NGHIÊN CỨU KHXH&NV
Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An - Thực trạng và giải pháp
Tin đăng ngày: 29/12/2016 - Xem: 578
 

Miền Tây Nghệ An được xác định là một trong ba trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Nghệ An, được Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An ban hành tại Quyết định số 2355/QĐ-TTg, ngày 04/12/2013. Tuy nhiên, để đáp ứng những đòi hỏi mang tính chiến lược đó của tỉnh, khó khăn lớn nhất của các huyện miền Tây vẫn là giải quyết nguồn lao động dư thừa và nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động, nhất là lao động của các đồng bào dân tộc thiểu số. Phần đa lực lượng trong độ tuổi lao động đều tham gia sản xuất nông nghiệp tại địa phương, không có việc làm ổn định, trong khi đó, số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường không có điều kiện học tiếp chiếm một số lượng rất lớn. Số học sinh có trình độ tiếp cận với với các nghề mang tính kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động ở các thành phố lớn và nước ngoài lại rất hạn chế.

Thực tế này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ về công tác hướng nghiệp, nắm bắt tâm lý nghề nghiệp của học sinh, học viên để các em được chọn nghề đào tạo phù hợp với khả năng của mình. Xuất phát từ những thực tiễn đó, Trung tâm KHXH&NV được Sở KH&CN và UBND tỉnh Nghệ An đặt hàng, giao triển khai đề tài khoa học: Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An: Thực trạng và giải pháp. Đề tài do Trung tâm KHXH&NV Nghệ An chủ trì; Tiến sĩ Trần Khắc Hoàn - Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh làm chủ nhiệm .

1. Thực trạng

Thực trạng về tâm lý nghề nghiệp mang tính chất đặc thù trong quá trình hướng nghiệp của học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An.

Tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức: Việc hiểu biết đầy đủ về các thông tin của nghề mà bản thân lựa chọn là một điều kiện cần để cho họat động chọn nghề trở nên có căn cứ. Điểm qua các chỉ số trên cho thấy phần đông các em học sinh có biết về những đặc điểm của nghề chiếm 50,6%. Tuy nhiên, vẫn có đến 18,6% học sinh không hoặc hiểu biết rất ít về những đặc điểm của nghề mà bản thân lựa chọn. Có đến 30,7% chỉ nghe nói đến những thông tin trên, điều này chứng tỏ các em rất ít quan tâm đến việc tìm hiểu đặc điểm nghề.

Thực tế khảo sát đặt ra, học sinh không hào hứng tìm hiểu thông tin về thị trường lao động trong quá trình chọn nghề. Chỉ có 30,6% học sinh tích cực tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động đối với nghề mà bản thân dự định lựa chọn; 39,7% học sinh tích cực tìm hiểu về khả năng và cơ hội tìm được việc làm của nghề dự định chọn. Trong khi đó, chỉ có 11,9% học sinh tích cực tìm hiểu thông tin liên quan đến sự định hướng phát triển của đất nước, địa phương để làm căn cứ cho quyết định lựa chọn.

 Tâm lý biểu hiện ở mặt thái độ: hầu hết các em có đánh giá đúng về tầm quan trọng của việc chọn nghề đối với bản thân và xã hội, có đến 78,6% học sinh cho rằng việc chọn nghề rất quan trọng, cần có suy nghĩ chín chắn. Số có thái độ đánh giá thiếu tích cực về ý nghĩa của hoạt động chọn nghề là không đáng kể, chỉ là 2,5%.

Tâm lý biểu hiện ở mặt hành vi: đa số học sinh có sự chủ động và nhận thấy đó là việc làm cần thiết chiếm 57%. Tuy nhiên, nhìn từ chiều ngược lại cho thấy vẫn còn có rất nhiều học sinh vì các lý do khác nhau mà buộc phải đưa ra các quyết định ngoài ý muốn của bản thân.

 Thực trạng hướng nghiệp, phân luồng trong các trường học.

 Thực trạng công tác hướng nghiệp: Về nội dung, giáo trình, phương pháp dạy học;  cơ sở vật chất; đội ngũ cán bộ giáo viên hướng nghiệp dạy nghề nhìn chung, đa số được các em học sinh đánh giá chất lượng hướng nghiệp và dạy nghề hiện nay trong nhà trường là bình thường. Tuy nhiên, nhìn từ chiều ngược lại số học sinh đánh giá là không tốt vẫn chiếm tỷ lệ khá cao lên đến 30,3%.

Thực trạng phân luồng học sinh: Kết quả năm học 2015 - 2016, Nghệ An có 3.698 thí sinh dự thi, trong đó có 61,79% là số dự thi tốt nghiệp và đăng ký xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Đây được xem là luồng chính. Luồng thứ 2, có đến 38,21% học sinh chỉ dự thi tốt nghiệp THPT, không đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu chỉ có khoảng 20 - 27% trong số này đăng ký vào học các trường cao đẳng, trung cấp nghề.

Qua đó cho thấy, công tác phân luồng hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, do học lực mức trung bình, kém chiếm đa số nên học sinh khó có thể duy trì được ở bậc học cao hơn, cao đẳng, đại học...

Thực trạng đào tạo nghề tại các huyện miền Tây Nghệ An.

Đa số các em vẫn lựa chọn con đường học xong THPT rồi học lên ÐH, CÐ và tìm kiếm việc làm chiếm 39,5%. Trong khi đó phương án học xong THPT rồi học nghề (CÐN, TCN) và tìm kiếm việc làm chỉ chiếm 16,9%.

Về số lượng tuyển sinh qua các năm của các trường ở các huyện miền Tây vẫn được duy trì khá ổn định. Mức độ tăng giảm giữa các năm là không đáng kể....

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở các huyện miền núi đạt 38% (trong đó, tỷ lệ lao động đào tạo bậc dạy nghề dưới 3 tháng và sơ cấp nghề còn chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu đào tạo nghề của tỉnh chiếm 81%, tỷ lệ đào tạo từ trung cấp nghề trở lên chỉ chiếm 18,9%). Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả tỉnh (55%).

Thực trạng mối liên hệ giữa nhà trường, cơ sở đào tạo nghề (GDNN) và các doanh nghiệp.

Trong những năm gần đây, ở các huyện miền Tây Nghệ An đã từng bước hình thành mối liên hệ giữa nhà trường, cơ sở GDNN và doanh nghiệp, tổ chức cá nhân để tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề cho học sinh. Tuy nhiên, các mối liên hệ này còn gián đoạn, lỏng lẻo,…

Thực trạng công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề.

Tỉnh đã và đang thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số, gồm:

-  Trường PTDTNT được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi, dạy học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước.

- Thông tư liên tịch 109/TTLT- BTC-BGDDT, ngày 29/5/2009 về việc hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường  phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc.

- Học sinh bán trú lớp 4, lớp 5, lớp 6 được tỉnh hỗ trợ 90.000 đồng/học sinh/tháng và hưởng 9 tháng trong 1 năm theo Quyết định số 95/2005/QĐ-UBND ngày 04/8/2005 của UBND tỉnh Nghệ An.

- Chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú (thực hiện Quyết định 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của TTCP).

- Đặc biệt, theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, từ tháng 7 năm 2015, người học nghề được hưởng nhiều ưu đãi trong miễn giảm học phí.

- Chính sách cử tuyển đối với học sinh dân tộc thiểu số.

 Đánh giá thực trạng sử dụng công nhân trong tỉnh.

Số lượng lao động và phân bố: Hiện nay số dân trong độ tuổi lao động ở tỉnh ta có hơn 2 triệu người, chiếm hơn 64%, trong đó, lao động nông thôn chiếm khoảng 70% tổng lực lượng lao động, là nơi cung cấp nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Đội ngũ lao động của tỉnh Nghệ An phân bố không đều theo vùng, miền. Phần lớn LLLĐ chất lượng cao đều tập trung chủ yếu ở một số trung tâm như thị xã Cửa Lò; huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, TP. Vinh,...

Chất lượng đội ngũ lao động và khả năng đáp ứng của lao động trong các doanh nghiệp chỉ ở mức trung bình. Lao động làm việc tại các doanh nghiệp đã qua đào tạo mới chỉ chiếm tỷ lệ 52,3%. Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn (47,7%), chủ yếu làm việc trong ngành may mặc, khai thác than, xây dựng công trình dân dụng, buôn bán... Đánh giá của các DN về chất lượng nguồn lao động hiện tại, cụ thể: 37,5% số DN cho rằng khả năng tư duy sáng tạo của người lao động chỉ ở mức trung bình và 12,5% số DN đánh giá ở mức kém; việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ ở mức trung bình với 41,2% số DN; trình độ hiểu biết pháp luật với 41,2% số DN ở mức trung bình và 5,9% kém...

Mức thu nhập trung bình của người lao động là 4.144.000 đồng/ người/ tháng. Đa số có mức thu nhập từ trên 3 đến 5 triệu (chiếm 55,5%), dưới 3 triệu chiếm 31,0% và 14% còn lại thu nhập từ 5 triệu trở lên (trong đó có một số lao động cao hơn 9 triệu/người/tháng). Mức thu nhập cao (từ 5 triệu trở lên) thuộc về các ngành: công nghiệp chế biến/ chế tạo, khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, xây dựng, thương nghiệp và vận tải. Trong đó, cao nhất trong nhóm DN sản xuất là ngành sản xuất và phân phối điện và mức cao nhất trong nhóm DN kinh doanh dịch vụ là ngành vận tải và ngân hàng.

Thực trạng lao động khu vực miền Tây.

Lao động là người dân tộc thiểu số: Lực lượng lao động là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ khá lớn (xấp xỉ tỷ lệ lao động là người kinh) nhưng nhìn chung chất lượng rất thấp. Số lao động có trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông cơ sở trở lên chiếm khoảng 20% và số lao động có trình độ chuyên môn từ công nhân kỹ thuật trở lên chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng số lao động trên địa bàn. Lao động chủ yếu là phổ thông, với các công việc thủ công, giản đơn. Năng suất, hiệu quả lao động còn đạt ở mức thấp, trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp còn hạn chế.

Nhu cầu sử dụng lao động, việc làm của các doanh nghiệp trong tỉnh.

Về cung lao động: Hiện nay, với khoảng 1.750,5 nghìn lao động (2015) và dự kiến khoảng 1.881,8 nghìn lao động (2020) trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc, sẵn sàng tham gia lực lượng lao động khi có cơ hội.

Về cầu lao động: Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm gần đây được cải thiện và tốt hơn năm trước. Có gần 1/2 doanh nghiệp giữ nguyên quy mô và hơn 1/3 doanh nghiệp tăng quy mô sản xuất. Doanh nghiệp đạt kết quả sản xuất kinh doanh tương đối khả quan cả về doanh thu và lợi nhuận (trước thuế). Số doanh nghiệp làm ăn có lãi (tăng doanh thu và lợi nhuận) đã phần nào cho thấy sự phục hồi và phát triển của cộng đồng doanh nghiệp(1).

Với tốc độ tăng trưởng GDP được xác định cho giai đoạn 2016 - 2020 thì tổng cầu lao động của nền kinh tế xác định tương ứng đến năm 2020 là 1.901 nghìn người.

2. Giải pháp

Một số giải pháp về hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh

- Hướng nghiệp: Về nhân sự, khuyến khích những giáo viên đã và đang tham gia dạy hướng nghiệp học thêm văn bằng 2 hoặc chứng chỉ nghiệp vụ về hướng nghiệp; Về lâu dài cần xem xét bố trí giáo viên chuyên môn đứng lớp, bởi vì đây là môn học quan trọng không chỉ đối với học sinh các huyện miền núi mà ngay cả với học sinh các huyện đồng bằng cũng vậy; Về chương trình học, tiếp tục hoàn thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp chung cho học sinh phổ thông; Lập hồ sơ hướng nghiệp học sinh ngay từ những năm đầu cấp học THCS; Đa dạng các hình thức tổ chức GDHN;...

- Phân luồng: Phân luồng phải gắn với đào tạo nghề. Công tác hướng nghiệp phải được bắt đầu từ lớp 6. Khẩn trương thực hiện triệt để chủ trương sát nhập trung tâm công lập cấp huyện thành Trung tâm GDNN-GDTX (trước các huyện đồng bằng và thành phố Vinh). Xây dựng chương đào tạo nghề phù hợp với năng lực, trình độ của các em.

Các giải pháp về đào tạo nghề cho học sinh.

Đề tài đặt ra mục tiêu đào tạo những nghề phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như: Dạy nghề truyền thống để phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế tại địa phương; Tập trung giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn bằng nhiều hình khác nhau, đặc biệt là đối với những học viên đã qua đào tạo nghề; Giới thiệu và quản lý chặt chẽ lao động trong các khu công nghiệp; Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động sang các thị trường dễ tính với những nghề đơn giản: Đài Loan, Malayxia, Thái Lan - là những thị trường gần gũi, thân thiện với người Việt, phù hợp với người dân nông thôn; Có kế hoạch phát triển làng nghề hợp lý: Chú trọng phát triển các nghề, làng nghề vốn là thế mạnh của từng vùng, có chính sách rất ưu đãi đối với những người có công truyền bá và phát triển ngành nghề mới ở địa phương;...

Các giải pháp về quản lý:

Xây dựng quy hoạch dài hạn việc đào tạo nghề: Trên cơ sở các quy định của Nhà nước về đào tạo và thực tiễn của miền Tây để xây dựng quy hoạch từ hướng nghiệp đến đào tạo nghề đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất; Công tác phân luồng: Tăng cường công tác phân luồng theo Chỉ thị số 04 CT/TU ngày 25 tháng 4 năm 2016 của Ban thường vụ tỉnh ủy Nghệ An về tăng cường lãnh đạo thực hiện công tác phân luồng hướng nghiệp, giáo dục và đào tạo nghề học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Xã hội hóa công tác dạy nghề: có cơ chế, chính sách tốt sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư trí, tài, lực để phát triển các cơ sở đào tạo nghề rộng khắp, chuyển dần từ mô hình đào tạo đáp ứng về số lượng sang đáp ứng chất lượng và hiệu quả theo nhu cầu của xã hội; Thành lập Trung tâm dự báo và phát triển nguồn nhân lực cấp tỉnh: bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho 1 đơn vị nghiên cứu trên địa bàn tỉnh để làm việc này, đáp ứng được về thông tin dự báo cũng như là phát triển nguồn nhân lực;...

Các giải pháp về tuyên tuyền nhằm nâng cao nhận thức.

Tuyên truyền về tầm quan trọng của GDHN cho học sinh với sự lựa chọn ngành nghề vừa phù hợp với cá nhân, điều kiện gia đình và đáp ứng như cầu lao động của huyện, tỉnh, cả nước; xóa bỏ tâm lý chuộng bằng cấp trong XH ngày nay: ĐH, CĐ không phải là con đường tiến thân duy nhất của học sinh.

Đối tượng tuyên truyền: học sinh, các bậc phụ huynh, các tổ chức xã hội khác, nhà trường.

3. Xây dựng mô hình

Sau khi nghiên cứu, khảo sát thực trạng về tâm lý nghề nghiệp, hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An, trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội đặc thù, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số mô hình hướng nghiệp đào tạo nghề cho học sinh các huyện miền Tây.

+ Mô hình JST

Song song với học văn hóa ở trường trung học, trong cấu phần Giáo dục hướng nghiệp học sinh được tổ chức đào tạo một số kỹ năng nghề nghiệp.

 

+ Mô hình ST

 Hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông miền Tây Nghệ An tốt nghiệp THCS tiếp tục học nghề ngắn hạn (sơ cấp nghề) và tham gia thị trường lao động tại địa phương. 

         

+ Mô hình LT

Hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông miền Tây Nghệ An tốt nghiệp THCS tiếp tục học TC nghề và tham gia thị trường lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất trong, ngoài tỉnh Nghệ An.

+ Mô hình MT:

Các mô hình hướng nghiệp đào tạo nghề cho học sinh trung học đề được thể hiện trong sơ đồ sau:

Kết quả nghiên cứu của đề tài còn chưa phản ánh hết thực trạng cũng như đặc thù tâm lý nghề nghiệp của  giáo dục phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An hiện nay, song với những gì đã đạt được,  hy vọng đề tài sẽ góp phần cung cấp những tư liệu quý về công tác tâm lý giáo dục hướng nghiệp, đào tạo nghề để UBND tỉnh, các sở ban ngành, cơ quan quản lí giáo dục, các trường phổ thông ứng dụng, cải tiến, xây dựng chương trình giáo dục hướng nghiệp đào tạo nghề, điều chỉnh trong các chính sách dạy nghề cho các đối tượng là học sinh các huyện miền núi. Đó cũng là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực, là chìa khóa để phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền Tây bền vững./.

Chú thích:

(1)   Báo cáo nhiệm vụ Thực trạng doanh nghiệp Nghệ An trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế”.   

Trần Thị Lan

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
Nghệ An cần tập trung phát triển chợ đầu mối (20/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển thương mại - dịch vụ Nghệ An đến năm 2020, định hướng 2025 (20/8/2018)
Nghệ An cần làm gì để khoa học - công nghệ thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển mới? (15/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển khoa học và công nghệ Nghệ An đến năm 2030 (15/8/2018)
Các bài văn cúng thông dụng của người xưa (13/8/2018)
Hội thảo Hình thức trình bày Tạp chí theo chuẩn quốc tế (8/8/2018)
Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận và khung phân tích về biến đổi văn hóa, quản lý Nhà nước về văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam (8/8/2018)
Hội thảo phát triển nguồn nhân lực và xây dựng con người văn hoá Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển (6/8/2018)
Hội thảo khoa học “Giải pháp ứng dụng tri thức bản địa của người Thái vào phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An” (10/7/2018)
Hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An (29/6/2018)
Hội thảo khoa học: Phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An (22/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,148 | Tất cả: 1,419,002
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp