GIỚI THIỆU CHUNG
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919))
Tin đăng ngày: 20/1/2017 - Xem: 3944
 

Hoàng Ngọc Cương

1. Bối cảnh lịch sử

Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng, đó là sự xác lập hệ thống cai trị của thực dân Pháp, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội, triều đình phong kiến đã mất đi vai trò lãnh đạo nhân dân và dẫn dắt bước đi của lịch sử dân tộc. Nằm trong quy luật biến đổi chung đó, nền giáo dục khoa cử Việt Nam cũng bắt buộc phải có những thay đổi để kịp thời “tiến kịp các nước văn minh”. Chúng ta đều biết rằng, nền giáo dục khoa cử từ chương chữ Hán bộc lộ rõ nét và tận cùng những hạn chế, không hợp thời chính là vào những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, song chế độ thực dân phong kiến vẫn duy trì. Gương Nhật Bản duy tân, Trung Quốc phế bỏ văn bát cổ đã truyền đến nước ta. Chính những người sĩ phu Việt Nam yêu nước đã hô hào phế bỏ khoa cử, đòi mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, nuôi dưỡng dân tài. Chính điều này đã buộc chính quyền thực dân phong kiến phải có những hành vi điều chỉnh trong chính sách giáo dục.

Với hàng loạt những quyết định quan trọng của chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến, đã tạo điều kiện cho sự cải lương và dần dần đi đến chấm dứt hẳn nền giáo dục khoa cử tại Việt Nam. Ngày 27 - 04 - 1904 (Thành Thái năm thứ 16), ban hành nghị định thiết lập Nha Học chính Bắc kỳ. Tháng 2 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18), ban hành nghị định thiết lập Nghị học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi ở Bắc kỳ. Ngày 31- 05- 1906, phụng thượng dụ cải định Trung kỳ Học pháp. Cũng trong năm này, vào ngày 14 tháng 9, toàn quyền phụng dụ thi hành. Lại ngày 16 tháng 11 năm ấy, thống sứ Bắc kỳ tuân phụng các khoản của nghị định thượng dụ. Đó là thời kỳ biến đổi thứ nhất của học hiệu. Sau khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1906) là thời kỳ cáo chung của văn bát cổ. Theo tấu chương ngày 06 tháng 7 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18) của Viện Cơ Mật về cải lương giáo dục và quy thức phép thi mà Nghị học Hội đồng thương nghĩ và đã được phê chuẩn.

Chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong một quãng thời gian hơn một chục năm (từ 1906 đến 1919) với ba cấp học: Ấu học - Tiểu học - Trung học đã kết thúc bằng khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử chữ Hán ở Việt Nam - khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ tư, năm 1919. Một trong những tiền đề quan trọng để tạo điều kiện cho sự chấm dứt chế độ giáo dục khoa cử Việt Nam chính là Thánh dụ về việc bãi bỏ phép khoa cử của vua Khải Định ban ra ngày mùng 4 tháng 11 năm Khải Định thứ 3 (1918). Thánh dụ bãi bỏ phép khoa cử của vua Khải Định là dấu chấm hết cho nền giáo dục khoa cử Việt Nam, đặc ân cuối cùng mà triều đình ban cho các sĩ tử chính là khoa thi Tiến sĩ cuối cùng được tổ chức vào năm Khải Định thứ 4 (1919).

2. Đôi nét về khoa thi Tiến sĩ cuối cùng - Kỷ Mùi - Khải Định 4 (1919)

2.1. Tên gọi khoa thi

Khoa thi tiến sĩ năm Kỷ Mùi - Khải Định thứ 4 (1919) là khoa thi vẫn diễn ra theo đúng thông lệ quy định của triều đình. Nhưng đây là một khoa thi hết sức đặc biệt, vì khoa thi này là khoa thi tiến sĩ cuối cùng của chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam. Và đặc biệt hơn là khoa thi này do chính nhà vua gia ơn và đặt tên cho khoa thi, đó là khoa “Ngự tứ ân khoa”. Sách Khải Định chính yếu có chép về việc này như sau:

“Năm Khải Định thứ 4 (1919). Mùa Xuân, tháng Giêng, chuẩn lấy khoa thi Hội năm nay làm Ngự tứ ân khoa. Bấy giờ Bộ học đệ phiến trình về thể thức kỳ thi Hội năm nay tâu lên đợi chỉ. Vua phê rằng: Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều đình, nên Trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp, thì trình qua Bộ học để xin vào ứng thí, lấy tên khoa là Ngự tứ ân khoa, để sau này lập ra Hội Hàn lâm. Truyền tuyển chọn quan Thư tịch để mở rộng đường cho kẻ sĩ. Truyền cho các quan Đại thần Cơ mật nghị bản ổn thỏa phúc tâu lên đợi chỉ(1)”.

Như vậy, khoa thi tiến sĩ cuối cùng, Kỷ Mùi - Khải Định 4 (1919) là một khoa thi do chính nhà vua “gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước”, tên khoa là Ngự tứ ân khoa (Khoa thi vua đặc ân ban thêm).

2.2. Đối tượng dự thi

Vậy để được tham gia kỳ thi tiến sĩ cuối cùng này thì đối tượng dự thi bao gồm những ai? Cũng chính trong bài phê, vua Khải Định đã giới hạn đến đối tượng được tham dự kỳ thi này như sau: “Trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp, thì trình qua Bộ học để xin vào ứng thí”(2).

Như vậy, đối tượng dự thi là “những người thông thạo cả hai thứ chữ Nho và chữ Pháp”. Nhưng sau đó, để mở rộng và thu hút thêm đối tượng dự thi thì “Viện Cơ mật đã có phiến trình tâu xin tại các tỉnh Trung kỳ, mỗi tỉnh xét cử hai người là Tú sĩ tại quê quán có thực tài đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp đưa lên để Hoàng thượng tuyển chọn”(3).

Về vấn đề này, vua Khải Định đã phê rằng: “Đường khoa cử kén chọn nhân tài của nhà nước nay đã bắt đầu thực hiện cải lương. Trẫm cảm nghĩ đối với lớp cựu hiền thì đã hết đường tiến mà tân học lại chưa được thuần, hoài bão ôm ấp mãi mà không gặp thời. Khoa cử gần đây cũng có nhiều thiên tư, có người vì nghèo khó bức bách mà không được tới trường, hoặc có tới được trường thì lại không trúng ý quan. Lại có trường hợp tài học của quan lại không bằng được sinh viên, từ đó dẫn tới nhiều người suốt ngày ôm hận, mà nhà nước muốn giăng lưới tuyển tài như ngày xưa cũng không được. Nên cần để cho những người hiền bị bỏ sót trong dân đã hiểu được ý trẫm. Nay theo như lời trình xin trong tờ phiến thì tuy chưa hoàn toàn trúng với ý của trẫm, nhưng ý kiến bàn thêm đã nhất trí nên tạm chuẩn y cho”(4).

Điều này cho thấy, triều đình và vua Khải Định rất quan tâm đến việc mở rộng và tuyển chọn nhân tài thông qua khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, đối tượng dự thi đã được mở rộng, từ những người nghèo khó bức bách, cho đến cả những vị Tú sĩ tại quê quán, miễn là họ có thực tài và đồng thời tinh thông cả chữ Nho và chữ Pháp, mặc dù “từ nay chợ văn chương thôi không họp nữa, ai còn gồng gánh nặng nhẹ quẩy về mà giờ xoay nghề khác… gồng nào gánh nấy đã vợi cả rồi, nên nghe tiếng trống, tuy không ai vui mà cũng chẳng ai buồn, ai cũng biết rằng buổi chợ này là buổi chợ chiều mà đồ hàng kia không còn phải là đồ hàng bán được trên thị trường thế giới”(5), và “Phủ thống sứ Bắc kỳ có nói trước cho Bộ học trong Kinh biết rằng người nào đỗ tiến sĩ hay phó bảng, tuy vẫn còn giữ các danh dự cũ mà không đủ quyền được bổ vào quan trường như trước nữa. Quan trường ngoài Bắc kỳ đã sửa đổi theo các chương trình học mới, không có ngạch nào riêng cho các ông nghè ông bảng sang năm”(6).

2.3. Lịch thi, phép thi và nội dung thi

Kỳ thi Hội cuối cùng này trong lịch sử khoa cử Việt Nam diễn ra như sau:

Ngày thi: 1/4/1919.

Ngày ra bảng trúng cách: 28/4/1919.

Ngày: 15/5/1919, thi Đình.

Trong khoa này, phép thi được sửa đổi như sau:

Trường thứ nhất: Văn sách 5 đạo. Kinh 1 đề; truyện 1 đề; thời vụ 1 đề; Nam sử 1 đề; sử Thái tây 1 đề.

Trường thứ hai: Chiếu 1 đề; biểu 1 đề; từ trát 1 đề.

Trường thứ ba: Toán pháp 2 đề; thiết vấn luận quốc ngữ 1 đề.

Trường thứ tư: Quốc ngữ dịch ra chữ Tây 1 đề; chữ Tây dịch ra chữ Hán 1 đề; luận chữ Tây 1 đề.

Người nào mà 4 trường hoặc 3 trường cộng lại được 40 điểm trở lên sẽ là trúng cách. Còn trường thi chữ Tây từ 1 điểm trở lên được tính là số lẻ.

Như vậy là trong kỳ thi này, thí sinh vừa thi bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Các ngôn ngữ văn tự này đều được sử dụng ở phong cách viết. Sau đây là sự phân chia cách dùng ở các thể loại văn bài về mặt ngôn ngữ văn tự.

Hán văn dùng ở văn sách, chiếu, biểu, từ trát, chọn trong hai trường đầu (tức Đệ nhất trường và Đệ nhị trường).

Chữ Quốc ngữ được sử dụng ở các môn Toán, luận thiết vấn, dịch ra chữ Tây (tức Đệ tam trường).

Chữ Pháp, Pháp ngữ (chữ Tây) được sử dụng ở môn Quốc ngữ dịch ra chữ Tây, chữ Tây dịch ra chữ Hán, luận chữ Tây (tức Đệ tứ trường).

Như vậy ở hai trường sau (tức Đệ tam trường và Đệ tứ trường) dùng cả chữ Hán, Quốc ngữ và chữ Tây(7).

Trong kỳ Điện thí, vua thân hành ra đề sách vấn các Cống sĩ tại điện Cần chánh.

Upload

Quang cảnh trường thi

3. Các vị đại khoa xứ Nghệ đỗ trong kỳ thi tiến sĩ cuối cùng (1919)

Trong khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, danh sách yết bảng cho biết có tổng số người đậu là 23 người, trong đó có 7 ông tiến sĩ và 16 ông phó bảng. Nhưng lẽ ra con số thi đậu sẽ không được như vậy nếu như không có sự “gia ân” của quan trường thi và nhà vua. Sách Khải Định chính yếu cho biết như sau:

“Mùa Hạ, tháng 4, kỳ thi Hội tiến hành xong xuôi, quan trường thi gia ân lấy thêm 3 quyển thi bị thiếu điểm. Bộ học tâu trình lên, vua phê rằng: Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn. Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt. Lần này đặc cách gia ân cho sĩ tử được vào thi Hội là bởi trẫm thương những người cựu học khổ công đèn sách những mong được tuyển chọn ra làm quan. Nay quan trường thi tuân theo phép tắc mà chỉ hạn chế tuyển chọn số người như thế là đúng, nhưng lòng trẫm vẫn thấy thương xót người hiền mãi không thôi. Căn cứ vào thỉnh cầu của quan Bộ học xin gia ân lấy thêm 3 quyển thi là rất hợp, nhưng trẫm nghe nói vẫn còn 2 quyển nữa mà điểm số về văn về lý cũng không thấp hơn 3 quyển kia, vậy mà không được dự lấy thêm, như thế là chưa công minh. Vậy truyền lấy thêm cả 2 quyển này vào cộng làm 5 quyển dâng lên ngự lãm, đợi sẽ có chỉ gia ân riêng(8)”.

Như vậy là có đến 5 quyển thi được quan trường thi và nhà vua xem xét gia ơn để chọn thêm, mặc dù chúng ta không biết trong số 23 người thi đậu đó, ai là những người thuộc diện “gia ơn” này, nhưng dù sao đó cũng là một trong những đặc ân và là vinh hạnh cho những ai thuộc trong số đó.

Trong kỳ thi này, lấy đỗ 7 ông tiến sĩ, 16 ông phó bảng. Trong tổng số 23 người đỗ lần này, thì riêng xứ Nghệ có đến 7 người, chiếm gần 30%. Và trong số 7 vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thì xứ Nghệ có 1 vị, đó là Tiến sĩ Lê Văn Kỷ. Danh sách 7 vị người xứ Nghệ đỗ trong kỳ thi Tiến sĩ cuối cùng (1919) như sau(9):

STT

Họ tên

Sơ lược tiểu sử

Ghi chú

 

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân

1

Lê Văn Kỷ

黎文紀

(1892 - ?)

 

- Sinh năm Nhâm Thìn. Người thôn Lạc Thiện, tỉnh Hà Tĩnh. Nay là xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Cử nhân khoa Mậu Ngọ (1918). Năm 28 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919).

- Kinh đô Thái viện y phó.

Cử nhân

 

Phó bảng(10)

2

Nguyễn Xuân Đàm

阮春談

 (1889 - ?)

 

- Người xã Quần Ngọc tỉnh Hà Tĩnh. Nay thuộc xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

- Trước là Tú tài đã đi dạy học, 31 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919).

- Thừa phái Viện cơ mật.

Tú tài

3

Đặng Văn Oánh 鄧文瑩

(1886 - ?)

 

- Người xã Nho Lâm tỉnh Nghệ An. Nay là thôn Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Con Đặng Văn Thụy, anh Đặng Văn Hướng.

- Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912). Năm 34 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919).

- Giáo thụ huyện An Nhơn(11).

Cử nhân

4

Trần Nguyên Trinh

陳元貞

(1881 - ?)

 

- Người xã Đông Tháp tỉnh Nghệ An. Nay là xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Tú tài dự thi Hội, 39 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919).

- Thừa phái bộ Binh.

Tú tài

5

Hà Văn Đại

何文玳

(1899 – 1964)

 

- Người xã Tiên Điền tỉnh Hà Tĩnh. Nay là thôn Tiên Điền, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là cháu họ của Hà Văn Gia.

- Là Cử nhân khoa Ất Mão (1915).

Năm 21 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919). Thừa phái bộ Công.

Cử nhân

6

Nguyễn Tấn

阮瑨

(1887 - ?)

 

- Người xã Thường Xuân, tỉnh Nghệ An. Nay là xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Tú tài, 33 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919). Thừa phái bộ Công.

Tú tài

7

Đặng Văn Hướng

鄧文向

(1888 - ?)

 

- Người xã Nho Lâm, tỉnh Nghệ An. Nay là thôn Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Là con Đặng Văn Thụy, em Đặng Văn Oánh.

- Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906).

- Năm 32 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919). Giáo thụ Diễn Châu.

Cử nhân

Như vậy, trong số 7 người ở xứ Nghệ thi đỗ trong kỳ thi này thì có 1 người đỗ Tiến sĩ là Lê Văn Kỷ, 6 người còn lại đỗ Phó bảng. Và cũng trong 7 người thi đỗ nói trên thì có 3 người là Tú tài được dự thi, 4 người còn lại đều là cử nhân. Người đỗ nhỏ tuổi nhất là cụ Hà Văn Đại, đỗ năm 21 tuổi, người lớn tuổi nhất là cụ Trần Nguyễn Trinh, đỗ năm 39 tuổi.

4. Văn bài thi của một vị đại khoa xứ Nghệ

Trong rất nhiều các văn bài của sĩ tử xứ Nghệ, chúng tôi xin lựa chọn bài thi của Phó bảng Trần Nguyên Trinh, để chúng ta thấy được bài thi của một vị Phó bảng là như thế nào.

Nguyên văn:

擬 今 場 臣 奏 請 今 科 中 格 殿 試 後 恭 俟 國 朝 紀 念 節 拜 慶 俾 知 榮 感 疏 。

欽 差 文 會 試 場 臣 等 謹 奏 擬 請 緣 繇 恭 摺 具 奏 候 旨 事 。 竊 文 : 人 才 國 家 之 元 氣 , 科 目 士 子 之 坦 途 。 古 者 三 物 興 賢 , 四 科 取 士 。 博 求 於 科 場 中 ,將以黼黻皇猷,笙鏞政化,非 徒 為 炫 耀 也 。 奉 我 世 祖 高 皇 帝 創 業 艱 難 , 大 定 後 未 遑 他 務,首 開 鄉 試 科 。 嗣 此 而 明 命 年 間 會 試 , 嗣 德 年 間 殿 試 , 賢 路 廣 焉 。 迨 我 景 尊 純 皇 帝 中 興 伊 始 , 廣 闢 科 途 。 一 時 士 夫 預 入 格 者 , 鰲 頭 中 選 , 鴈 塔 題 名 ,其 榮 貴 為 何 如 。 數 百 年 來 待 士 之 恩 格 厚 矣 。 奉 我 皇 上 臨 御 來 茲 , 繼 志 述 事 。 念 祖 尊 締 造 艱 勞 , 以 有 今 日 倣 歐 美 文 明 國 例 , 以 嘉 隆 元 年 五 月 初 二 日 為 紀 念 節 。 是 日 為 紀 念 之 第 一 日 , 而 今 科 為 最 後 之 一 科 。 殿 試 期 又 與 紀 念 節 相 值 ,臣 等 謹 俟 至 日 拜 慶 , 俾 知 榮 感 。 多 士 詞 壇 白 戰 , 必 當 思 崑 崙 富 國 血 戰 之 殊 勞 , 筆 陣 爭 雄 , 當 深 念 南服 北 河 競 爭 之 武 烈 。 況 綠 袍 花 笏 , 世 路 之 榮 , 即 結 綵 懸 旗 , 國 恩 之 感 也 。 諸 士 日 將 有 天 下 國 家 之 責 。 既 幸 出 身 之 榮 顯 , 又 知 創 業 之 艱 難 , 則 以 身 對 於 國 界 者 , 逢 辰 若 此 , 報 德 謂 何 , 其 發 揚 國 粹 , 點 綴 國 花 , 前 程 未 可 量 也 。 所 有 臣 等 膚 淺 之 見 , 輒 敢 冒 昧 恭 摺 具 奏 , 候 奉 聖 裁 。 謹 奏 !  (陳 元 貞 )

P.Â. [Đề]: Nghĩ kim trường thần tấu thỉnh kim khoa trúng cách điện thí hậu, cung sĩ quốc triều kỷ niệm tiết bái khánh, tỷ tri vinh cảm sớ.

[Làm]: Khâm sai văn Hội thí trường thần đẳng cẩn tấu nghĩ thỉnh duyên dao cung triệp cụ tấu hậu chỉ sự. Thiết văn: Nhân tài, quốc gia chi nguyên khí. Khoa mục, sĩ tử chi thản đồ. Cổ giả, tam vật hưng hiền, tứ khoa thủ sĩ. Bác cầu ư khoa trường trung, tương dĩ phủ phất hoàng du, sinh dung chính hóa, phi đồ vi huyễn diệu dã.

Phụng ngã Thế tổ Cao hoàng đế, sáng nghiệp gian nan, đại định hậu, vị hoàng tha vụ, thủ khai Hương thí khoa. Tự thử nhi Minh Mệnh niên gian Hội thí. Tự Đức niên gian Điện thí. Hiền lộ quảng yên. Đãi ngã hoàng Cảnh tông Thuần hoàng đế, trung hung y thủy, quảng tịch khoa đồ. Nhất thời sĩ phu dự nhập cách giả, Ngao đầu trúng tuyển, Nhạn tháp đề danh. Kỳ vinh quý vi hà như? Sổ bách niên lai, đãi sĩ chi ân cách hậu hĩ. Phụng ngã hoàng thượng, lâm ngụ lai tư, kế chí thuật sự. Niệm tổ tông đế tạo gian lao, dĩ hữu kim nhật. Phỏng Âu Mỹ văn minh quốc lệ, dĩ Gia Long nguyên niên ngũ nguyệt sơ nhị nhật vi Kỷ niệm tiết. Thị nhật vi Kỷ niệm chi đệ nhất nhật. Nhi kim khoa vi tối hậu chi nhất khoa. Điện thí kỳ hựu dữ Kỷ niệm tiết tương trị. Thần đẳng cẩn sĩ chí nhật bái khánh, tỷ tri vinh cảm. Đa sĩ từ đàn bạch chiến, tất đương tư Côn Lôn, Phú Quốc huyết chiến chi thù lao. Bút trận tranh hùng, đương thâm niệm Nam phục Bắc Hà cạnh tranh chi vũ liệt. Huống lục bào hoa hốt, thế lộ chi vinh, tức kết thái huyền kỳ, quốc ân chi cảm dã. Chư sĩ tha nhật, tương hữu thiên hạ quốc gia chi trách. Ký hạnh xuất thân chi vinh hiển, hựu tri sáng nghiệp chi gian nan. Tắc dĩ thân đối ư quốc giới giả, phùng thời nhược thử, báo đức vị hà?Kỳ phát dương quốc túy, điểm xuyết quốc hoa. Tiền trình vị khả lượng dã. Sở hữu thần đẳng phu thiển chi kiến. Triếp cảm mạo muội, cung triệp cụ tấu. Hậu phụng thánh tài. Cẩn tấu!

Trần Nguyên Trinh.

Dịch nghĩa:

Bài sớ xin Hoàng Thượng cho những người trúng cách trường thi năm nay, qua kỳ Đình thí, được chờ dự lễ “Quốc triều kỷ niệm tiết” để tăng thêm phần vinh dự.

Khâm sai trong trường thi Hội, chúng thần cẩn tấu chờ xin chỉ dụ một việc như sau:

Trộm nghĩ, nhân tài là nguyên khí của quốc gia. Khoa mục là đường rộng cho sĩ tử. Thời cổ có “tam vật hưng hiền”, “tứ khoa tuyển sĩ”. Tìm rộng nơi khoa trường, cầu người theo lễ chế nhà vua, rung chuông cho giáo hóa. Những việc ấy không chỉ là đánh bóng tô điểm mà thôi. Kính nghĩ, Đức Thái tổ Cao hoàng đế triều ta, sáng nghiệp gian nan, sau cuộc thành công, chưa rỗi nghỉ mà lo ngay việc khác. Thoạt đầu mở khoa thi Hương(12). Từ đó cho đến những năm đời vua Minh Mệnh, lại có thêm khoa thi Hội(13). Những năm đời vua Tự Đức, lại có khoa Điện thí, đường cho người hiền rộng mở. Đến đời Đức Cảnh tông Thuần hoàng đế mở cuộc trung hưng, lại mở khoa trường. Sĩ phu một thời lại vào con đường khoa cử. Đầu ngao trúng tuyển, tháo nhạn đề danh. Sự vinh quy đó trang trọng đến mức nào. Mấy trăm năm lại đây, ơn triều đình cho kẻ sĩ trúng cách dày hậu đến mức nào.

Đức Hoàng thượng ta, lâm ngự đến giờ, kế chí thuật sự. Nghĩ tổ tông sáng nghiệp gian lao mới có hôm nay. Phỏng luật lệ các nước Âu Mĩ văn minh, lần đầu tiên quyết định lấy ngày mồng 2 tháng 5 năm Gia Long nguyên niên làm Tiết Kỷ Niệm(14) (Hưng Quốc khánh niệm tiết). Ấy là ngày kỷ niệm lần đầu tiên. Còn khoa thi này lại là khoa thi cuối cùng. Kỳ Điện thí khoa này lại đúng vào dịp Hưng Quốc khánh niệm tiết. Lũ chúng thần kính cẩn xin được chờ đến ngày lễ ấy lạy mừng, để cho tăng phần vinh dự. Để cho những kẻ trên từ bàn đàn giấy trắng luận bàn phải nhớ về những trận huyết chiến nơi Phú Quốc, Côn Lôn năm xưa. Trong cuộc bút trận tranh hùng cần nhớ đến Nam phục Bắc Hà cạnh tranh khốc liệt. Huống hồ, áo bào xanh, trâm hốt hoa, ấy là vinh dự tột cùng cho kẻ sĩ. Cờ treo trống mở, đó là vinh dự cảm nhận quốc ân sâu nặng. Các kẻ sĩ trong chốn trường thi này, đến một ngày nào đó, sẽ ra đời đảm trách công việc quốc gia. Đã may mình xuất thân nơi vinh hiển, cần phải hay thánh chúa sáng nghiệp buổi gian nan. Vì thế, cần phải đem thân mình phụng sự đất nước. Gặp thời chính là lúc này đây.

Thế nào gọi là báo đức? Hãy phát dương quốc túy, điểm xuyết quốc hoa. Tiền trình không sao diễn tả cho hết được.

Chúng thần kiến thức nông cạn, dám mạo muội cung chép ra đây, để chờ thánh xét. Cẩn tấu(15)!

Trần Nguyên Trinh.

5. Về hành trạng của một số ông nghè xứ Nghệ sau khi đỗ đạt

- Phó bảng Đặng Văn Hướng (1887 - 1954)

Đặng Văn Hướng (1887 - 1954), người làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình nổi tiếng khoa bảng và thanh thế ở vùng Nho Lâm(16). Cha của ông là cụ Hoàng giáp Đặng Văn Thụy, từng giữ chức Tế tửu Quốc tử giám, mẹ ông là cụ Cao Thị Bích, con gái của quan Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục. Đặc biệt, ông cùng với người anh trai của mình là Đặng Văn Oánh cũng đỗ Phó bảng cùng khoa thi tiến sĩ cuối cùng này.

Đặng Văn Hướng thi đỗ Cử nhân khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1906), và đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi (1919), ông học tiếng Pháp và sau đó thi đỗ bằng Thành chung, nhờ am hiểu cả Pháp văn, Hán văn lẫn Quốc ngữ, cho nên về sau ông đã được bổ dụng làm Huấn đạo, rồi Giáo thụ phủ Diễn Châu, rồi thăng làm Tri phủ, Thị lang Bộ công, Tham tri Bộ hình, Tuần phủ tỉnh Hà Tĩnh.

Sinh thời, Đặng Văn Hướng là một người có tính cách thẳng thắn, trung thực, dám phê phán cả cấp trên của mình là các quan Tây, ông cũng là một người có tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Ông không phải là một nhân vật “xu thời nịnh bợ quan Tây” để mong được thăng tiến và sung túc, mà ngược lại, với tinh thần dân tộc và tấm lòng yêu nước thiết tha, ông đã nhiệt tình tham gia vào phong trào của Việt Minh. Ông cùng với các nhân vật Trần Văn Cung, Lê Viết Lương lo toan cho cuộc sống của người dân, đối phó với những yêu sách của quân Nhật, đồng thời bí mật chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tại Nghệ An. Ông đã cho thay những tên có xu hướng thân Nhật, thân Pháp bằng những người có tinh thần dân tộc và yêu nước, chính vì vậy mà đến khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, cuộc chuyển giao cho chính quyền Cách mạng đã diễn ra rất thuận lợi.

Về sau, ông tham gia Việt Minh tại Liên khu 4, sau đó ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra giữ chức Bộ trưởng Không bộ, phụ trách vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Trong suốt thời gian từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến những năm sau, ông đã cùng với những lãnh đạo ở các vùng Thanh - Nghệ đi khắp các nơi để kêu gọi, hiểu dụ đồng bào góp công, sóp sức cho công cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông mất năm 1954 tại quê nhà. Ông có người con trai là Đặng Văn Việt (sinh năm 1920), từng là Trung tá, Anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

- Phó bảng Nguyễn Xuân Đàm (1883 - 1953)

Nguyễn Xuân Đàm, hiệu Đông Khê, quê thôn Quần Ngọc, xã Đông Lâm, tổng Nga Khê, huyện Can Lộc (nay là xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), thuộc đời thứ 4 của dòng họ Nguyễn Xuân. Sinh năm Quý Mùi (1883), hiệu là Đông Khê, thi đỗ Phó bảng năm Kỷ Mùi (1919). Từ năm 1920 - 1923 được triều đình nhà Nguyễn bổ làm giáo thụ Trường Quốc Tử Giám (Huế). Từ năm 1924 đến năm 1929 được bổ làm tri phủ Đông Sơn (Thanh Hóa). Từ năm 1930 đến năm 1935, giữ chức Tri phủ Tam Kỳ (Quang Nam). Từ năm 1936 đến năm 1940, triều đình Huế điều ông về làm Tri phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Cuối năm 1943 được phong hàm Nhị phẩm và sau một thời gian thì về an trí tại quê nhà. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được chính quyền dân chủ nhân dân mời làm Ủy viên Ban Chấp hành Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh kiêm Hội trưởng Hội Liên Việt huyện Can Lộc(17).

“Khi làm quan, ông là người đức độ, liêm khiết, thường giúp đỡ người nghèo. Nghỉ hưu, gia sản không có gì chỉ có một ngôi nhà lợp ngói và ít ruộng vườn. Về hưu, ông nghiên cứu y học, trị bệnh cứu người, thường đến tận nhà thăm người bệnh và kê đơn, bốc thuốc nên được người dân trong vùng quý mến. Ông là người đứng ra huy động nhân dân trong vùng, và đã bỏ nhiều công sức xây dựng, tôn tạo đình làng Quần Ngọc, khắc bia dựng đá tại đình”…

Vào ngày 5 tháng 4, Sở VHTT & DL Hà Tĩnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã trao bằng công nhận nhà thờ Phó bảng Nguyễn Xuân Đàm xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

- Phó bảng Hà Văn Đại (1896 - 1964)

Nho sĩ, nhà yêu nước và cách mạng Hà Văn Đại sinh năm 1896 tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), đỗ Cử nhân năm Ất Mão (1915), đỗ Phó bảng năm Kỷ Mùi (1919); trước Cách mạng tháng Tám từng giữ chức Án sát Thanh Hóa, Tỉnh trưởng Hà Tĩnh; sau này từng làm Chánh án tỉnh Hà Tĩnh, Thẩm phán Tòa án nhân dân phúc thẩm Hà Nội và gia nhập Đảng Xã hội Việt Nam (1955), được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì (1961)… Về cuối đời, trên tư cách nhà Hán học, Hà Văn Đại từng làm cộng tác viên của Viện Văn học, nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam và tham gia dịch thuật, biên soạn các sách như Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Thơ văn yêu nước Việt Nam, Thơ văn Lý - Trần và dịch sách triết học Hiển học Khổng Mặc của nhóm Hầu Ngoại Lư - Triệu Kỷ Bân - Đỗ Quốc Tường (Trung Quốc)(18)

Nghiệm sinh 69 năm trên cõi đời, nhà yêu nước và cách mạng Phó bảng Hà Văn Đại đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử dân tộc nhưng trước sau vẫn thể hiện là một nhân cách trí thức trung thực, cao sang, suốt đời gắn với sự học, với sách vở và tri thức. Nói riêng trên lĩnh vực dịch thuật Hán Nôm, chỉ với việc dịch sách triết học Hiển học Khổng Mặc và tham gia dịch thơ văn của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Xuân Ôn,… cũng đã là những đóng góp đặc biệt có ý nghĩa với khoa phiên dịch học và với chính nền văn hóa - văn học nước nhà(19).

6. Kết luận

Như vậy là trong khoa thi tiến sĩ cuối cùng này, sĩ tử xứ Nghệ đã tham gia với số người thi đỗ chiếm tới gần 30% trong tổng số những vị đỗ đạt. Điều đó thể hiện truyền thống hiếu học và học giỏi của sĩ tử xứ Nghệ, nơi đã cung cấp cho dân tộc nhiều nhà khoa bảng tài danh, nhiều kẻ sĩ đức độ, nhân cách lớn. Song, điều đặc biệt hơn là các sĩ tử xứ Nghệ không phải chỉ tham gia kỳ thi để mong đỗ đạt vì cái danh tiến sĩ. Mà hơn thế nữa, sau khi đỗ đạt, các vị tiến sĩ xứ Nghệ với khả năng và tài học của mình, đã được bổ nhiệm vào các chức vụ khác nhau, và trong số họ đã có những người còn tham gia cách mạng, cống hiến tài năng sở học cho dân tộc, chứ không phải khi thời thế đổi thay thì họ lui về ẩn dật hay bàng quan với thế sự đất nước, thật đúng như nhận xét của tác giả sách Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919): “… sĩ tử xứ Nghệ đã nhanh chóng hòa nhập và đi đầu phong trào đánh Pháp, cứu đất nước khỏi ách nô lệ. Đó chính là đạo lý cao đẹp nhất, sáng ngời nhất mà dân tộc ta mãi mãi ghi công”(20). q

Chú thích

(1). Dẫn theo: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thời Đại - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2010, tr.418.

(2). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(3). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(4). Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tr. 418.

(5). Nam phong tạp chí, số 12, 6/1918, tr. 325 (phần Quốc ngữ).

(6). Nam phong tạp chí, số 17, 11/1918.

(7). Phạm Văn Khoái (2010), Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, tr. 101.

(8). Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 419.

(9). Ngoài 7 vị là người xứ Nghệ, 16 vị còn lại là: (1) Nguyễn Phong Di, người huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đỗ năm 31 tuổi; (2) Trịnh Hữu Thăng, người Nam Định, đỗ năm 35 tuổi; (3) Nguyễn Cao Tiêu, người Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, đỗ năm 33 tuổi; (4) Bùi Hữu Hưu, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 40 tuổi; (5) Vũ Khắc Triển, người làng Mỹ Lộc, tỉnh Quảng Bình, đỗ năm 37 tuổi; (6) Dương Thiệu Tường, người làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), đỗ năm 25 tuổi; (7) Bùi Hữu Thứ, người làng An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 31 tuổi; (8) Chu Văn Quyền, người làng An Lai, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 33 tuổi; (9) Mai Chiểu, người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, đỗ năm 28 tuổi; (10) Phạm Đình Long, người làng An Tây, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, đỗ năm 25 tuổi; (11) Lê Nguyên Lượng, người tổng An Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đỗ năm 25 tuổi; (12) Nguyễn Hà Hoành, người làng La Qua, tổng Hà Nông, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ năm 25 tuổi; (13) Lê Viết Tạo, làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, đỗ năm 44 tuổi; (14) Nguyễn Ngọc Hoàng, người thôn Tiến Lộc, tổng Kinh Doanh, phủ Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa, đỗ năm 33 tuổi; (15) Nguyễn Cư, người làng Phù Chính, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đỗ năm 21 tuổi; (16) Hoàng Yến, người làng Minh Hương, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, đỗ năm 31 tuổi.

(10). Kể từ khoa thi năm Ất Sửu, quy định mỗi khoa lấy thêm những người có số điểm gần sát với hạng Đệ tam giáp, nhưng tách riêng thành một bảng phụ, gọi là Phó bảng. Như vậy Phó bảng cũng được chọn luôn trong kỳ thi đại khoa, nhưng về mặt quyền lợi đãi ngộ thì không được bằng những người đỗ chính bảng.

(11). Trong sách Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), lại chép Đặng Văn Oánh làm “Giáo thụ huyện Yên Nhân”. Hai chữ này, nguyên văn chữ Hán viết là 安仁. Theo chúng tôi nên đọc là An Nhơn, vì đây là tên hành chánh thuộc Bình Định. (Xem: Đào Tam Tỉnh, sđd, tr.184).

(12). Dưới thời vua Gia Long, phải đến năm Đinh Mão - Gia Long năm thứ 6 (1807) mới tổ chức được khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, mà cũng chỉ tổ chức được ở những trường thuộc Bắc Hà và Nghệ An, Thanh Hóa. Và mãi cho đến năm Quý Dậu (1813) mới có khoa thi Hương đầu tiên ở Huế và Gia Định.

(13). Dưới thời vua Minh Mệnh, khoa thi Hội đầu tiên của triều Nguyễn mới được mở, đó là khoa thi năm Nhâm Ngọ - Minh Mệnh thứ 3 (1822), khoa thi này chỉ lấy đỗ có 8 vị Tiến sĩ.

(14). Về đặt ngày 2 tháng 5 làm tiết Kỷ Niệm, sách Khải Định chính yếu, sơ tập, quyển 1 có chép như sau: “Năm Khải Định thứ 4 (1919), tháng 4, chuẩn đặt tên gọi tôn kính ngày lễ Kỉ niệm là lễ Khánh niệm Hưng Quốc… Nước ta mới định đặt ra một ngày lễ Kỉ niệm, đó là ngày đầu tiên Thế tổ Cao hoàng đế triều ta khai sáng ra sự nghiệp lớn lao để lại cho muôn đời sau. Trẫm xét thấy thần dân khắp trong nước được tin ấy ai cũng hân hoan mừng rỡ tuân hành, thậm chí có nơi bỏ qua cả ngày tết Đoan dương để vui mừng tổ chức ngày Kỉ niệm này. Điều đó chứng tỏ đức trạch to lớn của Liệt thánh đã thấm đượm sâu sắc trong lòng dân chúng, cũng còn cho thấy tấm lòng thuần hậu của dân ta hướng tới văn minh và đức hóa của triều đình, khiến trẫm vô cùng mừng rỡ và càng thêm phần tin yêu. Nhưng nếu chỉ dùng hai chữ “Kỉ niệm” không thôi thì e lẫn lộn và chưa hợp với nguyện vọng của nhân dân. Để ghi lại ngày vui mừng và thể hiện lòng ghi tạc không quên thì chi bằng đặt cho một cái tên gọi đẹp đẽ để lưu truyền mãi mãi. Vì vậy hai chữ “Kỉ niệm” sẽ phong cách gọi ngày lễ Kỉ niệm Chính Trung mà tôn kính gọi là lễ Khánh niệm Hưng Quốc. Truyền thông lục cho khắp trong ngoài đều biết để tuân hành” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu (bản dịch), Nxb Thời Đại, Hà Nội, tr.229 - 230.)

(15). Bản dịch của Phạm Văn Khoái, chúng tôi có chỉnh sửa một đôi chỗ.

(16). Xem thêm: Đào Tam Tỉnh (2000), “Họ Đặng Nho Lâm ba cha con đại khoa hai anh em đồng khoa”, in trong Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VHTT Nghệ An, 2000, tr. 164 - 165.

(17). Dẫn theo: Bảo tàng Hà Tĩnh (2013), Lý lịch di tích nhà thờ Nguyễn Xuân Đàm (xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), Hồ Bách Khoa lập, tr.2.

(18). Xin xem mục từ số 39 - Hà Văn Đại, in trong Nhân vật lịch sử họ Hà Nghệ Tĩnh (Tư liệu phục vụ Hội thảo khoa học “Tướng quân Hà Mại và một số nhân vật tiêu biểu họ Hà Nghệ Tĩnh thời trung, cận đại). Tài liệu đánh máy, 2013, tr.78-82.

  (19). Thông tin bài viết về Phó bảng Hà Văn Đại, chúng tôi trích dẫn từ kết quả nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn trong bài viết: “Phó bảng Hà Văn Đại với những công trình dịch thuật”. Tài liệu này được in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tướng quân Hà Mại và một số nhân vật tiêu biểu họ Hà Nghệ Tĩnh thời trung, cận đại”. Tài liệu đánh máy, 2013, tr.78-82. Bài viết này do bác Hà Văn Sĩ cung cấp cho chúng tôi. Nhân đây xin được gửi lời cảm ơn đến bác cùng tác giả bài viết.

(20). Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VTTT Nghệ An, Nghệ An, tr. 55.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyen Khac Can, Pham Viet Thuc, Knowledge of Vietnam in the past through 700 pictures, Information and theory publishing house, Ha Noi, 1992.
  2. Thái Kim Đỉnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (từ đời Trần đến đời Nguyễn), Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, Hà Tĩnh, 2004.
  3. Ninh Viết Giao, Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.
  4. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Sở VHTT Nghệ An xuất bản, Nghệ An, 2000.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 2010.
  6. Phạm Văn Khoái, Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2010.
  7. Lê Trọng Ngoạn, Ngô Văn Ban, Nguyễn Công Lý, Lược khảo và tra cứu về Học chế Quan chế ở Việt Nam từ 1945 về trước, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997.
  8. Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, In lần thứ 4, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1997.
  9. Bùi Thiết, Từ điển Hà Tĩnh, Sở VHTT Hà Tĩnh xuất bản, Hà Tĩnh, 2000.
  10. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006.
  11. Dương Bá Trạc, “Khảo cứu về sự thi ta”, Tạp chí Nam Phong, IV, 5/1919, tr.373 - 385, 1919.
  12. Tạp chí Nam Phong.
Giới thiệu chung khác:
Di sản tài liệu Hán Nôm họ Nguyễn Khắc Hồng Long, Nam Đàn (13/4/2018)
Người Nghệ đỗ cử nhân năm Tuất (2/3/2018)
Di sản Hán Nôm với hệ thống di tích Tây Yên Tử (19/12/2017)
Khảo lại ba bản dịch Hai bài Văn bia đền Cuông (6/10/2017)
Kim Vân Kiều tân truyện Trong “Kho sách xưa” của Trường Đại học Yale (26/9/2017)
Bốn chuyến bay không thể nào quên (11/9/2017)
Sa mu dầu - Di sản Nghệ An trong top 10 cây lớn nhất trái đất? (8/9/2017)
Hợp tác KH&CN Việt – Lào hướng đến tầm cao mới (3/7/2017)
Bàn thêm 16 chữ vàng (Tứ tôn châm) của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (3/7/2017)
Công tác tuần tiểu, kiểm soát vùng biển miền Trung qua một số tư liệu Châu bản triều Nguyễn (3/7/2017)
Bàn về những suy diễn tùy tiện trong “Bản lý lịch di tích” đền Bạch Vân (31/3/2017)
THỬ BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ KÝ HIỆU NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN (31/3/2017)
CỬ NHÂN ĐẤT NGHỆ ĐỖ Ở CÁC KHOA NĂM DẬU (20/1/2017)
CÁC VỊ ĐẠI KHOA XỨ NGHỆ TRONG KHOA THI TIẾN SĨ CUỐI CÙNG (KỶ MÙI – KHẢI ĐỊNH THỨ 4 (1919)) (20/1/2017)
BA TRANG, BẢY TRẠI BÂY GIỜ LÀ ĐÂU? (20/1/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,556 | Tất cả: 1,508,616
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp