữ viết để lưu giữ lại. Tôi nhận thấy các bài hát dân ca, các bài cúng trong đám ma, đám cưới, tại các lễ hội,... rất dài, nếu chỉ lưu truyền bằng miệng, thì dễ bị mất đi hoặc “tam sao thất bản”, phải có chữ viết mới có thể bảo tồn và lưu truyền được lâu dài, chính xác. Tuy nhiên, thời gian đó, chữ viết của người Thái gần như bị lãng quên dù nó là một kho báu linh thiêng nhất, có tuổi đời trên dưới cả ngàn năm, đầy ắp những tinh hoa văn hoá mang đậm bản sắc của dân tộc Thái. Toàn tỉnh Nghệ An hiện có 281.400 người Thái, nhưng số người còn biết chữ Thái chỉ đủ tính trên đầu ngón tay, phần đông đều đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, còn thế hệ trẻ chẳng ai lưu tâm bảo tồn nét bản sắc ấy. Thấy rõ thực trạng đó, tôi bắt đầu vạch ra cho mình hướng tìm tòi, khám phá chữ Thái Lai Tay.

PV: Như ông đã nói thì ông có niềm đam mê tìm hiểu, nghiên cứu chữ Thái từ rất sớm, có phải ngay từ đầu ông đã thấy rõ vai trò quan trọng của nó đối với văn hóa dân tộc Thái?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Người Thái họ xem chữ viết như một tài sản tinh thần quý báu hơn cả của cải, vật chất và họ không dễ dàng cho mượn. Nếu cán bộ văn hóa đi sưu tầm, muốn mượn cuốn sách chữ Thái đi photo thì hầu như các gia đình họ không cho. Vì luôn xem chữ viết là “cổ vật” do cha ông để lại nên khi lấy ra khỏi nơi cất giữ họ phải cúng tổ tiên để xin phép, nếu có điều kiện thì mâm cỗ rượu thịt, còn không thì cũng phải có rượu, hương nhang, trầu cau để thông báo. Không chỉ lúc lấy ra mà khi cất vào họ cũng phải thắp hương xin phép được cất vào chỗ cũ. Nói như thế để biết được tầm quan trọng cũng như sự quý giá của chữ Thái đối với đời sống của người Thái như thế nào.

Trước đây, người Thái thường dùng chữ viết để ghi chép các văn bản, các bài hát dân ca của dân tộc mình, các khế ước mua bán,... Hiện nay, còn rất nhiều văn bản lưu lại là giấy chứng nhận phong chức cho các lý trưởng, ông tổng được viết bằng chữ Thái cổ. Có nhiều văn bản còn nguyên con dấu của chính quyền Đông Dương, ghi chép bằng nhiều ngôn ngữ như chữ Pháp, chữ Việt và chữ Thái. Người Thái họ giữ gìn các văn bản đó rất kỹ càng và cẩn thận.

Cũng giống như tiếng Việt, chữ Thái như là hồn cốt của văn hóa dân tộc Thái vậy, nó góp phần bảo tồn, lưu giữ các phong tục tập quán cũng như bản sắc của dân tộc. Ví dụ như các bài hát dân ca, bài cúng, bài làm vía,... của dân tộc Thái rất dài, có những bài dài đến 4.000 câu, nếu chỉ dựa vào trí nhớ của con người thì rất khó chính xác và khó lưu giữ được lâu dài. Do đó, việc bảo tồn và phục dựng lại chữ Thái là điều rất cần thiết và cấp bách.

PV: Vậy ông đã tiến hành nghiên cứu và bảo tồn chữ Thái Lai Tay như thế nào, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Yêu thích và mày mò tìm hiểu về chữ Thái Lai Tay từ sớm, nhưng mãi đến năm 2003, tôi có mượn được cuốn sách chữ Thái ở Sơn La tại Thư viện huyện Quỳ Hợp, trong đó tác giả trình bày một bên là chữ Thái, một bên là chữ Việt để so sánh, lúc đó tôi mới nảy ý tưởng tìm hiểu một cách khoa học nhất về chữ Thái, có sự đối sánh với tiếng Việt.

Đầu tiên, tôi tìm hiểu xem chữ Thái và chữ Việt nó liên quan đến nhau như thế nào rồi cố gắng chuyển tiếng Việt sang tiếng Thái, sau đó so sánh tiếng Thái Nghệ An với tiếng Thái ở Sơn La để xem nó như thế nào và có thể xếp nó vào cái gì? Rồi lại tìm hiểu xem nó khác nhau ra sao?... Từ đó, tôi vỡ vạc ra được rất nhiều điều. Tuy nhiên, nghiên cứu về chữ Thái không phải là dễ, nhất là chữ Thái Lai Tay. Chữ Thái gồm nhiều hệ chữ khác nhau, có hệ Lai Tay, hệ Lai Xứ, hệ Lai Peo,... Theo cách hiểu chung nhất “lai” có nghĩa là một mảng tập hợp các đường nét hoặc hoa văn hàm chứa được một giá trị nhất định (về thông tin, về kết cấu, về màu sắc…). Theo đó, các đường vân tay, chỉ tay trên lòng bàn tay được gọi là “lai mư”; các mảng màu và đường nét hoa văn trên các tấm vải dệt hoặc thổ cẩm được gọi tương ứng là “lai pha”, “lai màn”; hoa văn trong lòng rổ, rá, thúng… được tạo nên bởi cách đan cài các thanh nan ngang dọc được gọi là “lai đông”… Và một bản sách có ghi các chữ Thái cổ trong đó thì được gọi là “phờ lai” hoặc “pựn lai”- có nghĩa là một thực thể bền vững có chứa đựng “lai” ở bên trong. Như vậy, rõ ràng là ngoài hình ảnh đơn thuần được tạo bởi các mảng đường nét hữu hình, “lai” còn tiềm ẩn cả sức mạnh trí tuệ và khả năng sáng tạo là những thứ không dễ gì nhìn thấy và nắm bắt được. Nói như thế để biết tìm hiểu, nói đúng hơn là giải mã về chữ Thái rất khó, tôi phải mày mò, tìm tòi, chụp ảnh, viết lại, rồi rà từng ký tự để so sánh xem chữ Thái Nghệ An và chữ Thái Sơn La nó khác nhau như thế nào?

Từ năm 2006 - 2010, tôi đã dồn tâm huyết và hoàn chỉnh bộ sách “Hướng dẫn học chữ Thái hệ Lai Tay”, gồm 2 tập. Tập 1 dày 108 trang, với 21 bài học có hệ thống rất khoa học từ giản đơn đến phức tạp. Song song và tiếp theo hai cuốn sách được coi như giáo trình này, tôi còn hoàn chỉnh 5 cuốn sách khác là: “Hệ chữ Lai - xứ Mường Ham”; “Hệ chữ Lai - xứ Thanh Hoá”; “Hệ chữ Lai - xứ Mường Mùn”; “Hệ chữ Lai - xứ Mường Muỗi”; “Hệ chữ Lai Pao”; “Lịch sử hình thành và phát triển Mường Ham” (viết chung với Thái Tâm).

Sau khi xuất bản bộ tài liệu, tôi nhận được phản hồi tốt, nhiều người đọc đón nhận và ủng hộ. Tuy nhiên, tôi nghĩ để phổ biến được tài liệu đến với bà con dân bản, tôi đã quyết định thành lập Câu lạc bộ học chữ Thái Lai Tay tại xã Châu Cường, Quỳ Hợp. Thêm một lần nữa khiến tôi bất ngờ là số người tham gia Câu lạc bộ khá đông và số lượng ngày càng tăng lên. Đều đặn hàng năm, CLB tổ chức lớp học chữ Thái và đến nay số lượng học viên được học chữ Thái lên đến vài trăm người. Đối tượng học viên bao gồm cả cán bộ, công chức, bộ đội, học sinh phổ thông... Đến thời điểm này, chữ Thái Qùy Châu cũng đã được đưa vào Trung tâm giáo dục thường xuyên dạy cho đối tượng cán bộ công chức làm việc ở địa bàn có người Thái sinh sống (TTGDTX huyện Con Cuông, TTGDTX huyện Qùy Hợp và TTGDTX tỉnh Nghệ An).

Không dừng lại đó, năm 2009, tôi được cán bộ Phòng Công thương huyện Quỳ Hợp hướng dẫn tham gia đề tài khoa học cấp tỉnh về chữ Thái Lai Tay có tên “Nghiên cứu, biên soạn Tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai - Tay ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An” do tôi làm chủ nhiệm. Đề tài đã được nghiệm thu và xếp loại xuất sắc, tỉnh cho phép triển khai giai đoạn 2. May mắn hơn nữa là Đề tài của tôi đã được nhận Giải đặc biệt tại Giải thưởng Sáng tạo KH&CN năm 2017. 

PV: Giải đặc biệt tại Giải thưởng Sáng tạo KH&CN năm 2017 đã là mục đích cuối cùng chưa, thưa ông?

Kỹ sư Sầm Văn Bình: Với tôi, giải thưởng là kết quả công sức mà tôi đã dày công trong những năm qua, chứ không phải đích đến cuối cùng. Thành công của đề tài tôi thực hiện chỉ mới trong phạm vi nhỏ hẹp của huyện Quỳ Hợp, mà cái mong muốn của tôi là tất cả đồng bào dân tộc Thái ai ai cũng được học chữ Thái, ai ai cũng biết đọc thông viết thạo chữ viết của dân tộc mình.

Nhu cầu học chữ Thái của bà con rất lớn, con số hàng trăm học viên đã học so với số bà con đang mong ngóng được học là rất ít. Có những khi mình mở lớp học được ở bản này mà bản khác không mở được là bà con họ phản ứng rất mạnh, họ còn đòi kiện vì huyện không công bằng, thậm chí bà con còn đòi góp tiền, góp của, góp công để tổ chức lớp học. Tuy nhiên, việc mở các lớp học tiếng Thái còn phải được sự đồng thuận của các cơ quan ban ngành, một mình tôi không tự quyết định được. Nên, mong muốn lớn nhất của tôi vẫn là mở được nhiều lớp học hơn nữa, không chỉ ở huyện Quỳ Hợp, mà cả các huyện miền núi khác của tỉnh Nghệ An.

Thời gian tới, huyện Quỳ Hợp sẽ phối hợp với Sở Văn hóa & Thể thao Nghệ An xây dựng hồ sơ trình Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch công nhận chữ Thái Lai Tay là di sản vật thể cấp quốc gia. Nếu chữ Thái Lai Tay trở thành di sản phi vật thể cấp quốc gia thì sức lan truyền của nó đến với cộng đồng lớn hơn, trong tỉnh, trong cả nước, thậm chí cả nước ngoài, đặc biệt là sự quan tâm của cộng đồng người Thái ở nước ngoài. Để làm được điều đó theo tôi cần sự quan tâm, vào cuộc nhiều hơn nữa các cấp ngành liên quan; đặc biệt là sự tham gia của truyền thông tỉnh nhà.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Con người xứ Nghệ khác:
Viện trưởng Phạm Đức Dương - Một người con xứ Nghệ (4/12/2017)
Thầy Văn Như Cương và 10 câu nói tâm huyết với học trò (10/10/2017)
Phó Giáo sư Ninh Viết Giao với Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An (6/10/2017)
Từ niềm đam mê đến giải thưởng Sáng tạo Khoa học & Công nghệ (3/7/2017)
PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH KỲ DIỆU “THỔI BÁT CHÁO NÓNG” CỦA BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (31/3/2017)
NHÀ NÔNG HỌC NGUYỄN THÁI HIẾN - SUỐT ĐỜI HỌC ĐỂ HÀNH (13/12/2016)
NHÀ VĂN NGUYỄN THẾ QUANG VÀ BA CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VỪA XUẤT BẢN (5/1/2016)
MẤY KỶ NIỆM VỚI PHÓ GIÁO SƯ PHAN VĂN BAN (8/12/2015)
VÕ QUÝ HUÂN (1912 - 1967) (9/9/2015)
Cao Xuân Dục – Một nhà sử học Việt Nam dưới triều Nguyễn (9/9/2015)
Giáo sư Cao Xuân Huy – hư thực chân dung một bậc thầy (9/9/2015)
Giáo sư Trần Đình Hượu và những đóng góp cho khoa học xã hội Việt Nam (9/9/2015)
Người thổi hồn văn hóa dân gian xứ Nghệ (9/9/2015)
Tôn Quang Phiệt - Nhân vật của lịch sử và văn hóa khả kính (18/5/2015)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,194 | Tất cả: 1,559,505
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp