KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Một số luận điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần
Tin đăng ngày: 3/7/2017 - Xem: 491
 

TS. Lê Đức Hoàng

Nguyên Giảng viên Trường Đh Vinh

1. Tuy số lượng bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chí Minh về chủ đề kinh tế không nhiều nhưng Người chỉ ra nhiều nội dung quan trọng về con đường phát triển kinh tế thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Đó là kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, nhưng kinh tế quốc doanh luôn đóng vai trò chủ đạo. Người không chỉ khẳng định tính tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa mà còn yêu cầu phải ưu tiên, coi trọng phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hợp lý và gắn phát triển kinh tế với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong điều hành, quản lý.

Nhiều luận điểm về kinh tế của Hồ Chí Minh nêu ra cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng hiện nay vẫn nguyên giá trị, trở thành điểm cốt lõi trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: kinh tế thị trường định hướng XHCN “có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”(1). Tiếc rằng, có thời gian dài, chúng ta chưa quan tâm nghiên cứu đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Thậm chí, có lúc chúng ta còn làm trái ngược với tư tưởng của Người về kinh tế, dẫn tới khuynh hướng muốn xóa bỏ ngay thành phần kinh tế tư nhân, chỉ quan tâm phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Song, từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đến nay, chúng ta có nhận thức và hành động sát với quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế, coi nền kinh tế nhiều thành phần là đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trong những ngành nghề, lĩnh vực nhất định.

2. Tìm hiểu các bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chí Minh, đặc biệt là Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam (ngày 11/4/1946), Thường thức chính trị (tháng 9/1953), Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam DCCH (tháng 12/1959)..., chúng ta thấy tư tưởng của Người về kinh tế nhiều thành phần có một số vấn đề chính sau đây:

Một là, về tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần. Hồ Chí Minh sớm xác định sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân thì “áp dụng những nguyên tắc tân chính sách kinh tế”(2) cho giai đoạn cách mạng XHCN, tức là Chính sách kinh tế mới như của Lênin đã áp dụng ở nước Nga Xô viết từ năm 1921. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, căn cứ vào đặc điểm nước ta là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến quá độ đi lên CNXH với sức sản xuất yếu, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân còn thấp, Hồ Chí Minh xác định xây dựng kinh tế là “nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(3); “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”(4).

Năm 1946, khi đang ở thăm nước Pháp, có nhà báo phỏng vấn về thời gian Việt Nam đạt đến chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh trả lời: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”(5). Đến năm 1953, Người khẳng định: “Tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến CNXH (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CNXH (cộng sản) như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta…”(6). Đối với nước ta, mục đích “kháng chiến để đập tan ách đế quốc, phong kiến, giải phóng dân tộc, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất thực sự, thực hiện chế độ dân chủ mới, tiến tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”(7). Theo cách diễn đạt đó của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hiểu chế độ dân chủ mới là thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam như hiện nay ta vẫn gọi.

Khi miền Bắc nước ta đi lên xây dựng CNXH, trở thành hậu phương lớn ra sức chi viện cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài(8).

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trên con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phải thực hiện “chế độ dân chủ mới”. Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau là: kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã, kinh tế của cá nhân, tư bản của tư nhân, tư bản của nhà nước; trong đó, “kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên, kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”(9). Như vậy, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là tất yếu khách quan.

Hai là, về các hình thức sở hữu kinh tế. Từ năm 1959, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: (1) Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. (2) Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. (3) Sở hữu của người lao động riêng lẻ. (4) Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản. Người cũng căn dặn, “mục đích của chế độ ta là xoá bỏ các hình thức sở hữu không XHCN, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. Trong đó, “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên”. Còn “kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển”. Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH và thúc đẩy việc cải tạo XHCN. Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc. Kinh nghiệm qua thực tiễn chứng tỏ rằng hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đó là việc rất cần thiết. Chúng ta phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công và hợp tác xã thì hợp tác hoá nông nghiệp nhất định thành công. Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện. Đối với những nhà tư sản công thương, nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của nhà nước. Đồng thời, nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác. Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất. Nhà nước dùng cơ quan của mình và dựa vào công đoàn, hợp tác xã, các tổ chức khác của nhân dân lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế(10)

Ba là, về các thành phần kinh tế. Năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ ở vùng tự do của ta còn tồn tại 6 thành phần kinh tế là: (1) Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô. (2) Kinh tế quốc doanh, có tính chất CNXH. (3) Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa CNXH. (4) Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc, ít có gì bán và cũng ít khi mua gì. (5) Kinh tế tư bản của tư nhân. (6) Kinh tế tư bản quốc gia. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là CNXH(11).

Nhưng về lâu dài, để phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, Hồ Chí Minh chỉ ra 5 loại kinh tế khác nhau, đó là:  “A- Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân). B - Các hợp tác xã (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến đến CNXH). C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa CNXH). D - Tư bản của tư nhân. E - Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”(12). Có thể nói, đây chính là nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN mà chúng ta đang thực hiện.

Bốn là, về chính sách kinh tế nhiều thành phần. Để xây dựng và phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần như trên, Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt sau đây:

(1) Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

(2) Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

(3) Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.

(4) Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta. Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta(13).

Hồ Chí Minh cũng có quan điểm khách quan với kinh tế tư bản tư nhân trong nước vì nhìn thấy đặc điểm riêng của giai cấp tư sản Việt Nam. Đó là “giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước”, cho nên, “nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo CNXH”(14). Bên cạnh đó, Người cũng rất quan tâm đến việc làm ăn, phát triển kinh tế để đầu tư về nước của Việt kiều: “Các bạn, người buôn bán, kinh doanh, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân và trí thức, đã chung sống với nhân dân Việt Nam. Các bạn đã khai cơ lập nghiệp ở Việt Nam. Những hoạt động chính đáng về kinh tế và văn hóa của các bạn cũng có lợi cho Việt Nam. Vì vậy tôi khuyên các bạn: Các bạn cứ yên lòng làm ăn như thường. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộ các bạn”(15).

Năm là, về giải pháp phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN.

 (1) Phát triển kinh tế đi đôi với quản lý có hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người chỉ rõ: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi CNXH, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”(16) và “sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống”(17). Người cũng căn dặn, trong phát triển kinh tế phải chống ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “giặc nội xâm” - đồng minh với giặc ngoại xâm, “là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Loại kẻ thù này “khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”, “làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta”, “phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”(18). Hồ Chí Minh cũng căn dặn nhiều điều về cách thức quản lý kinh tế, phân phối sản phẩm sao cho công bằng để kích thích động lực phát triển. Ví như, không nên chia phần tốt cho vợ, con mình còn phần xấu thì chia cho người khác; phải thật minh bạch tất cả các khoản chi, khoản thu; ban quản trị không được tư túi, tiêu xài mà không báo cáo.

(2) Ưu tiên phát triển kinh tế nông nghiệp nhưng phải xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hợp lý. Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”(19). Nên từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã xác định, để kháng chiến chóng thành công thì phải tích cực phát triển nông nghiệp làm cơ sở, làm hậu phương cho tiền tuyến lớn. Đến năm 1949, Người chỉ rõ: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp. Ngành nào cũng quan trọng cả. Nhưng lúc này quan trọng nhất là nông nghiệp, vì “có thực mới vực được đạo”. Có đủ cơm ăn, áo mặc cho bộ đội và nhân dân thì kháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mới thành công”(20).

Tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10/12/1954 để bàn về phát triển kinh tế, Người nói: “Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng”(21). Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Người nhắc nhở: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra”(22).

Theo Người, “công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của con người. Hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc. Nông nghiệp không phát triển thì công nghiệp cũng không phát triển được. Ngược lại, không có công nghiệp thì nông nghiệp cũng khó khăn. Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau rất khăng khít”(23), “Nền kinh tế XHCN có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp..., hai chân không đều nhau, không thể bước mạnh được”(24). Cho nên, công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng CNXH, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân(25).

(3) Phải đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên; khuyến khích lợi ích cá nhân hợp pháp và kích thích lợi ích vật chất như thưởng, phạt phân minh. Để tạo động lực cho nền kinh tế, phát huy quyền làm chủ trong lao động, sản xuất và phân phối, Người đề ra phương pháp: “Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng. Công nhân sản xuất ra nhiều vải, cố gắng nhiều, hưởng được nhiều; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”(26). Đối với phân phối thì: “Làm tốt, làm nhiều: hưởng nhiều; làm xấu, làm ít: hưởng ít, có khi phải bồi thường lại cho Nhà nước. Chính phủ không phát lương cho người ngồi ăn không”(27). Trong điều hành, quản lý kinh tế, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là tránh để thất thoát, lãng phí của công.

(4) Mở cửa nền kinh tế, phải có kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, hài hòa, đều có lợi. Từ năm 1919, Người đã viết: “Xét về nguyên tắc tiến bộ chung thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; văn minh chỉ có lợi cho các quan hệ quốc tế mở rộng và tăng cường”(28). Tư tưởng này về sau được cụ thể hóa trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực…, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình…, mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế…, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế…”(29).

Về mặt tổ chức, sản xuất, quản lý kinh tế, Người chỉ rõ: Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ Trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, địa phương căn cứ vào kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung. Cán bộ phải biết lao động và phải tham gia lao động; người lao động phải biết quản lý và tham gia quản lý. Thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng, hợp lý làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom. Các quan hệ lợi ích phải được giải quyết hài hòa, cá nhân và tập thể, nhà nước và nhân dân phải đều có lợi.

3. Việc nghiên cứu đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế sẽ cung cấp thêm những luận điểm quan trọng, làm cơ sở cho Đảng ta hoàn thiện đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN; giúp nhà nước ta có thêm luận cứ khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển đảm bảo định hướng XHCN. Đảng và Nhà nước ta đang từng bước hoàn thiện thể chế nhằm phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng và số lượng lao động công nghiệp - dịch vụ ngày càng mở rộng, còn tỷ trọng và số lượng lao động nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Mặc dù vậy, do đặc điểm về điều kiện nước ta nên nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng. Do đó, quan điểm của Hồ Chí Minh lấy “nông nghiệp làm gốc” vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vậy, chúng ta phải nghiên cứu kỹ tư tưởng của Người để triển khai vào thực tế Việt Nam trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Từ xu thế của thế giới, từ quan điểm coi trọng công nghiệp bên cạnh nông nghiệp của Hồ Chí Minh, chúng ta quan tâm phát triển công nghiệp, phát huy mọi khả năng nội lực, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đồng thời, tích cực mở cửa nền kinh tế để bắt nhịp với xu thế của thời đại, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, kêu gọi đầu tư, liên kết, liên doanh, hợp tác phát triển kinh tế.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chủ tịch về kinh tế nhiều thành phần, cần bảo đảm dân chủ trong kinh tế gắn liền với dân chủ trong chính trị, văn hóa, xã hội. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn liền với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và nền văn hóa XHCN tiên tiến, đậm đà bản sắc Việt Nam. Đồng thời, tạo hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp, bảo đảm giải quyết hài hòa các quan hệ về lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa chủ và thợ, giữa lợi ích của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước, lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích quốc gia và quốc tế.

Chú thích

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.103.
  2. Theo PGS.TS Hoàng Trang, trong bài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
  3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.175.
  4. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 9, tr.518.
  5. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.315.
  6. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293.
  7. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.216.
  8. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.411- 412.
  9. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293-294.
  10. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.372-373.
  11. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.266.
  12. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.293-294
  13. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 8, tr.267.
  14. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 10, tr.391.
  15. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 9, tr.80.
  16. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập14, tr.311.
  17. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.70.
  18. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 7, tr.357-358
  19. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.246.
  20. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 6, tr.212.
  21. Chủ tịch Hồ Chí Minh với những sự kiện trong tháng 12 qua các năm (1890-1969), trang web của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  22. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd,Tập 12, tr.635.
  23. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.469.
  24. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.162.
  25. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.376.
  26. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 10, tr. 537-538.
  27. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tâp 10, tr.534.
  28. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd , Tập 1, tr.9.
  29. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, Tập 4, tr.523.
Khám phá xứ Nghệ An khác:
30 năm hải chiến Gạc Ma, Trường Sa: Tháng Ba khắc khoải (14/3/2018)
Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: Ảnh hưởng quốc tế và hoạt động ngoại giao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (1/3/2018)
KH&CN Nghệ An - Dấu ấn năm 2017 (19/12/2017)
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Phan Bội Châu (26/12/1867-26/12/2017): Phan Bội Châu trong lịch sử và văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX(1) (19/12/2017)
Tình hình nghiên cứu về Phan Bội Châu ở nước ngoài từ trước tới nay (4/12/2017)
Cách mạng tháng Mười - Văn học Xô Viết và văn học Việt Nam (31/10/2017)
Những cảm nhận sâu sắc, những mối tình bền chặt (5/10/2017)
Tuyên ngôn độc lập 1945 - Những giá trị về quyền con người và quyền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam (7/9/2017)
Những năm tháng "Ăn cơm nhà, làm việc nhà" trên đất bạn (7/9/2017)
Ghi chép của người 6 lần được gặp Bác Hồ (3/7/2017)
Một số luận điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần (3/7/2017)
Biết bao nhiêu tình... (3/7/2017)
Về vấn đề "Một nước hai chế độ" của Trung Quốc (3/7/2017)
Viết nhân ngày sinh lần thứ 127 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (23/5/2017)
VĂN HỌC TRONG HAI CUỘC CHIẾN TRANH VÀ MỘT ĐỘI NGŨ NHÀ VĂN CẦM SÚNG (31/3/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,445 | Tất cả: 1,553,021
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp