GIỚI THIỆU CHUNG
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn
Tin đăng ngày: 3/7/2017 - Xem: 507
 

Lê Tiến Công

Châu bản triều Nguyễn (Châu bản) là tập hợp các văn bản hành chính của triều Nguyễn, bao gồm các tập tấu, sớ, phụng thượng dụ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, bẩm, truyền, sai, phó, khiển... được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê bằng mực màu son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là những tư liệu gốc, có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa triều Nguyễn nói chung và lịch sử chủ quyền biển đảo nói riêng. Trong thời gian qua tài liệu Châu bản được khai thác nghiên cứu khá nhiều. Nhiều Châu bản quý đã được tập hợp trong cuốn Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[1]. GS. Phan Huy Lê đã có bài viết phân tích cặn kẽ tập tư liệu này[2].

Ở bài viết dưới đây, chúng tôi bước đầu giới thiệu một số Châu bản liên quan đến các hoạt động tuần tiễu (tuần tra – tiễu trừ cướp biển), kiểm soát vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn. Những tư liệu chủ yếu được chúng tôi sử dụng là Châu bản triều Nguyễn hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I. Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng các bản mục lục Châu bản đã xử lý[3] và một số tư liệu từ Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam Hội điển sử lệ để bổ sung trong bài viết.

  1. Tổng quan tư liệu

Các tư liệu Châu bản được và giới thiệu có nội dung chủ yếu về công tác tuần tra – kiểm soát vùng biển. Chức năng của công tác tuần tra, kiểm soát vùng biển dưới triều Nguyễn chủ yếu thể hiện mục đích thực thi chủ quyền, kiểm soát an ninh, chống cướp biển, bảo vệ vận tải công và cứu hộ cứu nạn. Vì vậy những Châu bản chúng tôi tiếp cận và giới thiệu thường có mối quan hệ qua lại giữa các nội dung trên.

Các Châu bản chuyên về công tác tuần tra gồm 31 bản: triều Minh Mạng (6 Châu bản), triều Thiệu Trị (4 Châu bản) và chủ yếu dưới triều Tự Đức (21 Châu bản) [Bảng 1]. Chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận Châu bản dưới triều Gia Long.

Các Châu bản về chống cướp biển (sử triều Nguyễn thường gọi là hải tặc, phỉ, giặc Tàu Ô) gồm 25 Châu bản: gồm 3 Châu bản dưới triều Minh Mạng, 5 Châu bản dưới triều Thiệu Trị và 17 Châu bản dưới triều Tự Đức. [Bảng 2]

Qua hai bảng thống kê cho thấy các nội dung Châu bản chủ yếu nói về công tác tuần tra hoặc liên quan đến công tác tuần tra, chống cướp biển. Tuy nhiên, có những Châu bản vừa phản ánh những nội dung tuần tra nhưng cũng đồng thời phản ánh các nội dung khác như chống cướp biển, thưởng phạt hay chế độ cho những binh lính bị đắm tàu khi đi tuần tiễu… Các Châu bản chủ yếu là các bản tấu hoặc phúc của bộ Binh, một số tấu của bộ Hộ, bộ Công, một số tấu của hai bộ Hộ, bộ Binh. Một số “phụng Thượng dụ” do các đại thần đương thời thay mặt vua để tiến hành một mệnh lệnh nào đó. Bên cạnh đó có các tấu, mật trình của địa phương gửi về đều có chủ đề liên quan đến công tác an ninh vùng biển.

  1. Mục đích tuần tra, kiểm soát vùng biển của triều Nguyễn

Tuần tra, kiểm soát là hoạt động quan trọng trong bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển. Mục đích của tuần tra mặt biển được vua Minh Mạng chỉ rõ là là một việc mà có đến ba điều lợi: “đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không giám gây sự. Thế có phải là một việc mà được ba điều lợi không”[4]. Một trong những cái lợi trực tiếp mà Minh Mạng không đề cập đến trong bản dụ trên là bảo vệ vận tải biển, vốn được sử dụng rất nhiều trong việc vận chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về Kinh đô.

Tấu của Đề đốc Kinh thành Lương Văn Liễu ngày 15.1 năm Minh Mạng 19 (1838), cho rằng nay khí trời ấm áp, đường biển thuận tiện thời kỳ thương thuyền qua lại buôn bán nên phái binh thuyền tuần tiễu để vùng biển được yên ổn: “Nay xin phái Giám thành vệ Phó vệ uý Trương Đình Bành quản lĩnh nhuệ binh 10 tên cùng biền binh đến Thuận An 30 tên gồm 60 tên, chia ra tại cửa tấn, phái hai thuyền đầy đủ khí giới đi các cửa biển trong hạt tuần tiễu, nếu gặp thuyền phỉ lập tức truy nã bắt lập án nghiêm trị để yên mặt biển. Châu phê: Được”[5]. Tấu của bộ Binh ngày 12.5 năm Thiệu Trị 2 (1842), xin phái cử thêm 2 thuyền tuần biển số 1, số 2 cùng với 2 chiếc ô thuyền, cử thêm 2 Suất đội phối hợp vào các loại thuyền phân chia đến các tỉnh, phía nam từ Thừa Thiên tới Bình Thuận phía bắc tới Quảng Yên tuần tra qua lại, giữ yên vùng biển. Châu phê: Đã xem”[6]

Châu bản ngày 20 tháng 7 năm Thiệu Trị 1 (1841), đại thần Trương Đăng Quế phụng Thượng dụ cho rút binh thuyền tuần dương vì việc tuần tra đã xong, vùng biển đã yên: “Trước đây đã phái 2 viên Quản vệ tại Kinh đem các sắc binh lính thuỷ bộ đi trên 2 thuyền Bình Hải và Tĩnh Hải để tuần tiễu vùng biển các hạt, phía bắc đến tỉnh Nam Định, phía Nam đến tỉnh Nam Ngãi. Ngày nọ theo trình báo các thuyền đó hiện vào neo đỗ tại tấn Thuận An và đã chuẩn cho lính bộ rút về trước, còn lính thuỷ cùng thuyền bè, vũ khí tạm lưu lại chờ đợi tại tấn đó. nay thời tiết đã vào thu vùng biển đã yên. Vì vậy các binh thuyền trước đây phái tuần tiễu trên biển cho đều rút về đơn vị. Châu điểm”.[7]

Những Châu bản có nội dung tương tự như trên khá nhiều, đó là vào mùa vận tải thì điều phái binh thuyền ra khơi tuần tiễu để giữ yên vùng biển.

  1. Thời gian tuần tiễu

Hoạt động tuần tiễu được thực hiện thường xuyên trên vùng biển, nhất là các cửa biển quan trọng nhưng chú trọng nhiều nhất vào khoảng tháng 3 đến tháng 7, có khi bắt đầu từ tháng 4 và kéo đến tháng 8. Tháng 3,4 đến tháng 7,8 âm lịch hàng năm là những tháng thuận lợi cho việc vận tải đưởng thủy và đây cũng chính là thời điểm có nhiều cướp biển.

Công tác tuần tra được tiến hành theo chu kỳ nhất định, tùy thuộc vào thời gian có nhiều thuyền buôn và thuyền công sai đi lại nhiều hay ít. Binh thuyền phái đi cũng luân phiên thay đổi 3 tháng một lần bởi “phái đi lâu ngày, có phần nhọc mệt, nay chuẩn cho các viên quản vệ đang tại ngũ ở nguyên mà quản suất, còn các viên quản suất dư dả cho đến quân lính, cứ 3 tháng phải chiếu số thay đổi, để cho kẻ làm người nghỉ được đồng đều”[8]. Tháng 8.1810, vua Gia Long định lại 4 điều về việc vận tải biển, trong đó có nói: “việc vận tải cứ mỗi năm một lần, thượng tuần tháng Tư thì ra biển. Quan sở tại trước ngày ra khơi, tư ngay cho các trấn thủ các địa phương, ngày đêm đi tuần ở biển; thuyền chở đi qua, có cần giúp đỡ gì, tức thì chiếu cố và khám làm chứng, đem việc tâu lên"[9]. Tuy nhiên cũng tùy theo từng điều kiện cụ thể mà có thể tiến hành sớm hoặc muộn hơn có khi tháng Giêng, tháng Hai đã phải tiến hành tuần thám. Đặc biệt ở các vùng biển có nhiều hải tặc thì không kể mùa nào bởi tấn thủ sở tại vốn có trách nhiệm tuần phòng...

Các Châu bản chúng tôi tiếp cận đều có điểm thống nhất về thời điểm cử thuyển ra khơi tuần tiễu. Châu bản ngày 14 tháng 2 năm Tự Đức thứ 4 (1851), Tấu của bộ Binh về  việc phái binh thuyền đi tuần tiễu phía nam tới Bình Thuận, phía Bắc tới Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) đã “nhổ neo hôm nay”: “Hôm trước vâng dụ: Truyền điều phái 1 Quản vệ, 2 Suất đội, 80 binh lính bộ Binh; 2 Suất đội, 80 binh lính Thủy quân; 25 pháo thủ Thần cơ, đi bằng 1 thuyền Định Dương, 2 ô thuyền đi tuần tiễu từ Thừa Thiên vào Nam tới Bình Thuận. Lại điều phái 1 Quản vệ, 1 Suất đội, 55 lính thuỷ, 2 suất đội 55 lính bộ 18 pháo thủ Thần cơ đi bằng 1 thuyền Bình Hải, 1 ô thuyền tuần tiễu từ Thừa Thiên ra Bắc tới Quảng Yên và đều chờ gió thuận xuất phát từ tấn Thuận An ra biển tuần tiễu vào thượng tuần tháng 2. Nay theo bẩm về, các binh thuyền này đều đã nhổ neo vào ngày hôm nay. Châu điểm”.[10]

Thông thường, các thuyền tuần tra còn có nhiệm vụ hộ tống thuyền vận tải. Vua Tự Đức từng quở trách bộ Binh về việc phân chia tàu hộ tống không đảm bảo với châu phê “Nghĩ xét thế nào mà không hợp lý? Hà Tĩnh thì không cho đi hộ tống, Nghệ An thì vận tải trở về lại sai đi hộ tống, đều không đáng việc”[11]. Châu bản ngày 10 tháng 8 năm Tự Đức 30 (1877) cho biết: “các thuyền tuần tiễu các tỉnh xin do bộ thần sức gấp cho vào tấn dừng đậu, đợi thuyền chở hàng hoá trong Nam ngoài Bắc nếu có lần lượt đi qua tấn phận tấn nào thì do các thuyền tuần chiến và thuyền các tỉnh căn cứ theo hạt mà hộ tống, việc xong lại về tấn phận ẩn náu”[12]. Rõ ràng tuần tiễu và hộ tống thuyền vận tải là một trong những công việc quan trọng của thủy quân.

  1. Lực lượng, phương tiện và phương thức tiến hành

Việc tuần tiễu, kiểm soát vùng biển nói chung được giao cho đội quân chính qui, song ở các địa phương thường được giao quyền chủ động. Để làm điều đó, Nhà nước phân ngạch các thuyền tuần tra cho tất cả các tỉnh miền Trung.

Với số lượng thuyền khá lớn, nhiều chủng loại và chức năng tương ứng, triều Nguyễn đã lấy đó làm căn cứ để phân loại. Căn cứ vào sách Hội điển, chúng tôi thống các loại thuyền liên quan đến phòng thủ, tuần tra, vận tải.. trên biển được định ngạch phân chia cho các tỉnh miền Trung gồm: thuyền bọc đồng, thuyền vận chuyển đường biển, thuyền tuần biển, thuyền vượt biển lớn, vừa và nhỏ. Bên cạnh đó có các loại như thuyền sai, thuyền nhẹ, thuyền ván, thuyền nan, thuyền Tàu, thuyền Tàu ô, thuyền sơn đen, thuyền sơn đỏ, thuyền đầu nhỏ, thuyền con, thuyền xuồng, thuyền xuồng kiểu mới… [bảng 3], [bảng 4].

Trong các loại thuyền trên, thuyền bọc đồng gồm 29 chiếc do Kinh sư quản lý. Kinh sư cũng là nơi tập trung nhiều thuyền nhất, gồm 206 thuyền các loại, sau đó là Quảng Nam với 43 thuyền, Nghệ An 29 thuyền… trong tổng số 387 chiếc cho toàn các tỉnh miền Trung. Căn cứ vào ngạch thuyền chia cho các tỉnh cũng có thể cho thấy mức độ ưu tiên cho các cửa biển quan trọng. Ngoài ra, hầu hết các tỉnh đều được định ngạch thuyền vận tải đường biển và thuyền tuần biển cho thấy chức năng tuần biển kết hợp với vận tải công có quan hệ mật thiết với nhau và tất cả các tỉnh miền Trung đều phải thực hiện.

Các tỉnh lấy dân địa phương (dân ngoại tịch) rồi lập thành các đội tuần tra để tiến hành các công tác do nhà nước giao phó. Bản dụ thời Minh Mạng qui định “các tỉnh có hải phận, đều đóng hai, ba chiếc thuyền nhanh nhẹ, và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám”[13]. Năm 1838, vua Minh Mạng chuẩn cho các trấn từ Thuận An trở vào nam, lấy dân tráng 36 xã thôn, chia làm 6 thành, trích lấy 1 thành, 192 người đặt làm 4 đội cùng với 3 đội cũ gọi là vệ Phong Hải (trước đặt gọi là vệ Tuần Hải) đặt 1 viên quản vệ chuyên coi biền binh vệ ấy. Hàng năm cứ ngày 15.1 thì ra biển do thám[14]. Việc tổ chức dân binh tham gia tuần tra vùng biển thể hiện sự linh hoạt trong tổ chức lực lượng bảo vệ biển của triều Nguyễn. Địa phương cũng đóng vai trò quan trọng và là "tai mắt" của triều đình trong việc nắm bắt thông tin, tuần thám trên biển. Điều này có thể tìm thấy nhiều dẫn chứng từ các tư liệu trong chính sử nhà Nguyễn như Thực lục Hội điển và đặc biệt là Châu bản triều Nguyễn.

Thuyền ở Kinh phái và thuyền ở các tỉnh phái đi thường là phía nam đến Quảng Ngãi, Bình Thuận, phía bắc có khi tới tận Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay), nhưng thường là tới Nam Định. Ở các tỉnh thì công tác tuần tra đều do thủy quân ở các vệ thực hiện. Có báo cáo thường xuyên cho triều đình về thời gian đi, thuyền hiệu, số quân và dân binh, biền binh thực hiện.

Bản tấu bộ Binh ngày 30.2 năm Minh Mạng 19 (1938) về việc phái thuyền đi tuần tiễu vùng biển nam, bắc. Theo đó, về phía nam có thuyền Thanh Hải, hai chiếc Tuần Hải, hai Ô thuyền; 2 viên quản vệ 6 Suất đội, biền binh hơn 270 người. Về phía bắc có thuyền Định Hải, Tuần Hải, hai Ô thuyền, 1 viên quản vệ phối hợp với các loại biền binh thuỷ bộ là hơn 220 người[15]. Các Châu bản ngày 20.7 năm Thiệu Trị 1 (1841), ngày 8.7 năm Thiệu Trị 7 (1847), đều có nội dung cho rút binh thuyền tuần dương khi mùa vận tải đã xong, vùng biển đã yên: “Nay thời tiết đã vào thu mà vùng biển của các địa phương đều đã yên. Vậy truyền dụ cho binh thuyền do Kinh phái, ở phía Nam là Hiệp quản Vũ Khoa lập tức đem binh thuyền rút về Kinh. Ở phía Bắc là bọn Quản vệ Trần Quang Cương chờ tới hạ tuần tháng này, sau khi việc vận tải đã xong thì đem binh thuyền rút về. Châu điểm”[16].

Một số Châu bản sau đây cho thấy việc tuần tra là công việc quan trọng của tấn sở các tỉnh. Như bản tấu trình của bộ Binh ngày 3.2 năm Tự Đức 22 (1869) giải thích việc phân chia tuần tiễu phía bắc nhưng không có Quảng Bình. Bộ này giải thích, Quảng Bình theo lệ hàng năm có phái 3 chiếc tuần thuyền căn cứ hạt phận tuần tiễu nên không cần thuyền của Kinh phái thêm. Châu điểm.[17]. Tấu của trấn thần Thanh Hóa Hồ Văn Trương ngày 6.3 năm Minh Mạng 11 (1830) cho biết các xứ Biện Sơn, Mê Sơn, Ni Sơn và các cửa tấn thuộc trấn hạt đều là vùng biển quan trọng trước mắt đến kỳ chính vận chuyển đường biển nên việc đầu tiên là đề phòng cho nghiêm ngặt. Trấn này đã đem 104 binh lính thủy bộ đi trên 3 chiếc thuyền Lê, thuyền mỗi chiếc đặt 3 khẩu pháo quá sơn, gồm 9 khẩu đạn dược, nghi trượng đầy đủ... ngày mồng 4 tháng này từ bờ biển ở trấn dời bến ra biển phân chia đi tuần tiễu. Châu phê: "Được"[18]. Tại tấn Đại Chiêm (Quảng Nam) cũng thường xuyên tuần tiễu cướp biển: “Thần bộ xét thấy hải phận đảo Chàm (Cù Lao Chàm) thường có phỉ đến quấy nhiễu nên tiễu trừ để vùng biển này được yên. Lệnh cho tàu Thuận tiệp trở về ngay địa hạt này để tiễu phỉ”[19].

Trong những trường hợp cấp bách, khi địa phương báo có cướp biển thì triều đình lập tức điều phái binh thuyền tới địa phương để hỗ trợ. Châu bản ngày 17 tháng 4 năm Thiệu Trị 1 (1841) Trương Đăng Quế phụng dụ điều phái thuyền đi tuần tiễu cướp biển tại vùng biển Nghệ An, Thanh Hóa. Dụ cho biết: “việc tuần biển, trước đã dụ lệnh cho tấn thủ các tấn Nam Bắc cùng các tỉnh phái binh thuyền qua lại tuần tiễu rồi. Nay căn cứ tỉnh Nghệ An tấu báo tại vùng biển tấn Quyền của hạt đó có bọn phỉ người Thanh nhân sơ hở nổi lên, thật là đáng giận. Cần phải phái chiến thuyền tuần tiễu ngay cho vùng biển được yên. Vậy truyền phái ra 1 Quản vệ Thủy sư đem theo 1 Suất đội và 30 binh lính bộ binh; 1 Suất đội và 50 binh lính thủy sư đi trên thuyền Bình Hải. 1 Quản vệ lính bộ đem theo 1 Suất đội và 30 lính bộ binh, 1 Suất đội và 50 lính thủy binh đi trên thuyền Tĩnh Hải, theo cửa Thuận An ra biển đến thẳng tới vùng biển Thanh Nghệ, trước tiên đem 3 chiếc thuyền phỉ đã bắt được đến tra xét. Châu điểm. [20]

Thuyền tuần biển với nhiều loại, như các loại chuyên dụng của Nhà nước hay thuyền của địa phương, thậm chí có khi thuyền đánh cá cũng tham gia công tác tuần tra. Các Châu bản cho cho thấy sư linh hoạt trong tổ chức lực lượng và phương tiện, vũ khí tuần tra. Số lần phái biền binh lớn nhất là vào ngày 30.2 năm Minh Mạng 19 (1838) với việc phái 270 biền binh trên 5 thuyền đi về phía Nam. Đồng thời phái 220 biền binh đi trên 4 thuyền tiến hành tuần tiễu phía Bắc. Ngoài ra số lần phái binh thuyền đi tuần tiễu thường căn cứ vào tình hình thực tiễn, thông thường trên dưới 100 người cho mỗi lần.

Do đặc điểm cần triển khai nhanh, phối hợp chiến đấu khi cần thiết nên thuyền công hay thuyền tuần dương thời Nguyễn đều mang nặng yếu tố quân thuyền. Để tăng hiệu quả tuần tiễu, năm 1838, vua Minh Mạng cho làm thuyền khỏa đồng (bọc đồng) để đi tuần. Các tỉnh dọc theo bờ bể thời làm theo hình dáng thuyền “đại dịch”, mỗi tỉnh 2 chiếc mà tỉnh nào mặt bể rộng mông mênh thời làm ba bốn chiếc đều gọi là thuyền “tuần dương”. Thậm chí tàu hơi nước cũng tham gia công tác này: “Vâng xét kỳ tháng 2 hàng năm, trong Kinh ngoài tỉnh phái thuyền binh chia đi tuần tiễu, hộ tống đến tháng 8 là mùa mưa lũ lại chuẩn cho trở về. Nhưng tra năm nay vâng chuẩn cho phái thuyền Lợi Đạt đi về phía Nam, thuyền Lợi Dụng đi về phía Bắc tuần tiễu hộ tống và 4 chiếc thuyền chiến tuần tiễu theo vùng biển Thừa Thiên”. [21]

Như đã nói ở trên, một trong những công việc quan trọng của công tác tuần tra là phòng chống cướp biển. Từ đầu thời Gia Long việc chống cướp biển đã đặc biệt được quan tâm. Bọn cướp biển chủ yếu là chặn cướp thuyền công vận tải, thuyền buôn và thuyền đánh cá của ngư dân. Thời gian hoạt động của thuyền vận tải, thuyền buôn cũng chính là thời điểm thuận lợi cho cướp biển ra tay cướp hại. Để bảo vệ thuyền công trên biển, Gia Long năm thứ 5 (1806), qui định mỗi khi có thuyền vận tải ra biển thì phải đề phòng, ngăn chặn cướp biển từ trước. Trước khi thuyền vận tải Bắc thành xuất phát thì trước đó, các trấn Nghệ An, Thanh Hóa đã làm công tác tuần tra. Công tác chống cướp biển và bảo vệ vận tải công được phân chia theo từng chặng. Từ Bắc thành tới Thanh - Nghệ một chặng, từ Thanh Nghệ về Kinh đô là chặng còn lại.

Công tác tuần phòng chống cướp biển được thực hiện thường xuyên, phát hiện giặc biển thì phải tận lực đuổi bắt. Vua qui định các địa phương có bờ biển từ Quảng Bình trở ra bắc, vốn là nơi có nhiều giặc biển đón cướp thuyền công được phái đi Bắc thành. Các địa phương này, hàng năm từ tháng 3 đến tháng 7 phải tổ chức phái thuyền binh trong hạt tới những nơi ở các đảo mà thuyền cướp biển có thể đậu được, kiểm soát an ninh: “Nếu thấy thuyền “dị dạng”, tình trạng đáng ngờ thì lập tức bắt giải”[22].

Bản tấu ngày 23.4 nhuận năm Minh Mạng 11 (1830), Trấn Quảng Bình cho biết việc tuần thuyền phỉ ở vùng biển tỉnh này: “Ngày 15 tháng này, bỗng có 2 thuyền phỉ đến cướp tại vùng biển Ông Dữ thuộc hạt đó. Nay truyền phái Long Vũ Tả vệ phó vệ uý Nguyễn Đức Trường 90 biền binh, cùng súng đầy đủ, ngay hôm đó ra khơi đến các vùng biển phía bắc Quảng Bình, và tất cả nơi thuyền phỉ có thể lui tới, gắng công lùng bắt. Theo quan thủ ngự Lệ Thuỷ thuộc hạt đó là Nguyễn Văn Vân báo rằng: Giờ Sửu nhìn thấy Long Vũ Tả vệ Phó vệ uý Nguyễn Đức Trường đem thuỷ bộ biền binh hiện đã đến tuần tiễu vùng biển trong hạt”.[23]

Châu bản ngày 11 tháng 4 năm Minh Mạng 19 (1828), Vũ Văn Từ, Đào Trí Phú tâu xin điều phái thuyền chiến đi bắt bọn giặc biển: “Ngày 17 tháng 3 năm nay, khâm phụng minh dụ, trong đó có khoản: Nay cho chọn sai phái biền binh, người nào tinh nhanh, khoẻ mạnh làm được việc phân ngồi trên 4 chiếc ô thuyền. Mỗi chiếc 1 Suất đội, 32 tên lính, 5 tên lính thuỷ cùng Thị vệ, Hộ vệ đem theo pháo giới, khí trượng nhanh chóng ra biển tìm bắt cho được toàn bộ bọn giặc biển, nghiêm khắc trừng trị, ắt sẽ có thưởng nhiều. Nếu tìm bắt không được, bất lực ắt sẽ bị trọng trị.[24]

Thời Tự Đức, cướp biển hoành hành. Theo thống kê của chúng tôi, chỉ tính riêng dưới thời Tự Đức, số thuyền công gặp nạn gió và cướp biển có đến 447 lần, với tỷ lệ 7,1%. Châu bản cho biết cướp biển rất nhiều, một số ví dự như: ngày 18.4.1849, Tổng đốc Quảng Nam, Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn báo cáo về việc bọn cướp biển nhà Thanh chặn cướp thuyền buôn ở cửa sông Đại Áp. Ngày 28.4.1849, Tuần phủ Thuận Khánh Nguyễn Đăng Uẩn trình việc một chiếc thuyền buôn bị bọn cướp biển Trung Quốc cướp ở hải phận tấn Đà Thủy. Xin cho thuyền tuần tiễu thường xuyên. Ngày 4.2.1851, bộ Binh báo cáo về tình hình bọn cướp biển Trung Quốc chận cướp thuyền buôn ở tấn Vân Phong, Cam Linh tỉnh Khánh Hoà. Ngày 3.3.1851, bộ Binh trình báo cáo của Phan Huy Vịnh ở Quảng Ngãi về tình hình bọn phỉ Trung Quốc qua lại hải phận vùng này, chặn cướp các thuyền buôn, làm cản trở đường giao thông hàng hải giữa hai miền Nam- Bắc. Đã cho thuyền tuần tiễu ra sức trừ nhưng vẫn chưa hoàn toàn tiêu diệt được bọn chúng. Thậm chí có khi giặc biển táo tợn đồng loạt nổ súng vào cửa biển, quấy rối vùng biển, mang vũ khí đổ bộ lên bờ.... như ngày 26.4.1851, bộ Binh báo cáo về việc 10 chiếc tàu của Thanh phỉ nổ súng bắn vào cửa biển Cần Trà (?). Ngày 18.7.1857, Bố chánh sứ Khánh Hoà Tôn Thất Dương báo cáo về việc ngày 19.4 bọn cướp biển Trung Quốc lẻn vào bắn phá tàu buôn bị thuyền tuần tiễu của cửa biển Cam Ranh đuổi đánh. Sau một trận giao tranh, bọn cướp yếu thế phải bỏ chạy về phía đông[25].

Dưới thời Tự Đức, việc tuần tiễu cướp biển được thực hiện thường xuyên. Châu bản thời Tự Đức cho biết liên tục hai ngày 3 và 4 tháng 5.1851, bộ Binh báo cáo về việc tiễu trừ Thanh phỉ sang cướp bóc thuyền buôn của ta trong hải phận tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 6.5.1851, báo cáo tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ nổ súng quấy rối ở vùng biển thuộc cửa biển Thị Nại. Ngày 7.5.1851, bộ Binh lại báo cáo về việc tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ sang cướp bóc thuyền buôn, mang vũ khí đổ bộ lên bờ thuộc cửa biển Sa Huỳnh. Ngày 8.5.1851, báo cáo về việc tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ xâm nhập hải phận thuộc cửa biển Hoàng Sa, Quảng Ngãi, cướp thuyền buôn và đổ bộ lên bờ…[26].

Việc phòng chống cướp biển ít nhiều có hiệu quả như các bản tâu và trong một số chỉ dụ trên có nhắc đến. Châu bản cũng nói đến điều đó, như ngày 24.4.1838, tỉnh Quảng Nam lại tâu về việc: “ghe buôn Nguyễn Văn Nhơn bị hải tặc người Thanh cướp tại hải phận Quảng Ngãi, ghe buôn Nguyễn Văn Triêm bị cướp tại hải phận Quảng Nam. "May có ghe tuần dương nên khỏi bị mất tất cả"[27]. Những “tin vui” như thế không nhiều mà thuyền vận tải vẫn phải ra khơi làm nhiệm vụ trong mối đe dọa thường trực. Châu bản ngày 22.2 năm Tự Đức 30 (1877), Bộ Binh cho biết các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình đều có báo cáo về việc có thuyền cướp biển chặn đường vận tải. Tuy đó là điều đáng trách khi không làm tròn bổn phận nhưng đang vào mùa vận tải, “xin do bộ thần dục gấp thuyền Lợi Dụng đến Quảng Bình, Hà Tĩnh ra sức đánh dẹp hết bọn phỉ cản trở đường đi. Châu điểm.”[28].

  1. Hiệu quả và hạn chế

Công tác tuần tra thường xuyên đem đến hiệu quả không nhỏ trong việc giữ yên mặt biển. Hầu hết những lần đụng độ với cướp biển thì phần thắng vẫn thuộc về thủy quân nhà Nguyễn. Ví như tháng 4.1859, “Giặc biển ăn cướp thuyền buôn ở dương phận Cù Huân (thuộc tỉnh Khánh Hòa) rồi lên bờ đốt nhà cướp của. Phó lãnh binh là Lê Nghị đốc thúc quân đến bắn, Lãnh binh là Nguyễn Diệm đem lính tỉnh tiếp đến, chia đường cùng đánh bọn giặc biển phải lui (đâm và bắn chết đều 3 đứa, lại bắn trúng thuyền giặc) cứu hộ được thuyền buôn (29 chiếc thuyền, dân thôn không thiệt hại gì”[29]. Tháng 4.1872, “bọn giặc quấy nhiễu hải phận tỉnh Quảng Nam. Thuyền binh đi tuần tiễu cứu hộ được một chiếc thuyền buôn, thuyền của đồn cửa biển Đại Chiêm cứu hộ được 2 chiếc thuyền buôn chở hàng và 1 chiếc thuyền chở dầu, than đều vào được cửa biển, giặc không thể đuổi được. Các thuyền đi cứu ấy đều được thưởng”[30].

Tài liệu Châu bản cũng ghi nhận sự hữu dụng của tàu máy hơi nước trong việc tiễu trừ cướp biển như: Châu bản ngày 10.6 năm Tự Đức 20 (1867), viện Cơ mật và Thương bạc cùng tâu về việc có thể phối hợp sử dụng tàu Pháp vào việc tuần tiễu trên biển: “phần biển nước ta từ nam đến bắc 2 nước hiệp lực trừ hết bọn phỉ biển. Nay các điều do quan thuyền do Tây phái đã xin cũng không thể cự tuyệt. Châu điểm.”[31]. Căn cứ bản tấu của bộ Binh ngày 2 tháng 10 năm Tự Đức 25 (1872) cho biết, tại Hà Tĩnh, một tàu thuỷ của Tây đánh nhau với 2 chiếc thuyền của cướp biển tại vùng biển của huyện Kỳ Anh. “Đạo đó đã phái các viên Quản suất đóng tại đồn An Áo đem binh dân phòng chặn trên bờ và bẩm gấp quan đạo đó bàn bạc sức cho Huyện viên huyện Kỳ Anh cùng chặn giữ”[32]. Hiệu quả của cuộc phối hợp chặn đánh giặc biển này là thuyền cướp biển bị đánh chìm 1 chiếc. Bọn cướp biển nhảy lên bờ bị dân giết chết 8 tên, bắt sống 2 tên.

Bên cạnh những thành công nhất định trong tuần tra, chống cướp biển cũng có không ít những hạn chế và hệ quả là rất nhiều các quan thủ ngự các tấn sở, thậm chí cả quan đầu tỉnh bị kỷ luật nặng: Châu bản ngày 24.4 năm Minh Mạng 19 (1838), tấu của Quảng Ngãi về việc kỷ luật lại viên yếu kém trong việc xử lý bọn cướp biển[33]. Dụ ngày 21.3 năm Thiệu Trị 1 (1841), giáng cấp quan chức tại Thanh Hóa vì để xảy ra tình trạng cướp biển. Bản dụ khẳng định việc tuần biển đã có chương trình đầy đủ, những ngày này các tỉnh hạt ven biển đều có phái binh thuyền ra khơi tuần tiễu nên từ đó đến nay đều được yên ổn. “Nay vùng biển của tỉnh đó có xảy ra vụ cướp như vậy mà tấn thủ sở tại và binh lính tuần biển còn mông muội không hay biết, tuần tra truy bắt như vậy thật là bất lực”[34]. Các quan Tổng đốc, Án sát, thủy sư, thủ ngự đều bị giáng cấp lưu nhiệm. Châu bản ngày 16.4 năm Thiệu Trị 1 (1841), cho biết việc kỷ luật quan chức tại Nghệ An, Hà Tĩnh vì để thuyền vận tải bị cướp trên phận biển của mình: “Tổng đốc cũng khó chối tội”. Châu bản ngày 12.4 năm Thiệu trị 7 (1845), kỷ luật quan chức để phỉ cướp thuyền buôn chạy thoát ở Bình Thuận: “Thủ ngự tấn Phan Thiết, tấn Long Vĩnh đều giáng 4 cấp. Nguyên phái tuần biển là Hoàng Văn Hương thuộc đội 2 vệ Hữu thủy truyền giáng trước 2 cấp và đều cho lưu nhiệm chờ xem hiệu quả sau này. Đội trưởng đội 6 vệ Tả thủy Nguyễn Văn Tố truyền đánh 80 gậy để tỏ rõ sự răn trừng. Thự Tuần phủ Nguyễn Đăng Uẩn bị truyền chỉ khiển trách” [35]

Tại sao cướp biển khó đánh dẹp đến vậy. Đó là câu hỏi mà vua quan nhà Nguyễn đã phải mất rất nhiều công sức vẫn không có lời giải đáp thỏa đáng và điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ phải trả giá hàng ngày trên biển. Căn cứ vào một Châu bản, lời “châu phê” của vua Tự Đức đã cho thấy tình trạng khó khăn trong công tác tuần tiễu chống cướp biển lúc bấy giờ: “Theo lời tâu, lần này 1 chiếc thuyền phỉ nước Thanh dám đến phần biển tấn Đại Áp hạt ấy chặn đón thuyền buôn cướp của làm bị thương người như thế, các tấn thủ sở tại và các thuyền chiến đó tỉnh phái tuần tra vùng biển, lại tuần phòng sơ suất quả là đáng tội”[36]. Vua Tự Đức cũng từng quở trách việc chống hải tặc phải ở chỗ nói nhiều: “Phàm sự việc giải quyết không phải ở chỗ nói nhiều, chỉ cần cố gắng làm và thưởng phạt”[37].

Kết luận

Các Châu bản triều Nguyễn liên quan đến công tác tuần tra và chống cướp biển tại vùng biển miền Trung khá phong phú, góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử chủ quyền và đảm bảo an ninh trên vùng biển đảo lúc bấy giờ. Dưới triều Nguyễn các hoạt động chủ yếu trong việc bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển là thường xuyên tuần tra kiểm soát, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn và chống ngoại xâm - bảo vệ chủ quyền. Các hoạt động tuần tra kiểm soát, phòng chống cướp biển và cứu hộ cứu nạn trên biển là những hoạt động thường xuyên, có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ và bổ sung làm tăng hiệu quả quản lý vùng biển dưới triều Nguyễn. Đó đều là các hoạt động nhằm bảo vệ trật tự trị an và hoạt động kinh tế, trực tiếp là hỗ trợ vận tải công và thuyền buôn, thuyền đánh cá. Triều Nguyễn đã thực thi kết hợp chính sách bảo vệ và khai thác vùng biển trong nhiều hoạt động, trong đó đặc biệt gắn kết giữa nhiệm vụ tuần tra vì an ninh quốc phòng, chống cướp biển với hoạt động hỗ trợ vận tải công, cứu hộ cứu nạn. Nhiều chính sách hỗ trợ, động viên ngư dân tham gia các hoạt động của nhà nước. Đó là sự kết hợp nhiệm vụ an ninh quốc phòng và kinh tế biển đảo. Nhìn chung triều Nguyễn đã có nhiều nỗ lực trong các hoạt động trên nhằm thể hiện chủ quyền quốc gia, giữ yên vùng biển và chống lại các mối đe dọa thường xuyên từ các thế lực bên ngoài./.

Chú thích:

[1] Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới Quốc gia (2013), Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Tri Thức.

[2] Phan Huy Lê, “Châu bản triều Nguyễn và những chứng cứ lịch sử - Pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa”, Nghiên cứu Lịch sử, số 7 và 8 năm 2014.

[3] - Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (2005), Châu bản triều Tự Đức (1848 - 1883), Trung tâm nghiên cứu Quốc học, NXB Văn Học, HN.

- Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp Nhà nước KX - ĐL: 94 - 16

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mạng chính yếu, Tập 2, NXB TH, Huế, tr. 310.

[5] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 62, tờ 67

[6] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 117, tờ 52

[7] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội, tờ 62, tập 9

[8] Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (2005), Châu bản triều Tự Đức (1848 - 1883), Trung tâm nghiên cứu Quốc học, NXB Văn Học, HN, tr. 310

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, NXB Giáo Dục, HN, tr. 795.

[10] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội, tờ 142, tập 21

[11] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 282, tờ 66.

[12] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 286, tờ  19.

[13] Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, in lần thứ 2, Tập 5, NXB TH, Huế, tr. 427.

[14] Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr. 661

[15] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 65, tờ 291.

[16] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 9, tờ 62; tập 48, tờ 172

[17] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 184, tờ 216.

[18] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 41, tờ 43

[19] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 235, tờ 284

[20] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội, tập 8, tờ 131.

[21] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 318, tờ 87

[22] Đại Nam thực lục, Tập 1, tr. 425-426

[23] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 42, tờ 104

[24] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 69, tờ 82.

[25] Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (2005), Châu bản triều Tự Đức (1848 - 1883), Trung tâm nghiên cứu Quốc học, NXB Văn Học, HN, tr. 25, 33, 35, 39, 52.

[26] Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (2005), Châu bản triều Tự Đức (1848 - 1883), sđd, tr. 40-41.

[27] Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp Nhà nước KX - ĐL: 94 – 16, tập 70, tờ 85.

[28] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 279, tờ 103.

[29] Đại Nam thực lục, Tập 7, tr. 607

[30] Đại Nam thực lục, Tập 7, tr. 1327

[31] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 164, tờ 145

[32] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 249, tờ 10.

[33] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 70, tờ 194.

[34] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 8, tờ 52.

[35] Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 43, tờ 89]

[36] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 12, tờ 43

[37] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, HN, tập 170, tờ 217.

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn
(Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn (Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 871 | Tất cả: 1,267,968
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn