GIỚI THIỆU CHUNG
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân
Tin đăng ngày: 31/3/2017 - Xem: 678
 

Năm 2008, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã có quyết định số 72/2008/QĐ-BVHTTDL xếp hạng di tích quốc gia “Di tích kiến trúc nghệ thuật đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá, xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”[3]. Ngày 16/12/2008, nhân dân xã Sơn Thịnh đã vui mừng và phấn khởi tổ chức long trọng lễ đón nhận bằng công nhận di tích trên quê hương mình[4]. Tiếp đó, được sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với  những giá trị về mặt văn hóa nghệ thuật của di tích đang bị xuống cấp, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt dự án Đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích với tổng kinh phí dự tính là hơn 20 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tham quan của nhân dân và giáo dục truyền thống hiếu học, yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong thế hệ trẻ. Được khởi công từ đầu năm 2012, đến đầu năm 2014, giai đoạn I của dự án gồm các hạng mục chính là tu bổ thượng điện, trung điện và hạ điện với giá trị gói thầu là 2 tỷ 9 trăm triệu đồng [5], [6] cơ bản đã được hoàn thành (ảnh 1).

Upload

Ảnh 1. Đền Thịnh Xá vừa hoàn thành tu bổ giai đoạn I

Tuy vậy, nhiều người dân ở Sơn Thịnh và các xã lân cận như Sơn Hòa, Sơn Ninh... sau khi dự buổi lễ đón bằng di tích, nhất là khi đọc bản lý lịch di tích[1] và theo dõi các thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng [2], [4], [6]... vẫn còn có những băn khoăn và những câu hỏi về lịch sử di tích và các vấn đề liên quan. Có đúng tên ngôi đền là đền Bạch Vân hay đây là đền Thịnh Xá và am Bạch Vân? Có đúng đền là do Tiến sĩ Đinh Nho Công lập nên vào năm 1670 hay đã có trước đó? Có đúng là đền lập nên  để thờ một ông người Thanh Hóa tên là Trần Toản?. Có đúng“Tiến sĩ Đinh Nho Công đã được nhân dân làng Thịnh Xá thờ trong đền Bạch Vân với nghi thức như một vị Thành hoàng”?. Có đúng là bức hoành phi đại tự “Kỳ thịnh hĩ hồ”“do Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm viết tặng làng Thịnh Xá và đền Bạch Vân nhân sự kiện ông cùng vua Quang Trung ra Bắc Hà lần thứ hai gặp La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp vào cuối năm 1788”?. Có đúng hai vế đối đắp trên hai cột hiên của nhà thượng điện có nội dung ca ngợi  “Mảnh đất này linh thiêng, khí hậu trong lành an cư lạc nghiệp, Tình huynh đệ ghi ơn và được lưu truyền mãi mãi ngàn sau”? v.v. và v.v... Bài viết xin được cung cấp thêm một số cứ liệu mong được góp phần giải đáp những băn khoăn và những câu hỏi này.

Trước hết là câu hỏi liên quan đến tên gọi của ngôi đền. Trong mục I của bản “Lý lịch di tích” [1], vấn đề này đã được nói đến khi cho rằng “Bạch Vân là tên gọi theo sự tích Đinh Nho Công...”  và đền “còn có tên gọi là đền Thịnh Xá bởi đền thuộc làng Thịnh Xá cũ cho nên trước đây nhân dân thường gọi là đền Thịnh Xá”. Đúng vậy. Phải là “là đền Thịnh Xá bởi đền thuộc làng Thịnh Xá”. Không chỉ người dân Thịnh Xá mà hầu hết người dân của 6 xã tả ngạn sông Ngàn Phố vùng hạ Hương Sơn vẫn thường gọi ngôi đền này là đền Thịnh Xá và quen gọi hơn nữa là “nhà thánh” để chỉ chung cụm công trình đền Thịnh Xá và văn từ của làng Thịnh Xá (nay không còn), chỉ có một số người thích “nói chữ” mới gọi là đền Bạch Vân.

Cũng như nhiều làng xã khác ở Hà Tĩnh [10], cho đến những năm năm mươi của thế kỷ XX, tại mỗi làng của tổng An Ấp (nay là cả 6 xã nói trên) vẫn còn tồn tại các ngôi đền thờ các vị thần bảo trợ và phù hộ cho làng mình đồng thời cũng là văn chỉ hay văn từ  thờ Khổng Tử cùng các vị khoa bảng của làng. Các ngôi đền này thường được gọi là “nhà thánh”, trừ các làng có điều kiện lập riêng văn từ như Bình Hòa, Gôi Mỹ, Thịnh Xá... Làng Văn Giang có “nhà thánh” Văn Giang, làng Thịnh Xá có “nhà thánh” Thịnh Xá kề bên đền Thịnh Xá (nay không còn), làng Yên Bài có đền Yên Bài, làng Kẻ E có đền Xuân Trì...

Từ xa xưa Hoan Châu là vùng đất phát triển và thông thương văn hóa. Cách đây hơn ngàn năm, nhà thơ Trung Quốc thời Đường là Thẩm Thuyên Kỳ (656-714) bị lưu đày trong 3 năm (704-707) tại Hoan Châu đã để lại hơn 10 bài thơ nói về mảnh đất này, trong đó có bài “Từ Sùng Sơn đi Việt Thường” có những câu nói về sự thông thương trên các con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu [18]:

“...Trúc Khê hướng Bắc Phương.

Trúc Khê Đạo Minh lại

Sam Cốc xuất Cổ Sùng...”

Theo [18] thì Trúc Khê  chính là sông Ngàn Phố, Sam Cốc là sông Ngàn Sâu, Cổ Sùng là núi Tùng Lĩnh ở Đức Thọ, còn Đạo Minh là tên một nước phiên thuộc của Chân Lạp. Trên mảnh đất An Ấp nằm dọc tả ngạn con sông Ngàn phố, từ xưa, học hành, khoa cử đã rất được coi trọng. Ngay từ đầu thế kỷ XIV, Lê Tắc đã ghi rõ trong An Nam chí lược là Hoan Châu gồm có “Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường..” trong đó Phố Dương chính là khu vực Hương Sơn ngày nay, và ông còn cho biết “người ở châu Hoan, châu Diễn thì thuần tú, ham học”[7]. Theo [8] thì ngay tại xã Sơn Thịnh ngày nay, năm 1485 đã có người đỗ Tiến sĩ. Đó là Nguyễn Tử Trọng, 18 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa Nhâm Tuất, đời vua Lê Hiển Tông, làm quan đến Đô Ngự sử. Phả họ Đinh Nho ở xã Sơn Hòa [11] cũng cho biết ông Đinh Hữu Luân (1602 – 1676) thuộc đời thứ 6 (ông Đinh Nho Công thuộc đời thứ 7) “đã lập một dương cơ ở xứ Nương cự thôn Gôi Mỹ” và dặn rằng: “Con cháu cứ chăm chỉ học hành thì đời đời đạt. Dương cơ này nguyên là của quan Đô Đài họ Nguyễn, tên chữ là Văn Trọng, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất”. Điều này có nghĩa là gần 200 năm trước khi ông Đinh Nho Công đỗ Tiến sĩ, mảnh đất được Tiên tổ họ Đinh lấy làm “dương cơ” đã là cơ ngơi của Tiến sĩ Đô Ngự sử Nguyễn Tử Trọng. Trước đây, các làng chưa có người đỗ đạt vẫn lập văn từ, nhà thánh để cầu mong cho sự học huống chi trong làng đã có người đỗ đại khoa như vùng đất Thịnh Xá. Có thể khẳng định rằng đền Thịnh Xá hay “nhà thánh” của làng Thịnh Xá đã được lập ít nhất là vài trăm năm trước khi ông Đinh Nho Công đỗ Tiến sĩ vào năm 1670.

Vậy thì tại sao lại có tên đền là Bạch Vân? Gia phả của họ Tống ở làng Văn Giang (cũng thuộc xã Sơn Thịnh ngày nay) được khởi chép từ thế kỷ XVI bằng chữ Hán và sau đó đã được các vị tiên hiền của họ Tống Trần ở làng Bình Hòa chép lại bằng quốc ngữ cho biết: “Ông Trần Xuân Toàn đậu cống sinh, là Giám sinh quốc tử giám, học giỏi có tiếng, năm 1670 đời vua Lê Huyền Tông ông cùng bạn đèn sách là ông Đinh Nho Công đi thi Hội, ông Công đậu Tiến sỹ còn ông Toàn không đậu. Ông Toàn dời nhà lên núi Thiên Nhận mở lớp dạy học có đông học sinh....Sau này, ban đêm ai đi qua chỗ ông dạy học khi xưa vẫn nghe tiếng ông giảng bài và tiếng học trò đọc theo... Ông Toàn có dặn ông Công khi nào ông Công thấy một đám mây trắng hạ xuống chỗ nào  thì xây cho ông một cái am thờ. Am Bạch Vân ở sau đền của làng Thịnh Xá có tiểu sử như vậy”.

Nhờ bạn mình lập am thờ sau khi mình qua đời ở nơi có đám mây trắng sà xuống để người đời gọi là am Bạch Vân, ông Toàn quả là một người thông kim bác cổ “học giỏi có tiếng” như lời đồn. “Bạch” - trắng - thuộc quẻ “tốn”, biểu tượng của gió, gió thổi sạch bụi để cho đời được trắng, sáng. Bạch Vân am từng là nơi Chu Công Đán dùng Bạch đạo, tức Minh đạo, phụ chính Thành Vương mà thành công. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trước ông Toàn chưa đầy một trăm năm cũng đã ẩn dật trong Bạch Vân am, lánh việc triều đình, làm nghề dạy học, đem đạo sáng tỏa khắp cho đời. Ông Toàn bỏ nhà lên núi dạy học, lúc mất mong được yên nghỉ trong Bạch Vân am chắc cũng muốn noi gương các bậc hiền triết chăng?

Ông Trần Xuân Toàn là hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng do phải trốn tránh sự truy lùng của nhà Mạc phải vượt núi Thiên Nhẫn từ Trung Cần, Nam Đàn, Nghệ An sang làng Văn Giang làm con nuôi của họ Trần và đổi họ thành họ Trần [12]. Ngày nay, dưới chân núi Thiên Nhẫn  ở sát làng Văn Giang vẫn còn địa danh “Nền Nhà”,  tương truyền là nơi ông dạy học và gần đó là mộ ông, trên có một tảng đá bằng phẳng in dấu chân người ăn sâu vào đá, thấy rõ cả những đường vân của gan bàn chân và các cụ cao niên ở làng Văn Giang  cho biết dân làng vẫn thường gọi tảng đá này là “bàn chân cố Cống”. Như vậy là trong khuôn viên của đền Thịnh Xá vào cuối thế kỷ XVII đã có thêm am Bạch Vân do Thiêm Đô Ngự sử Đinh Nho Công lập nên để tưởng nhớ bạn học của mình là ông  Cống sinh (Cử Nhân) Trần Xuân Toàn, người làng Văn Giang, nay cũng thuộc xã Sơn Thịnh, chứ không phải là “đền Bạch Vân do ông Công lập nên thờ ông Trần Toản người Thanh Hóa” như một số tài liệu đã viết [1], [2], [6], [16]... Những tài liệu này còn dựa theo “Sự tích đền Bạch Vân” (?) kể lại câu chuyện ông Toản báo mộng cho ông Công “...Bài vở tôi đã soạn cả đang để ở nhà, chú ra gặp nhà tôi mà lấy. Phen này ta mừng cho chú đậu Tiến sĩ... Sau đó ông ra Thanh Hóa thì quả nhiên đúng như vậy”. Theo lời kể này thì hóa ra ông Công đậu Tiến sĩ chẳng qua là nhờ có ông Toản làm hộ bài thi? Mà ông Toản lại còn biết trước cả đề bài thi Hội, thi Đình để làm hộ bài thi cho ông Công trước khi ông Công “lai kinh ứng thí”?.  Chẳng nhẽ ông Công xây am cho bạn là để trả cái ơn bạn đã làm hộ bài thi cho mình? Và chẳng nhẽ “bằng chứng của tình bằng hữu về truyền thống hiếu học của vùng đất học xứ Nghệ”[16] lại xuất phát từ cả câu chuyện này?. Sự suy diễn tùy tiện như vậy của bản lý lịch di tích quả là tắc trách và vô minh.

Đúng là có câu chuyện cảm động về tình bằng hữu sâu đậm giữa ông Đinh Nho Công với bạn mình là ông Trần Xuân Toàn, bạn học cùng hàng tổng chứ không phải là với ông Trần Toản người Thanh Hóa. Tình nghĩa bằng hữu sâu đậm của Tiến sĩ Đinh Nho Công với Cử nhân Trần Xuân Toàn không chỉ dừng lại ở việc dựng am cho bạn mà về sau ông Đinh Nho Công còn nhận người cháu gọi ông Toàn là bác ruột làm con nuôi và người này chính là Tiên tổ khai cơ chi họ Tống ở xã Sơn Hoà, huyện Hương Sơn [14].

Ông Trần Xuân Toàn còn được làng Văn Giang thờ là tôn thần. Hiện nhà thờ họ Tống ở làng Văn Giang còn lưu giữ được một đạo sắc của vua Khải Định ban cho làng Văn Giang năm 1924 (ảnh 2), trong đó ghi rõ (phiên âm): “Sắc Hà Tĩnh tỉnh Hương Sơn huyện Văn Giang thôn phụng sự  Trúc sơn Tĩnh am Tống tôn công tự Xuân Toàn tôn thần...” . Bia đền Tụy Anh dựng năm 1865 ở đền Tụy Anh là Văn từ  của làng Bình Hòa cho thấy ông là nhân vật thứ tư được khắc trên bia với các dòng chữ Hán được phiên âm như sau: “ Hương cống triều Lê, Giám sinh Quốc tử giám Minh Luân đường, Trần viên công tự Xuân Toàn, Tĩnh Am tiên sinh” [15].

Upload

Ảnh 2. Sắc phong ông Trần Xuân Toàn là tôn thần của làng Văn Giang

Tài liệu [1] còn cho rằng ông Đinh Nho Công về sau được “thờ trong đền Bạch Vân với nghi thức như một vị Thành hoàng của làng”. Suy đoán này xuất phát từ cứ liệu cho rằng “Bài vị thờ trong đền ghi rõ”: “Đương cảnh Thành hoàng anh linh hiển ứng, Cồn Mai phúc thần Đại vương, lịch triều gia phong Thượng đẳng tôn thần”[1]. Thế nhưng, khảo sát  2 ngai thờ (bài vị) trong thượng điện thì các dòng chữ Hán sơn son thếp vàng trên một ngai thờ đã bị bong tróc hầu hết và rất khó nhận biết, chỉ còn đọc được một vài chữ như hộ quốc 護國, minh 明, hàm 咸, hưu 休, chính trực 正直. Ngai thờ còn lại (ảnh 3) còn có thể đọc được các dòng chữ Hán ghi trên đó như sau (phiên âm): Dòng chính giữa từ trên xuống dưới có một số chữ bị mờ, chỉ còn lại các chữ nhận biết và đọc được là  “...Tế thế Trợ thuận Khang dân”. Hai dòng dưới còn rất rõ nét,  đọc được từ phải qua trái là  “Thiệu bảo Tá tích Thuần túy Trung chính Thùy hưu Tích hỗ Huyền cảm Minh hỗ Duệ trí Hàm đức Linh thông Thông minh Chính trực Anh nghị Cồn Mai Đại vương Gia phong Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng”.

Với những mỹ tự do các triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn nối tiếp nhau phong tặng và gia phong cho vị thần được thờ trong đền Thịnh Xá được viết trên ngai thờ  như vậy thì việc kết luận ông Đinh Nho Công được tôn là Thành Hoàng của làng Thịnh Xá là chưa đủ căn cứ. Đấy là chưa kể trước đó, cũng chính tài liệu [1] cho biết  “...Trần Toản nay là Đức thành hoàng của đền Bạch Vân”. Chẵng nhẽ “Thành hoàng của làng” lại khác với “Đức thành hoàng của đền”?. Lại thêm một sự suy diễn tùy tiện nữa trong bản lí lịch di tích!

Upload

Ảnh 3: Ngai thờ trong thượng điện của đền Thịnh Xá

Xin được bàn thêm về nội dung  và xuất xứ của các di tích văn khắc khác còn được lưu giữ trong đền Thịnh Xá. Bức hoành phi đại tự sơn son thếp vàng có 4 chữ Hán “Kỳ thịnh hĩ hồ” (ảnh 4) được [1], [2] cho là “do Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm viết tặng làng Thịnh Xá và đền Bạch Vân nhân sự kiện ông cùng vua Quang Trung ra Bắc Hà lần thứ hai gặp La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp vào cuối năm 1788 để hỏi ý kiến về sách lược giữ nước có ghé qua làng Thịnh Xá một ngày đêm”(?). Khẳng định này xuất phát từ việc đọc nhầm dòng chữ Hán bên phải bức hoành phi là “Long phi Giáp Tý đông” thành “Long phi Thân Tý Đông” rồi suy diễn thành năm Thân ngày Tý và thành“cuối năm 1788”. Thế nhưng đâu phải là cuối năm 1788 mà là trước đó một năm, mùa thu năm Đinh Dậu – 1787, mới có sự kiện Đại nguyên súy Tổng quốc chính Bình vương Nguyễn Huệ (chứ không phải là vua Quang Trung vì lúc này Nguyễn Huệ chưa lên ngôi vua) gửi thư mời lần thứ hai cho La Sơn Phu tử. Trong thư này ghi rõ: “Thái Đức, năm thứ 10, tháng 8 ngày mồng 10 (1787)”.  Mà cũng không phải “do Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm... cùng vua Quang Trung ra Bắc Hà lần thứ hai gặp La Sơn Phu tử” mà là “Nguyễn Huệ sai hai quan trọng thần mang thư và lễ vật ra mời lần nữa. Hai vị quan ấy là quan lưu thủ Danh Phương hầu Nguyễn Văn Phương và quan Binh bộ Thị lang Giác Lý hầu Lê Tài” [13]. Thế thì làm sao có được sự kiện trọng đại đối với làng Thịnh Xá là 4 chữ trên bức hoành phi là do “Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm viết tặng làng Thịnh Xá và đền Bạch Vân” như [1],[2] đã suy diễn quá ư là tùy tiện như vậy?

Upload

Ảnh 4.  Bức hoành phi có 4 chữ Kỳ thịnh hĩ hồ

Việc suy diễn tùy tiện của bản lí lịch di tích đã trở thành cẩu thả và tắc trách khi  tiến hành phiên âm và dịch nghĩa hai vế đối đắp trên hai cột hiên của nhà thượng điện. Đó là đôi câu đối:

山從震起地靈安邑顯神 皋

     澤自兌流氣爽清澗符眇理

 được [1] phiên âm và giải nghĩa sai và tùy tiện như sau:

      “Sơn chí thời khí địa linh an sắc lĩnh thần tại

       Phụng tử huynh lưu khí tỏa thanh đồng phủ siêu hạng

       Nghĩa là: Mảnh đất này linh thiêng, khí hậu trong lành an cư lạc nghiệp

      Tình huynh đệ ghi ơn và được lưu truyền mãi mãi ngàn sau”(?)

Trong khi đó, phiên âm đúng của hai vế đối này phải là:

Sơn tòng Chấn - khởi địa linh - An Ấp hiển thần cao

Trạch tự Đoài - lưu khí sảng- Thanh Giản phù miễu lý

Tạm dịch là

Núi non theo quẻ Chấn, dấy đất thiêng, An Ấp rạng ơn thần

Sông suối ứng quẻ Đoài, tuôn khí sảng, Thanh Giản điềm may tỏ

Thanh Giản trong vế đối thứ hai có thể là tên chữ của con bàu chảy trước cửa đền,  một đoạn nhánh sông cổ của con sông Ngàn Phố. Con bàu này bắt nguồn từ  trên cánh đồng Kẻ Sét thuộc làng Ninh Xá (Sơn Ninh), chảy qua Bàu Hạc thuộc làng Bình Hòa (Sơn Hòa), qua Đồng Bãi, cầu Chợ Gôi, qua trước đền Thịnh Xá và nhập vào sông Ngàn Phố ở  khu vực chợ Cơn Bàng trước đây.

Chưa hết. Bức hoành phi đại tự khắc 3 chữ Hán “Thần thính chi” (ảnh 5) có nghĩa là “được thần linh che chở” lại được [1] tùy tiện phiên  âm thành “chí linh thần” và giải nghĩa là “thần rất thiêng”(?). Ba chữ này có xuất xứ từ  bài Phạt mộc, phần Tiểu nhã trong Kinh thi:  “Thần chi thính chi, chung hòa thả bình” nói về lòng thành thực, đôn hậu, được thần linh che chở, rốt cuộc được hòa thuận,  bình yên. Tương tự, 4 chữ Hán cỡ lớn “Thượng đẳng tối linh” lại được [1] tùy tiện và cẩu thả  phiên âm thành “Thượng đẳng linh thần”(?).

Upload             

Ảnh 5.  Bức hoành phi “Thần thính chi”

Trong hạ điện còn có một tấm bảng gỗ  hình chữ nhật khá lớn khắc chi chít chữ Hán cỡ nhỏ, chữ đã mờ lại treo trên cao nên chưa có điều kiện để đọc được nội dung của nó (ảnh 6). Có thể những vấn đề liên quan đến lịch sử ngôi đền sẽ được làm sáng tỏ hơn trong những dòng chữ Hán này chăng?

Upload

Ảnh 6. Tấm bảng gỗ khắc chữ Hán bị mờ

Ngoài ra, sau đợt trùng tu giai đoạn I vừa qua, có một tấm bia cỡ nhỏ bị bùn đất bám dính đang được để lăn lóc ở chân móng tường nền nhà hạ điện (ảnh 7). Khảo sát bước đầu cho thấy các dòng chữ Hán được khắc phía trên cùng của tấm bia là      (Hương Ất khoa bi bát) có thể là bia ghi danh những người tham dự kỳ thi Hương (?). Bia ghi lại họ tên của 13 vị hiệu sinh dự kỳ thi Hương nhưng không rõ vào năm nào. Khâm định Đại Việt sử thông giám cương mục[17] cho biết: “...Lê Thái Tổ có hạ chiếu cho trong nước về việc dựng nhà học, gây nhân tài, lựa lấy con em các nhà lương thiện ở dân gian sung làm hiệu sinh các lộ, rồi cắt đặt các nhà nho học làm thầy để dạy dỗ. Đến đây, nhà vua ra lệnh cho tập hợp ở dinh quan bản đạo để quan trên sát hạch xem sự tiến tới ra sao, lấy trúng tuyển hơn một nghìn người, chia làm ba bậc: bậc nhất và bậc nhì được bổ vào Quốc Tử Giám, bậc ba cho về trường hàng lộ để đọc sách. Cả ba bậc này đều được miễn sai dịch..." Như vậy hiệu sinh là để chỉ những người đã đủ điều kiện dự các kỳ thi Hương để đạt được học vị Cống sinh. Cách gọi “hiệu sinh” có từ thời Lê nhưng đến thời nhà Nguyễn thì không còn. Như vậy thì tấm bia này được khắc từ thế kỷ XXVIII trở về trước. Những nhân vật được khắc trên tấm bia này chỉ có một người họ Nguyễn, 12 vị còn lại đều mang họ Trần, trong đó có đến  9 vị mang họ Trần Xuân. Phải chăng đây là những học trò và có thể còn có những người là hậu duệ  của ông Trần Xuân Toàn?. Phải chăng họ đã cùng Tiến sĩ Đinh Nho Công dựng am Bạch Vân trong khuôn viên của đền Thịnh Xá để tỏ lòng tri ân và tưởng nhớ thầy học của mình? Phải chăng am Bạch Vân chính là ngôi nhà về sau đã biến thành nhà cất đồ lễ nằm ở phía Đông Bắc của đền Thịnh Xá? Cạnh ngôi nhà này còn có  nhà Nghĩa thương do Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm xây dựng vào đầu thế kỷ hai mươi. Cả hai ngôi nhà này đều đã bị phá dỡ trong đợt trùng tu vừa rồi (xem ảnh 1). Tấm bia “Hương Ất khoa bi bát” được phát hiện khi phá dỡ các ngôi nhà này rất có thể chính là tấm bia của các môn sinh của ông Trần Xuân Toàn khắc ghi khi họ cùng ông Đinh Nho Công dựng am Bạch Vân?.

Upload

Ảnh 7. Hương Ất khoa bi bát (nay không còn)

Khoảng giữa tháng  4 năm 2014, chúng tôi nhận được thông tin là ngoài tấm bia “Hương Ất khoa bi bát” nói trên, còn có 3 tấm bia khác nữa được tìm thấy sau khi phá dỡ nhà Nghĩa Thương và ngôi nhà cất giữ đồ lễ cạnh đó. Chúng tôi nhờ người tìm đến để chụp ảnh thì không còn, kể cả tấm bia “Hương Ất khoa bi bát” mà chỉ còn sót lại một phần của một tấm biển gỗ sơn đỏ (ảnh 8) có khắc ghi họ tên của 17 vị Sinh đồ và một số vị Trùm trưởng, Hương trưởng, Cai xã, Hương thân... cùng với hai bức phù điêu bằng gỗ chạm trổ rất tinh xảo, trong đó có bức thể hiện hoa văn thời Lê, có bức thì mang nhiều họa tiết hoa văn đầu thời Nguyễn. Nội dung trang trí trên những bức phù điêu đó thể hiện cảnh thái bình, tụ họp, hoan hỷ, có những vật như chim công, phượng, cá, lân.. lại có cả hoa sen, sóng biển, phượng ngậm hòm sắt... nhưng không có rồng trong những họa tiết này. Tất cả những họa tiết đều biểu thị cho một cảnh thái bình.

Tuy vậy, đến đầu tháng 6/2014, tấm biển gỗ còn sót lại này cũng không còn. Toàn bộ khuôn viên đền Thịnh Xá đã được đắp cao lên hơn nửa mét bằng phiến thạch phong hóa. Theo ông Dương, người trông coi di tích thì “Hương Ất khoa bi bát” cùng vài ba tấm bia đá khác trước đây được các cán bộ ở trên về đánh giá là không có giá trị và không liên quan đến di tích(?) nên để chất đống trong nhà đồ lễ và có thể đã bị lấp vùi khi đơn vị thi công đắp đất tôn nền(?). Một góc của Trung điện vẫn chất đống ngổn ngang nhiều ngai thờ, hộp đựng sắc phong, các bức phù điêu bằng gỗ chạm trổ tinh xảo. Ông Dương còn cho biết hiện còn hàng chục tấm bia, trong đó có những tấm bia đá có kích thước lớn, đang nằm dưới móng cây cầu bắc qua con bàu (có thể trước đây có tên là Thanh Giản như đã nói ở trên), cách đền chỉ hơn trăm mét. Trận lụt to cách đây mấy năm đã làm xói lở móng cầu, cuốn trôi một số tấm bia. Trong số các tấm bia được vớt lên, hiện có 2 tấm đang được cất giữ ở trụ sở UBND xã, một tấm bị vỡ đôi cùng 4 phiến đá chân bia đang nằm lăn lóc trước và trong khuôn viên của đài liệt sĩ cạnh đền.

Upload

Ảnh 8: Một góc tấm biển gỗ còn sót lại (nay không còn)

Qua các cứ liệu nêu trên có thể thấy rằng cụm di tích đã được xếp hạng và đang được trùng tu tôn tạo ở làng Thịnh Xá thuộc xã Sơn Thịnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh là đền Thịnh Xá, chùa Thịnh Xá và am Bạch Vân. Cũng như các ngôi đền của các làng xã xung quanh,  đền Thịnh Xá  còn là Văn từ của làng được lập để thờ Khổng Tử cùng các vị khoa bảng của làng. Sau khi đỗ Tiến sĩ vào năm 1670, ông Đinh Nho Công đã lập am Bạch Vân ở phía sau đền để tưởng nhớ bạn  mình là ông Trần Xuân Toàn, người làng Văn Giang, nay thuộc xã Sơn Thịnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Hồ sơ di tích [1] cho rằng ông Đinh Nho Công là người lập nên ngôi đền vào năm 1670 và lấy tên là đền Bạch Vân để thờ bạn mình là ông Trần Toản người Thanh Hóa có thể đã căn cứ vào những ghi chép chủ quan và các câu chuyện truyền khẩu mà nội dung nhiều khi phụ thuộc suy diễn chủ quan của người chép, người kể. Việc cho rằng ông Đinh Nho Công được thờ trong đền Thịnh Xá là Thành Hoàng của làng là chưa đủ căn cứ. Đành rằng những câu chuyện truyền khẩu là nguồn tư liệu đáng quý để tham khảo khi lập hồ sơ di tích nhưng tự nó thường không phải là một bằng chứng cụ thể mà chỉ được xem là một yếu tổ để bổ sung nhằm làm sáng tỏ thêm. Vì vậy cần  phải đối chiếu, so sánh từng chi tiết với sử sách chính thống rồi chắt lọc những thông tin mới có thể đem lại những kết quả chính xác, nếu không sẽ làm sai lệch lịch sử. Trong khi đó, không hiểu sao khi lập hồ sơ di tích, nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, nhất là các văn bia, văn khắc liên quan đến ngôi đền lại bị bỏ qua.

 

Hồ sơ xếp hạng di tích bao gồm cả bản lí lịch di tích vốn khác với một bài báo phản ánh kết quả khảo cứu di tích của một cá nhân hoặc một nhóm người. Bài viết của một cá nhân hoặc một nhóm người có thể đúng, có thể sai và đúng sai cũng do công luận tự do đánh giá. Tuyệt nhiên, nó không có tư cách pháp nhân như một hồ sơ di tích. Thế nhưng, trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin, cái đúng, cái sai của một bài báo vẫn có thể lan truyền lung tung, làm nhiễu loạn thông tin. Huống chi, đây lại là một hồ sơ di tích, do những cơ quan có thẩm quyền xây dựng và đã được những hội đồng khoa học cấp tỉnh  hoặc cấp quốc gia thẩm định, xét duyệt. Vì vậy, những suy diễn tùy tiện và tắc trách kiểu như trong bản lí lịch di tích [1] tất yếu sẽ được nhiều tác giả lấy làm thông tin chính thức khi viết bài và nhiều tờ báo, nhiều trang thông tin điện tử đăng tải lại nội dung và thực tế đã diễn ra như vậy trong mấy năm qua. Điều đáng nói là cái sự “dĩ hư truyền hư” này sẽ được rất nhiều người tin theo và không cần kiểm chứng, vì nó được viện dẫn từ tài liệu đã được đóng nhiều con dấu của các cơ quan chức năng của bộ máy công quyền. Cho nên, những sai sót này phải được nhanh chóng phản biện, tranh luận, phân tích một cách công khai và xây dựng để góp phần đưa nền học thuật nước nhà ra khỏi tình trạng “trưởng thành trong nền văn hoá nghe lỏm”, góp phần bớt đi lối làm việc tuỳ tiện, tắc trách của các cá nhân và tập thể trong bộ máy công quyền.  Bởi thế, chúng tôi rất mong các bậc cao minh nếu có thêm các cứ liệu khác  tiếp tục đóng góp và bổ sung để lịch sử di tích đền Thịnh Xá, am Bạch Vân ngày càng được làm sáng tỏ hơn cho hậu thế./.

Tài liệu đã dẫn                                                                                                                                                    

[1]. Hồ sơ di tích Kiến trúc nghệ thuật đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh – Bản lý lịch di tích. Sở Văn hóa và Thông tin – Bảo tàng Hà Tĩnh. Hà Tĩnh 2007

[2]. Nguyễn Trí Sơn: Đền Bạch Vân một di tích kiến trúc nghệ thuật, báo Hà Tĩnh số 3735 ngày 27/6/1998

[3]. Quyết định số 72/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng bộ Văn hóa Thông tin Thể thao và Du lịch  ngày 22/8/2008 về việc xếp hạng di tích quốc gia Di tích kiến trúc nghệ thuật đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá.

[4]. Bách Khoa: Đón nhận bằng công nhận di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp quốc gia đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá. Văn Hóa Hà Tĩnh, 12/2008

[5]. Anh Hoài: Lễ động thổ dự án tu bổ, tôn tạo di tích đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá. Hatinh24h, 2/2012

[6]. Anh Hoài: Đền cổ ngàn năm dấu Bạch Vân.  Hà Tĩnh online, 3/2012

[7]. Lê Tắc: An Nam chí lược. NXB Thuận Hóa - Trung tâm ngôn ngữ văn hóa Đông Tây, 2002

[8]. Ngô Đức Thọ (chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam, NXB Văn học, 1993

[9]. Bùi Thiết: Từ điển Hà Tĩnh. Sở VHTT Hà Tĩnh, 2000

[10]. Bùi Dương Lịch: Yên Hội thôn chí. Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh - 2000

[11]. Phả họ Đinh Nho Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

[12]. Tộc phả họ Tống Trần ở Văn Giang và Bình Hòa.

[13]. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập 2,  La Sơn Phu tử. NXB Giáo dục, Hà Nội 1998

[14]. Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng trong lòng quê hương và dòng họ. NXB Thế giới, Hà Nội, 2010

[15]. Những tấm bia cổ của làng Thái Hòà – dấu tích Văn chỉ làng Việt xưa. huongson.gov.vn, Cổng thông tin điện tử huyện Hương Sơn, 03/01/2014

[16]. Ghi đậm dấu ấn về tình bạn giúp nhau trong học tập của vùng đất học xứ Nghệ, huongson.gov.vn, Cổng thông tin điện tử huyện Hương Sơn, 11/09/2013

[17]. Khâm định Đại Việt sử thông giám cương mục. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998

[18] Lê Hải Nam: Tên sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố của Việt Nam trong thơ đời Đường. Tháng 9/2009

PGS.TS Tống Trần Tùng

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn
(Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
Giới thiệu sách: Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn (Commissioned Patterned Porcelains in the Nguyễn Era)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 857 | Tất cả: 1,267,954
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn