GIỚI THIỆU CHUNG
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN
Tin đăng ngày: 31/3/2017 - Xem: 340
 

Một phần của sự hấp dẫn khi tìm hiểu, thưởng thức hay dạy học các tác phẩm viết về Tây Nguyên đến từ những giá trị văn hóa tiềm ẩn và đặc sắc trong các ký hiệu nghệ thuật. Việc thiếu hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về nó đã dẫn tới sự sơ sài trong chú thích, giải thích. Điều này đã làm mất đi một phần rất lớn giá trị của tác phẩm. Với mục đích đồng hành với giáo viên, đặc biệt là giáo viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và khoa học nhân văn, các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục và nghệ thuật, giúp người học khai thác những giá trị đích thực mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm, tránh suy diễn khiên cưỡng hoặc sơ sài, chúng tôi chỉ xin trao đổi một vài vấn đề xung quanh những tác phẩm (văn học và âm nhạc) viết về Tây Nguyên được nhiều người quan tâm hoặc được đưa vào giảng dạy trong nhà trường.

1. Về nhân danh (tên người). Các tộc người Tây Nguyên có cách gọi tên người khá đa dạng. Người Êđê sống chủ yếu ở Đắc Lắc (Dak Lăk) theo chế độ mẫu hệ, đặt tên truyền thống theo thứ tự: tên chính đến tên họ, giữa có thể có hoặc không có tên đệm. Trước tên chính có một yếu tố làm ký hiệu phân biệt giới tính, với giới tính nam có Y, giới tính nữ có H’(đọc là hơ). Ở các dòng họ lớn, sau tên họ còn có tên nhánh họ. Ví dụ: Y Ngông Niê Kdam, được hiểu là người đàn ông có tên là Ngông, thuộc dòng họ Niê, nhánh họ Kdam; H’Trương Mlô Duôn du, được hiểu là người phụ nữ có tên là Trương, thuộc dòng họ Mlô, nhánh họ Duôn du. Về nguyên tắc gọi tên phải phát âm liền giới tính và tên chính. Trong một tác phẩm sử thi của người Êđê - Sử thi Đăm Săn (Dăm Săn) thì Dăm không phải là một thành tố của tên riêng mà mang nghĩa là người mạnh mẽ, có sức khỏe phi thường, quả cảm, luôn sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì cộng đồng được mọi người quý mến, vị nể như cách gọi người anh hùng, dũng sĩ của người Việt (Trong tiếng Êđê và Jrai, dăm có nghĩa là cưng, một cách xưng hô thể hiện sự ngưỡng mộ và trìu mến đối với người con trai). Yếu tố Săn mới là thành tố của tên riêng. Đây là một người dũng sĩ được tác giả dân gian xây dựng mang tính biểu tượng nên không mang tên họ mà chỉ mang tên chính đứng ngay sau yếu tố chỉ phẩm chất (Dăm Săn). Cũng như Anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên là để gọi tên một người con anh hùng dân tộc Ba Na (Bahnar) có tên Đinh Nup (và tên khác nữa là Sar) trên cơ sở kết hợp tên chính với thành tố mang ý nghĩa về phẩm chất. Trong thực tế, người Êđê cũng ít đặt tên con trai mình là Săn. Tiếng Êđê không có thanh điệu nên khi đọc, thường dựa trên cơ sở âm cuối để phát âm. Ví dụ, hai chị em trong sử thi Dăm Săn có tên là Hơ Nhi (H’~i\) và Hơ Bhi (H’Bh^), có ký hiệu âm ^ như vậy thì đọc cao giọng lên một chút chứ không đọc thành Nhí, Bhí và cũng không đọc thành Nhị, Bhị như sách giáo khoa từng phiên âm. Đối với dân tộc Gia Rai (Jrai), một tộc người cùng sử dụng ngôn ngữ thuộc dòng Mã Lai Đa Đảo như Êđê, nhưng trong văn hóa đặt tên người truyền thống của dân tộc này thường theo trình tự tên họ rồi đến tên chính, ở giữa có thể có hoặc không có tên đệm như cách đặt tên riêng của người Việt. Ví dụ Siu Pơi (người đàn ông có tên họ là Siu, tên chính là Pơi). Nay H’Tuyết (người phụ nữ họ Nay, tên là Tuyết). Ở Tây Nguyên, một số tộc người không có thuật ngữ riêng để chỉ dòng họ hoặc có nhưng rất lỏng lẻo, chỉ dựa vào đặc trưng địa hình hoặc sở thích của nhóm dân tộc để đi kèm với tên thật mà rất ít người quan tâm, phần lớn chỉ có yếu tố chỉ giới tính đi kèm tên chính. Chẳng hạn, dân tộc Xơ đăng (Sedang), nam giới có A đứng trước (A Vương), nữ gới có Y (Y Một). Dân tộc Mơ Nông (M’nông), các nhóm sống gần hoặc đan xen với một số nhóm người Êđê thì khá giống với dân tộc này, đều mang họ mẹ và cách gọi tên cũng tương tự như người Êđê, còn phần lớn thì nam giới có Điểu (Điểu Kâu), nữ giới có Thị (Thị Lan). Cụ Mết trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người dân tộc Giẻ Triêng (Jẻ triêng), là nhân vật có thật, tên thật của cụ là Đinh Môn, cụ mất năm 2000.

2. Về địa danh (tên các đối tượng địa lý). Làng Xô Man trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một làng có thật, tuy nhiên không phải là làng có cái tên như vậy. Cuộc sống du cư nay đây mai đó nên dân làng ở đây rất khó xác định địa điểm chính xác của làng lúc bấy giờ. Theo anh Đinh Như Rươn (con trai cả của cụ Đinh Môn - tức cụ Mết) thì ngôi làng gọi là Xô Man xưa có thể ở cách làng bây giở khoảng 70 cây số, và hình như nó đã lẫn đâu đó vào rừng già mà nghe đâu ngay cả khi còn sống thì cụ Mết cũng chưa bao giờ trở lại được nơi ấy kể từ sau năm 1975. Làng mới Xô Man bây giờ cách thị trấn Đắc Lây (Đăk Glei) 30 cây số, có tên là làng Xốp Nghét, thuộc xã Xốp, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Cũng như làng Kông Hoa trong Đất nước đứng lên tên thật là làng S’tơ, thuộc xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai. Tên làng Kông Hoa là Nguyên Ngọc sáng tạo ra. Các dân tộc bản địa ở Kon Tum phần lớn gọi làng là kon, dân tộc Jẻ triêng gọi là plei hay plei - tum. Tên gọi Kon Tum xuất phát từ lý do này. Người Kinh trước đây thường có cách phát âm thành Kông, viết là Kông hoặc Công (tỉnh Công Tum hoặc Kông Tum). Nguyên Ngọc đã dùng thành tố Kông (thành tố chung) làm một bộ phận cho thành tố riêng của địa danh mà tác giả thể hiện trong tác phẩm. Như vậy, làng Xô Man hay làng Kông Hoa trong các tác phẩm của Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành đều là những đối tượng có thật nhưng tên gọi là do tác giả sáng tạo ra.

Việc không hiểu đúng địa danh nhiều khi dẫn tới những hệ quả đáng tiếc. Khảo sát các giáo viên dạy Sử thi Dăm Săn chúng ta thấy rõ điều đó. Sự thiếu kiến thức về văn hóa bản địa Tây Nguyên đã làm cho một bộ phận giáo viên khi phân tích tác phẩm đã có những suy diễn khiên cưỡng, chủ quan, làm mất đi những nét đặc trưng về văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên mảnh đất này, những con người đã làm nên vẻ đẹp hùng tráng, lung linh được lưu giữ bởi hàng trăm, hàng ngàn sử thi nổi tiếng.

3. Về một số đối tượng khác

         - Cây kơ nia, tên dân gian là cây cầy, một loài cây mọc nhiều ở Tây Nguyên, đặc biệt là ở Dak Lăk. Cây thân gỗ, cứng, có sức sống mãnh liệt, xanh tốt quanh năm kể cả 6 tháng mùa khô khốc liệt, có quả ăn được nhưng không mấy ai ăn vì chẳng ra gì; cây gỗ thớ cát nên rất khó chặt, khó cưa. Gỗ cứng nhưng ít được sử dụng làm đồ gia dụng vì gỗ không đẹp, lại khó chế tác. Bởi vậy, người làm rẫy thường để cây này lại trên nương rẫy trong khi chặt, đốt hết các loại cây khác. Mùa phát rẫy làm nương vào cuối mùa khô nắng gay gắt (tháng ba), giữa khu đồi khô khốc, cây kơ nia sừng sững như một chiếc ô khổng lồ che chở cho mọi người. Từ dáng vóc ấy, nhà thơ Ngọc Anh đã tạo nên một hình tượng đẹp mà mỗi người miền xuôi lần đầu đến Tây Nguyên đều muốn được tận mắt chiêm ngưỡng (Bài thơ Bóng cây kơ nia).

         - Cây xà nu, chính là cây thông, loại thông mọc nhiều ở khu vực Bắc Tây Nguyên và hầu như có ở rất nhiều nơi trên đất nước ta. Chúng ta đều biết, họ thông hiện có khoảng 80 loài. Ở nước ta, có trên 10 loài, trong đó phổ biến nhất là thông hai lá1 hay còn gọi là thông nhựa, thông ta - loại thông trồng chủ yếu để khai thác nhựa và thông ba lá2 (cũng có nhựa nhưng ít hơn mà chủ yếu để khai thác gỗ). Ở Tây Nguyên rất ít thông hai lá, vì chúng thường sinh sống và phát triển ở khu vực có độ cao khoảng 300m trở xuống. Hiện chỉ có một ít ở vùng chân dãy Cư Yang Sin (Dak Lăk) và một số vùng thấp của tỉnh Lâm Đồng. Dân địa phương thường gọi thông hai lá là cây ngo. Vùng Đăk Glei nói riêng và Kon Tum nói chung phổ biến là loại thông ba lá. Người Jẻ triêng ở Kon Tum gọi loại cây này là loong nuh. Xà nu là do Nguyên Ngọc đặt tên có thể trên cơ sở dựa vào phát âm của cư dân bản địa. Do hoàn cảnh công tác, chúng tôi đã nhiều lần đến tất cả địa bàn tỉnh Kon Tum và có điều kiện để khẳng định điều này. Rất tiếc là cho đến nay, trong cuốn Ngữ văn lớp 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam cũng chỉ chú thích một cách thiếu cụ thể Xà nu: một loại cây họ thông, nhựa và gỗ đều có giá trị, mọc rất nhiều ở Kon Tum (trang 38) mà không nói hẳn xà nu là cây thông, tên gọi được mô phỏng theo tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương. Cách giải thích trên đã làm cho học sinh (và cả một số giáo viên nữa) khá mơ hồ về loại cây này.

         - Cây hoa pơ lang, người miền xuôi gọi là cây hoa gạo. Trước đây, trong các buôn làng, đặc biệt là buôn làng Êđê, có nhiều cây này, bởi nó được trồng trong mỗi mùa lễ hội. Trong buôn, mỗi lần mở hội, dân làng trồng một cây pơ lang. Nhiều trường hợp thanh niên buôn làng khi cưới nhau, vợ chồng cũng trồng cây này. Họ cho rằng, sắc thắm của pơ lang sẽ mang đến nhiều may mắn cho con người, xua đuổi ma quỷ và những điều rủi ro. Với người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, trong buôn làng có nhiều cây pơ lang chứng tỏ sự phồn thịnh vì đã tổ chức được nhiều lễ hội, phát triển thêm được nhiều gia đình. Pơ lang được xuất hiện trong nhiều nhạc phẩm cũng như các tác phẩm văn hoc. Nhạc sĩ Đức Minh đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ, thơ mộng mà điểm sáng là hình ảnh cô gái của núi rừng Tây Nguyên xinh đẹp, can trường; là hạt nhân của những đại gia đình trong xã hội mẫu hệ qua nhạc phẩm Em là hoa pơ lang.

         - Chim kơ tia (tiếng Êđê), người miền xuôi gọi là con chim vẹt hoặc con chim két. Ở Tây Nguyên, loại chim này thường xuất hiện thành từng đàn rất đông vào dịp bắp (ngô) trên nương rẫy bắt đầu có thể thu hoạch được (vào khoảng tháng 9, tháng 10). Chúng sà xuống đâu là phá tan hoang rẫy bắp ở đó. Tuy nhiên, mỗi chiều thu nhìn lên bầu trời, đàn kơ tia như một đám mây đa sắc trông cũng thật hấp dẫn. Nhạc sĩ Tố Hải cũng đã rất thành công khi mô tả về loài chim này qua nhạc phẩm Sông Đăk rông mùa xuân về. Tuy nhiên, mùa xuân không phải là mùa kơ tia xuất hiện nhiều mà nó thực sự bay về đông đúc nhất vào mùa thu, mùa của bắp.

         - Chim chơ rao (tiếng Bahnar), là loài chim người miền xuôi gọi là bồ chao. Loài chim này theo quan niệm của người Bahnar là loại chim báo tin. Khi đi đường, nếu chim kêu phía tay phải hoặc phía trước mặt thì đó là tin lành (điềm lành), còn nếu chim kêu phía tay trái hoặc phía sau thì đó là tin xấu (điềm xấu). Chim chơ rao mà tác giả Thu Bồn lấy làm đối tượng phản ánh trong Bài ca chim chơ rao (Trường ca, 1962) là loại chim này3. Còn theo tiếng Jrai, chrao là con chim sáo4. Ở miền Trung, có người cho rằng chơ rao là chim chèo bẻo (Bùi QuangThanh - truyện ký Tiếng chim rừng Bạch Mã)

         - Chim pratôc, trong bài hát Cánh chim báo tin vui, nhạc sĩ Đàm Thanh muốn nói tới ở đây là con kơ tơp (tiếng Bahnar) - tức con chim bồ câu, chim đưa thư. Cũng theo ngôn ngữ dân tộc này, kơ tơp bri là con chim cu gáy.

         - Chim phí, người Êđê gọi là chim Bh^, loại chim có lông ở thân màu xanh, ở ngực màu vàng, mào màu đen (thân hình giống con chào mào). Người Êđê rất thích loại chim này vì nó rất đẹp, hót hay. Hiện nay ở Tây Nguyên, người ta nuôi làm chim cảnh. Trong sáng tác của mình, nhạc sĩ Y Phol Ksor gọi là chim phí (hoặc pi) là để dễ phát âm, dễ hát (bài hát Chim phí bay về cội nguồn). Gần đây, đạo diễn Đặng Lưu Việt Bảo xây dựng bộ phim về đề tài cô gái Êđê cũng lấy tựa đề trên. Người dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên (ở vùng Gia Lai giáp Kon Tum, có địa phương gọi phíchim nói chung). Theo chúng tôi, chim phí chính là loại chim người Êđê gọi là Bh^. Người con gái xinh đẹp trong Sử thi Dăm Săn cũng mang tên loài chim này.

         - Cồng chiêng Tây Nguyên. Tiếng Êđê: cing hoặc cing char; tiếng M’nông: gong hoặc ching; tiếng Jrai: ching; tiếng Bahnar: chênh. Như vậy, người dân tộc thiểu số Tây Nguyên hầu hết gọi là cing, chêng, ching (có cách phát âm gần với âm chiêng của người Việt). Người dân tộc Êđê đánh cồng, đánh chiêng, gọi là tông cing char; người Bahnar gọi loại chiêng bằngchinh, chiêng númchênh, chiêng nhỏ là mông chênh, chiêng cổ là chênh so; người Jrai phân biệt các loại chiêng theo hình thức tấu nhạc: ching arap - chiêng đánh trong hội và lễ vui, ching pơjoar - chiêng đánh cầu nguyện mưa thuận gió hòa, ching tơnah - chiêng phục vụ cho nghi lễ cúng lớn, ching trum - chiêng đánh trong nghi lễ đâm trâu,... Chiêng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đa dạng về kích cỡ và được sắp xếp thứ tự thành bộ: loại to, đường kính khoảng 60 cm, loại nhỏ khoảng 20 cm. Về hình thức cấu tạo, có 2 loại: chiêng númchiêng bắng. Chiêng núm dùng nắm tay đấm vào núm (hoặc dùng loại dùi mềm có bọc vải để đánh); chiêng bằng dùng bàn tay vỗ phía trong. Thực tế thì cồng chiêng đều có nghĩa chung là chiêng. Người dân tộc thiểu số Tây Nguyên không gọi loại nhạc cụ này là cồng, mà chỉ gọi là cing, cing char hoặc chinh, chênh. Cồng là do người Việt (người Kinh) thêm vào trên cơ sở dựa vào một nhạc cụ của người Mường có hình thức và chức năng tương ứng mà người Việt đã quen gọi tên. Hiện tượng này khá phổ biến, chẳng hạn, người Êđê gọi không gian cư trú của mình là buôn, người M’nông gọi là bon, người Lào và nhiều dân tộc thiểu số phía bắc gọi là bản, thì khi nói về nơi cư trú của các tộc người này, người Việt thường có thói quen gọi là buôn làng, bản làng, làng bản (yếu tố làng là của người Việt trên cơ sở lấy tên gọi đơn vị cư trú tương ứng của dân tộc mình kết hợp với nhau). Tương tự như vậy, tên một số nhạc cụ của các dân tộc thiểu số thường được người Việt thêm vào trước một thành tố chỉ loại theo nhận thức chủ quan của mình, chẳng hạn cha pi, là một nhạc cụ làm băng tre của người Rắc Lây (Raglai), thân, dây đều bằng tre. Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây nên người Việt gọi là đàn; còn người Raglai gọi là cây chapi, vậy thì người Việt gọi đối tượng này là cây đàn chapi. Trong nhạc cụ của người Raglai thường có mã la (nhạc cụ thuộc bộ gõ, gồm 3 cái, trước đây nó là nhạc cụ của nhà giàu - nhạc cụ chính), kèm theo có kèn bầu sarakel, sáo talakungchapi. Người nghèo không có điều kiện để sắm mã la thì lấy chapi làm nhạc cụ chính, vì nó bằng tre, loại vật liệu sẵn có và đàn ông người Raglai thì ai cũng làm đươc (Ai nghèo cũng có cây đàn chapi - Trần Tiến). Ta lư của người Vân Kiều, t’rưng của người Jrai, klông put của người Sedang và một số nhạc cụ khác của các dân tộc thiểu số cũng được người Việt gọi tên theo cách như vậy. Hiện nay, một số người (trong đó có cả giáo viên) thường quen nói, và có khi còn ngộ nhận rằng cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ở đây, cần lưu ý 2 vấn đề: Thứ nhất, cồng chiêng là vật thể chứ không phải phi vật thể. Thứ hai, tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa Liên hợp quốc (Unesco) công nhận ”Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại” tức là công nhận hình thức và môi trường diễn xướng cồng chiêng (không gian văn hóa), cụ thể là được xem xét trên các phương diện: a) Các bản nhạc được tấu bằng cồng chiêng, b) Những đối tượng chơi cồng chiêng, c) Các lễ hội có sử dụng cồng chiêng, d) Những địa điểm tổ chức các lễ hội đó. Người Tây Nguyên không làm ra cồng chiêng mà trước đây chủ yếu được mua hoặc trao đổi từ Lào hoặc từ các địa phương miền xuôi.

         - Nghi lễ đâm trâu ở Tây Nguyên. Lâu nay, nhiều người (kể cả trên báo chí) cho rằng có một loại lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên. Xin thưa rằng, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên chẳng có một thứ lễ hội nào như thế cả mà họ thường có nghi thức đâm trâu trong những lần mở hội. Đâm trâu là một nghi lễ trong lễ hội, hay có thể nói là một tục lệ không thể thiếu trong lễ hội nhằm thể hiện sức mạnh của con người và sự tôn kính đối với thần linh. Con trâu, tài sản lớn của đồng bào dân tộc thiểu số đã trở thành vật hiến tế trong lễ cúng tế các vị thần, và sau đó cả buôn làng cùng được thưởng thức. Người thực hiện việc đâm trâu được buôn làng chọn lựa. Sau một số nghi thức và màn nhảy múa của cộng đồng buôn làng (có tấu nhạc), người được giao nhiệm vụ đâm trâu phải thể hiện được sức mạnh và kỹ thuật, sao cho chỉ cần một nhát lao là con trâu ngã gục (đâm trâu bằng cây lao, tương tự như ngọn giáo). Như vậy, đâm trâu là một nghi thức trong lễ chứ không phải là một lễ hội.

Trên đây chỉ là một số tìm hiểu sơ lược bước đầu. Chúng tôi ý thức được rằng, không phải mọi vấn đề về văn hóa Tây Nguyên hiện nay đều đã được lý giải một cách thỏa đáng (kể cả những nội dung chúng tôi vừa đề cập). Mong được cùng các đồng nghiệp và những ai quan tâm tiếp tục trao đổi, nhằm mục đích đi đến sự thống nhất và hợp lý về cách tiếp cận tác phẩm trong nghiên cứu và giảng dạy.


Chú thích:

1, 2. Căn cứ số lá ở bẹ lá (Thông 2 lá, mỗi bẹ có 2 lá; thông 3 lá, mỗi bẹ có 3 lá)

3. Để củng cố cho thông tin mà chúng tôi thu thập được qua điền dã, trước khi gửi bài viết này, chúng tôi đã trao đổi và được sự đồng tình của anh Lê Hữu Phong, Trưởng phòng Văn hóa huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, tác giả cuốn Từ vựng đối chiếu Việt - Bahnar, Bahnar - Việt, NXB Văn hóa dân tộc, 2008.

4. Theo Từ điển Jrai - Việt

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
  2. Lưu Hùng (1994), Buôn làng cổ truyền xứ thượng. NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
  3. Nguyễn Văn Huy (2001), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXB Giáo dục.
  4. Phan Đăng Nhật, Vũ Ngọc Bình (1999), Luật tục Jrai. Sở Văn hóa- Thông tin Gia Lai.
  5. Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu (1996), Luật tục Êđê. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  6. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 1998), Luật tục Mnông. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  7. Sở Giáo dục & Đào tạo Dak Lăk - Viện Ngôn ngữ học (1993), Từ điển Việt - Ê đê, NXB Giáo dục.
  8. Siu Pơi (chủ biên, 1998), Từ điển Jrai - Việt, NXB Giáo dục.
  9. Lê Hữu Phong (2008), Từ vựng đối chiếu Việt - Bahnar, Bahnar - Việt, NXB Văn hóa dân tộc.
  10. Nguyễn Kiên Trường (2009), Từ điển Việt - Mnông, NXB Từ điển Bách khoa.

TS. Trần Văn Dũng

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,894 | Tất cả: 1,349,775
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn