NGHIÊN CỨU KHXH&NV
Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An
Tin đăng ngày: 29/11/2016 - Xem: 522
 

Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.  Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ (2006 - 2010) nhấn mạnh.

Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn. Đây là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, được ưu tiên trong toàn bộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội, là chương trình quốc gia trọng điểm.

Upload

Mô hình chanh leo ở Quế Phong mang lại hiệu quả kinh tế cao -  Ảnh: Q.M

Trong những năm qua, tỉnh Nghệ An có nhiều chương trình, dự án nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo, như: Dự án tín dụng ưu đãi hộ nghèo phát triển sản xuất; Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghè; Dự án đào tạo nghề và tập huấn cho cán bộ cơ sở; Triển khai các chương trình khuyến nông - lâm - ngư; Chương trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội; Chương trình thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ.

Mặc dù vậy, đến nay Nghệ An vẫn là một tỉnh nghèo của cả nước với điều kiện cơ sở hạ tầng yếu kém, đời sống nhân dân đang nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao.

Xuất phát từ những lý do trên UBND tỉnh giao sở KH&CN triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi của tỉnh Nghệ An”. Đề tài do TS. Hoàng Phan Hải Yến, giảng viên trường Đại học Vinh làm chủ nhiệm; Cơ quan chủ trì thực hiện: Trường Đại học Vinh.

1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan lý luận và đánh giá thực trạng, nguyên nhân nghèo của các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An, đề tài đề xuất một số giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế góp phần giảm nghèo cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Thực trạng nghèo ở các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An

Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh không có hộ dân thuộc diện đói, tỷ lệ hộ nghèo cũng đã giảm xuống rõ rệt qua các năm. Đầu năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh chiếm 10,28% tổng số hộ dân, số xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 25% đã giảm từ 118 xã năm 2012 xuống còn 89 xã năm 2015. Tuy nhiên 89 xã có hộ nghèo tương ứng với 39.887 hộ nghèo thì đây đang là một con số lớn. Đặc biệt, khu vực miền núi và bãi ngang ven biển có tỷ lệ hộ nghèo cao, nguy cơ tái nghèo lớn.

Trên địa bàn toàn tỉnh đầu năm 2015 có 6/21 huyện có tỉ lệ hộ cận nghèo lớn hơn 15% tập trung ở khu vực miền núi; có 7/21 huyện có tổng số hộ cận nghèo trên 5.000 hộ, cao nhất phải kể đến huyện Thanh Chương (10.826 hộ), Diễn Châu (9.285 hộ), Yên Thành (8.534 hộ), có 4 xã có tỉ lệ hộ cận nghèo trên 50%, đặc biệt có 1 xã tỷ lệ hộ cận nghèo 22,91% nâng tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo lên 100% là xã Bắc Lý (huyện Kỳ Sơn).

2.1.1. Thực trạng nghèo ở các xã bãi ngang ven biển tỉnh Nghệ An

Tổng số hộ nghèo của các huyện ven biển Nghệ An đầu năm 2015 là 10.996 hộ, chiếm 13,5% số hộ nghèo toàn tỉnh; tỉ lệ hộ nghèo là 5,3%, trong khi đó trung bình chung của tỉnh là 10,28%. Số hộ cận nghèo của các huyện ven biển là 20.415 hộ, chiếm 9,9% tổng số hộ các huyện ven biển và 22,59% tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh.

Bảng 2.1. Số lượng và tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của các huyện ven biển Nghệ An  đầu năm 2015

TT

Huyện

Tổng hộ dân cư (hộ)

Số hộ nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

Số hộ cận nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

 

Toàn tỉnh

791.557

81.384

10,28

90.354

11,41

 

Các huyện ven biển

206.176

10.996

5,3

20.415

9,9

1

Thị xã Cửa Lò

11.943

464

3,89

788

6,60

2

Huyện Nghi Lộc

52.256

2.954

5,65

5.009

9,59

3

Huyện Diễn Châu

75.375

4.233

5,62

9.285

12,32

4

Huyện Quỳnh Lưu

66.602

3.345

5,02

5.333

8,01

Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2015

      Trong tổng số 04 huyện, thị nêu trên có 12 xã được liệt vào xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển với tỷ lệ hộ nghèo cao, nguy cơ tái nghèo lớn.

Bảng 2.2. Số lượng và tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của các xã bãi ngang ven biển Nghệ An đầu năm 2015

TT

Huyện

Tổng hộ dân cư (hộ)

Số hộ nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

Số hộ cận nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

 

Các huyện ven biển

206.176

10.996

5,3

20.415

9,9

 

Các xã bãi ngang

21.838

2.008

9,19

2.749

11,35

I

Thị xã Cửa Lò

2.403

153

6,37

309

12,86

1

Phường Nghi Tân

2.403

153

6,37

309

12,86

II

Huyện Diễn Châu

12.092

1.145

9,47

1.658

13,71

1

Xã Diễn Kim

   2.506  

213

8,50

149

5,95

2

Xã Diễn Hải

   1.824  

128

7,02

195

10,69

3

Xã Diễn Hùng

   1.150  

69

6,00

248

21,57

4

Xã Diễn Vạn

   1.603  

197

12,29

317

19,78

5

Xã Diễn Bích

   2.495  

240

9,62

338

13,55

6

Xã Diễn Trung

   2.514  

298

11,85

411

16,35

III

Huyện Nghi Lộc

5.904

618

10,47

374

6,33

1

Xã Nghi Yên

1.947

238

12,22

144

7,40

2

Xã Nghi Tiến

956

83

8,68

47

4,92

3

Xã Nghi Thiết

1.611

172

10,68

110

6,83

4

Xã Nghi Quang

1.390

125

8,99

73

5,25

IV

Huyện QuỳnhLưu

1.439

92

6,39

138

9,59

1

Xã Quỳnh Thọ

1.439

92

6,39

138

9,59

        Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2015

      Để nghiên cứu rõ thực trạng nghèo của các xã nghèo bãi ngang ven biển, nhóm đề tài đã tiến hành điều tra ở 4 xã của 3 huyện thị như sau: xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Lưu); xã: Diễn Bích, Diễn Vạn (Diễn Châu); xã Nghi Tân (thị xã Cửa Lò). Nhóm đề tài đã tiến hành điều tra phỏng vấn các hộ nghèo với tổng số phiếu 480 phiếu về các nội dung phục vụ cho đề tài như: thu nhập và sinh kế của người nghèo, điều kiện sống, nhà ở, y tế, giáo dục, tiếp cận thông tin, trợ giúp xã hội.

2.1.2. Thực trạng nghèo ở các xã miền núi

Tổng số hộ nghèo của các huyện miền núi Nghệ An đến năm 2015 là 57.227 hộ, tỉ lệ hộ nghèo chiếm 20,28% tổng số hộ của các huyện miền núi và chiếm 70,32% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh. Số hộ cận nghèo của các huyện miền núi là 39.921 hộ, chiếm 14,15% tổng số hộ các huyện miền núi và 44,18% tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh.

Bảng 2.3. Số lượng và tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của các huyện miền núi Nghệ An đầu năm 2015

TT

Huyện

Tổng số hộ dân cư (hộ)

Số hộ nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

Số hộ cận nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

 

Toàn tỉnh

791.557

81.384

10,28

90.354

11,41

 

Các huyện miền núi

282.121

57.227

20,28

39.921

14,15

1

Thị xã Thái Hoà

17.198

608

3,54

571

3,32

2

Huyện Thanh Chương

59.527

7.146

12,00

10.862

18,25

3

Huyện Anh Sơn

28.708

3.252

11,33

4.485

15,62

4

Huyện Tân Kỳ

34.898

4.120

11,81

5.752

16,48

5

Huyện Nghĩa Đàn

32.631

3.785

11,60

4.541

13,92

6

Huyện Quỳ Hợp

30.997

5.720

18,45

 4.602

14,85

7

Huyện Quỳ Châu

14.090

5.583

39,62

2.178

15,46

8

Huyện Quế Phong

15.084

5.772

38,27

2.221

14,72

9

Huyện Con Cuông

17.254

5.573

32,30

4.093

23,72

10

Huyện Tương Dương

17.099

7.761

45,39

2.317

13,55

11

Huyện Kỳ Sơn

14.635

7.907

54,03

2.901

19,82

            Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2015

          Trong 11 huyện, thị xã nêu trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu 6 xã điển hình thuộc 5 huyện miền núi có số hộ nghèo và cận nghèo cao, đó xã các xã Đồng Văn (huyện Quế Phong), xã Châu Hoàn (huyện Quỳ Châu), xã Môn Sơn (Con Cuông), xã Lưu Kiền (huyện Tương Dương), xã Na Ngoi và xã Tà Cạ (huyện Kỳ Sơn)

Bảng 2.4. Số lượng và tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của các xã miền núi được điều tra  đầu năm 2015

TT

Huyện

Tổng số hộ dân cư (hộ)

Số hộ nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

Số hộ cận nghèo (hộ)

Tỉ lệ

(%)

 

Toàn tỉnh

791.557

81.384

10,28

90.354

11,41

 

Các huyện miền núi

282.121

57.227

20,28

39.921

14,15

1

Xã Châu Hoàn

517

242

46,81

84

16,25

2

Xã Đồng Văn

716

268

37,43

91

12,71

3

 Xã Môn Sơn

2.143

997

46,52

895

41,76

4

Xã Lưu Kiền

920

473

51,41

78

8,48

5

Xã Tà Cạ

           997

431

43,23

143

14,34

6

Xã Na Ngoi

           838

549

65,51

86

10,26

Tổng

6,131

2,960

48,27

1,377

22,45

Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2015

Như vậy, 6 xã có tỷ lệ hộ nghèo chiếm 48,27% tổng số hộ dân, gấp gần 2,4 lần tỷ lệ hộ nghèo của 11 huyện miền núi, tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 22,45% tổng số hộ dân, gấp gần 1,6 lần tỷ lệ hộ cận nghèo các huyện miền núi. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là xã Na Ngoi chiếm 65,51% tổng số hộ dân, tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất là xã Môn Sơn, chiếm 41,76% tổng số hộ dân. Đây là những xã đặc biệt khó khăn của miền núi Nghệ An.

Đề tài đã điều tra tổng số 720 hộ nghèo của 6 xã nêu trên. Nhóm điều tra đã tiến hành phỏng vấn các hộ nghèo theo các khía cạnh sau: thu nhập và sinh kế của người nghèo, điều kiện sống, nhà ở, y tế, giáo dục, tiếp cận thông tin, trợ giúp xã hội.

2.2. Phân loại năng lực hộ nghèo

2.2.1. Phân loại năng lực hộ nghèo ở các xã bãi ngang ven biển 

Bảng 2.5. Phân loại năng lực hộ nghèo các xã bãi ngang ven biển

Tên xã

Hộ nghèo bất khả kháng

Hộ nghèo tiềm năng hạn chế

Hộ nghèo có tiềm năng

 

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Diễn Vạn

50

41,6

62

51,7

8

6,7

Diễn Bích

66

55,0

49

40,8

5

4,2

Quỳnh Thọ

65

54,2

53

44,2

2

1,6

Nghi Tân

39

32,5

60

50,0

21

17,5

Tổng

220

45,8

224

46,7

36

7,5

Nguồn: Tính toán từ kết quả điều tra của nhóm đề tài năm 2015

Kết quả nghiên cứu đề tài cũng đã phân loại năng lực hộ nghèo các xã bãi ngang ven biển cho thấy hộ nghèo bất khả kháng có tỉ lệ cao, chiếm 45,8%, đây là những hộ nghèo đã quá tuổi lao động, các hộ chỉ còn 1 hoặc 2 đến 3 người đều già cả, hoặc có cháu nhưng còn nhỏ, hoặc người đang độ tuổi lao động nhưng ốm đau nặng, mắc bệnh hiểm nghèo. Hộ nghèo năng lực hạn chế chiếm tới 46,7%, là những hộ nghèo có 1 đến 2 người có sức lao động, nhưng gia đình lại đông người, có trình độ văn hóa nhưng không có kiến thức làm ăn, không mạnh dạn vay vốn, không chịu khó, thiếu đất, thiếu vốn, không có việc làm. Hộ nghèo có năng lực chiếm tỉ lệ thấp, chỉ 7,5%, trừ Nghi Tân có tỉ lệ cao vượt hơn, đây là những hộ có sức lao động, có kiến thức, mong muốn thoát nghèo nhưng thiếu đất, thiếu vốn...

2.2.2. Phân loại năng lực hộ nghèo ở các xã miền núi

Bảng 2.6. Phân loại năng lực hộ nghèo ở các xã miền núi năm 2015

Tên xã

Hộ nghèo bất khả kháng

Hộ nghèo tiềm năng hạn chế

Hộ nghèo có tiềm năng

 

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (hộ)

Tỉ lệ (%)

Đồng Văn

14

11,7

69

57,5

37

30,8

Châu Hoàn

25

20,8

76

63,3

19

15,8

Môn Sơn

16

13,3

47

39,2

57

47,5

Lưu Kiền

23

19,2

42

35,0

55

45,8

Na Ngoi

27

22,5

65

54,2

28

23,3

Tà Cạ

19

15,8

81

67,5

20

16,7

Tổng

124

17,2

380

52,8

216

30,0

Nguồn: Tính toán từ kết quả điều tra của nhóm đề tài năm 2015

Qua số liệu điều tra, số hộ nghèo có tiềm năng hạn chế của các xã miền núi chiếm tỉ lệ cao nhất, 380 hộ, chiếm 52,8% tổng số hộ điều tra. Những hộ tiềm năng hạn chế đều có sức lao động nhưng trình độ văn hóa thấp, lười biếng, ỷ lại, năng lực hạn chế,... nên tư tưởng không muốn thoát nghèo. Những hộ nghèo này chiếm số lượng lớn ở các xã vùng cao như Tà Cạ và Châu Hoàn, chiếm số lượng lớn là dân tộc Thái và Khơ Mú. Số hộ nghèo có tiềm năng chiếm 30% tổng số hộ điều tra, chủ yếu do thiếu vốn, đất đai sản xuất và trình độ sản xuất còn hạn chế. Nguyện vọng của các hộ nghèo có tiềm năng đều mong muốn có đất và có vốn để sản xuất.

2.3. Nguyên nhân nghèo

2.3.1. Nguyên nhân nghèo của các xã bãi ngang ven biển

Qua điều tra nhóm đề tài đã tổng hợp có 11 nguyên nhân dẫn đến nghèo  thì nguyên nhân lớn nhất là các hộ thiếu vốn sản xuất; các mô hình phát triển sản xuất và các chương trình giảm nghèo đều được ưu tiên cho miền núi. Các hộ nghèo được vay vốn trong thời gian ngắn, tối đa chỉ được 3 năm, với vốn vay rất hạn chế; rất nhiều hộ nghèo sử dụng vốn vay sai mục đích và thực sự chưa có hiệu quả; nhiều nguồn vốn vay hỗ trợ vào sản xuất nhưng do thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan đã dẫn đến mất mùa, chưa thu được sản phẩm và vốn mất, người nghèo vùng bãi ngang lại mất khả năng hoàn trả vốn và nghèo khó lại đến với họ.

Nguyên nhân nghèo tiếp theo là do thiếu lao động, có tới 134 hộ, chiếm 16% tổng số hộ được điều tra; số nhân khẩu ở trong hộ thường là người già, ốm đau bệnh tật cần được nuôi dưỡng suốt đời. Số hộ nghèo thiếu đất canh tác cũng chiếm tỷ lệ cao ở các xã bãi ngang ven biển. Ngoài ba nguyên nhân chính nêu trên, số hộ đông người ăn theo cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ, số hộ không biết cách làm ăn, không có tay nghề, hay thiếu phương tiện sản xuất có sự phân hóa rất lớn giữa các xã. Tình trạng chây lười lao động cũng diễn ra khá phổ biến trong hộ nghèo; hộ nghèo các xã bãi ngang mong muốn thoát nghèo nhưng lại thiếu ý chí vươn lên, nên cứ trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng, chịu khổ nhưng không chịu khó dầm mưa dãi nắng, đi sớm về muộn, muốn đi làm thuê hơn là tự mình tạo ra việc làm, không mạnh dạn vay vốn, sợ thất bại. Từ đó khó vận động người dân tham gia các Hội, nhân rộng mô hình kinh tế.

          Nguồn vốn thực hiện các chính sách đầu tư quy trình thủ tục còn bất cập, qua nhiều khâu trung gian, chưa trực tiếp thẳng với người nghèo, chính sách hỗ trợ cho người nghèo nhiều loại, nhiều nhóm khác nhau dẫn đến dàn trải nguồn vốn, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân về chính sách cho người nghèo, nên hiệu quả xã hội chưa cao.

          Việc thu hút vốn đầu tư hạn chế, ít doanh nghiệp, nhà máy sản suất, sơ chế sản phẩm nông nghiệp có mặt ở các xã ven biển, do nhiều nguyên nhân như thị trường, suy thoái kinh tế chung, điều kiện địa phương chưa thuận lợi, nên vẫn sản xuất cơ bản là theo truyền thống.

Công tác đào tạo nghề cho người nghèo chưa gắn với thực tế và nhu cầu, nên số lao động qua đào tạo có việc làm thấp. Cơ sở vật chất đào tạo nghề còn thiếu nên tính hấp dẫn không cao. Mặt khác sự phối hợp giữa các trường nghề với các ban, ngành cấp huyện và xã chưa được thường xuyên, dẫn đến bị động.

2.3.2. Nguyên nhân nghèo ở các xã miền núi

          Trong số các nguyên nhân nghèo, chiếm số lượng lớn nhất là các hộ thiếu đất sản xuất. Theo số liệu điều tra, có tới 233 hộ thiếu đất sản xuất, chiếm 18,1% tổng số hộ điều tra. Mặc dù ở miền núi, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ không nhiều, đặc biệt là các khu tái định cư do xây dựng thủy điện.

          Nguyên nhân nghèo tiếp theo là các hộ thiếu vốn sản xuất. Phần lớn các hộ nghèo đều được hỗ trợ vay vốn ưu đãi, tuy nhiên với nguồn vốn ít (tối đa chỉ được 30 triệu), thời gian vay ngắn (từ 1, đến 3 năm), các hộ không đủ để tái đầu tư sản xuất. Một số hộ vay vốn về để sửa nhà và dùng vào những việc khác,  không tái đầu tư sản xuất. Nhiều hộ vay vốn đầu tư sản xuất, tuy nhiên chăn nuôi chưa đủ thời gian để tạo tích lũy đã đến hạn trả. Một số hộ vay vốn, nhưng không biết sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả.

Hộ nghèo thiếu kiến thức, thiếu chuyên môn kỹ thuật nên việc tiếp cận khoa học, kỹ thuật trong đời sống sản xuất cũng hạn chế, năng suất lao động thấp.

 Số hộ nghèo đông con, đông người ăn theo, thiếu việc làm. Còn có một bộ phận người trong hộ gia đình lười lao động, mắc các tệ nạn xã hội như nghiện ma tuý, nghiện rượu, cờ bạc. Một bộ phận hộ nghèo do có người đau yếu dài ngày.....

Các hộ nghèo đang còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nguồn hỗ trợ của Nhà nước. Các chính sách XĐGN lại đang tập trung vào hỗ trợ theo nhu cầu của người nghèo. Có nghĩa là thấy hộ nghèo thiếu gì thì cấp như: lợn, gà, vịt, trâu, bò, giống lúa, ngô...

Về điều kiện khách quan: Các xã miền núi Nghệ An địa hình phức tạp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít, canh tác khó khăn, tưới tiêu không chủ động. Đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, quen với tập quán sản xuất tự cung tự cấp, trình độ dân trí còn hạn chế.

Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng đã có nhiều bước phát triển, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân.

Nguồn lực đầu tư của nhà nước còn hạn chế, một số chính sách hỗ trợ trực tiếp không khuyến khích được sự nỗ lực vươn lên của người nghèo.

          Trong thời gian qua, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách để hỗ trợ người nghèo. Những chính sách đã có của tỉnh phần lớn chỉ tập trung vào để giải quyết  những vấn đề bức xúc mang tính tức thì của cuộc sống đặt ra, như hỗ trợ đời sống, hỗ trợ nhỏ lẻ sản xuất cho người nghèo, vùng nghèo... Chưa tập trung đầu tư mang tính chiến lược hàng hóa cơ bản cho từng huyện, từng vùng; chưa kéo được nhiều doanh nghiệp mạnh vào trong vùng để làm trung tâm liên kết sản xuất, tiêu thụ hàng hóa cho người nông dân như mía đường, chè, bò sữa... Số doanh nghiệp đầu tư trong sản xuất chế biến nông sản có quy mô lớn ở miền Tây rất ít và số này cũng chỉ mới xuất hiện ở vùng trung du, núi thấp, còn vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số thì gần như chưa có doanh nghiệp nào.

3. Các giải pháp góp phần giảm nghèo bền vững

3.1. Các giải pháp chung

3.1.1. Giải pháp về cơ chế, chính sách

  1. Liên kết các chính sách thành hai nhóm chính sách, giảm chính sách cho không, tăng chính sách có điều kiện.
  2. Phân bổ lại ngân sách dành cho giảm nghèo cần hợp lý hơn và phân theo lãnh thổ (vùng).
  3. Đầu tư tập trung và cuốn chiếu.
  4. Tiên hành rà soát, phân loại hộ nghèo theo năng lực.

3.1.2. Giải pháp xã hội hóa

  1. Nâng cao nhận thức cho hộ nghèo kịp thời theo cách tiếp cận mới.
  2. Vận động dòng họ giúp đỡ hộ nghèo trong dòng họ.
  3. Vận động doanh nghiệp.
  4. Vận động Đoàn TN, cán bộ xã, các đoàn thể như phụ nữ, CCB… và cộng đồng giúp đỡ hộ nghèo.

3.1.3. Giải pháp kinh tế

  1. Các mô hình kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu:

Nghệ An có vùng trung du miền núi rộng lớn đã chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu như đất lở, đất trượt, lũ ống, lũ quét, gió phơn khô nóng, giá rét… những hiện tượng này ngày càng cực đoan làm ảnh hưởng lớn đến các mô hình kinh tế giảm nghèo đang và sẽ triển khai, do vậy các mô hình đưa ra cần thích ứng với biến đổi khí hậu vùng trung du miền núi.

Vùng ven biển cũng đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như xâm nhập mặn, làm giảm diện tích đất canh tác vốn đã thiếu lại càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo, do vậy các mô hình đưa ra cần thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ven biển.

  1. Các mô hình kinh tế phát huy lợi thế đặc thù của địa phương:

Lợi thế đặc thù của địa phương là những lợi thế về tự nhiên, truyền thống văn hóa bản địa, các sản phẩm đặc trưng… có nhu cầu trên thị trường.

Mỗi vùng miền của Nghệ An đều có những đặc thù địa phương riêng, cho nên cần tận dụng lợi thế này ở các mô hình kinh tế.

3.1.4. Phải xác định lại công tác giảm nghèo không chỉ của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh mà phải từ bản thân các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Giảm sự trông chờ, ỷ lại, sức ỳ lớn trong bản thân hộ nghèo, hộ cận nghèo.

3.1.5. Áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và phát triển kinh tế gắn với khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa bàn, từng vùng

3.1.6. Thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội

      Thu hút doanh nghiệp đầu tư, sử dụng lao động địa phương tại các xã nghèo. Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo vốn làm ăn kinh doanh ổn định, lâu dài.

3.1.7. Dạy nghề gắn với giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho người lao động

3.2. Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các xã nghèo bãi ngang ven biển

3.2.1. Giải pháp tổ chức thực hiện

- Triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách của trung ương và địa phương.

- Đa dạng hóa về hình thức và nội dung tuyên truyền bằng các gương sáng thoát nghèo, phát huy lòng tự trọng, tính tự ái, tính chịu khó của các hộ nghèo để họ tự nguyện đăng ký thoát nghèo bền vững.

- Thường xuyên kiểm tra, theo dõi gần gũi với các hộ nghèo để nắm bắt nhanh chóng tâm tư nguyện vọng, mong muốn của họ.

3.2.2. Giải pháp về vốn

Hiện nay nguồn vốn dành cho các xã nghèo bãi ngang ven biển so với các vùng khác hạn chế hơn, vì vậy cần lưu ý đầu tư cho các xã này nhiều hơn nữa, đặc biệt là các dự án kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ven biển và kinh tế phát huy lợi thế đặc thù vùng ven biển là những dự án cần nguồn vốn lớn.

 3.2.3. Giải pháp liên kết, lồng ghép

Các xã nghèo bãi ngang ven biển có mật độ dân cư đông đúc, các điểm dân cư dày hơn các xã miền núi, lại nằm xen kẽ với các xã, thị trấn giàu có, khá giả nên có cơ hội để liên kết về mặt lãnh thổ, hỗ trợ cho nhau hơn các nơi khác, bên cạnh đó cũng thuận lợi cho việc các xã nghèo lồng ghép về các dự án kinh tế từ các với các xã, thị trấn giàu có, khá giả. Tóm lại là liên kết vùng, lồng ghép ngành với các xã, thị trấn giàu có, khá giả là giải pháp ưu thế của các xã nghèo bãi ngang ven biển.

3.3. Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các xã miền núi

3.3.1. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực

- Nâng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn lao động cho người dân miền núi.

- Học tập kinh nghiệm từ các điển hình phát triển kinh tế thoát nghèo của các hộ và từ các mô hình kinh tế trong cộng đồng. Đây là kênh chuyển giao tốt nhất kinh nghiệm giữa người dân đến người dân, bởi một lẽ rất thông thường học tập lẫn nhau nên rất có hiệu quả và có sức lan tỏa nhanh.

- Cần phải triển khai các dự án thí điểm nhỏ, mở các lớp tập huấn đào tạo, vừa học vừa làm, học trong khi làm, tham quan mô hình từ các nơi khác có điều kiện tự nhiên và dân cư tương tự…

3.3.2. Nhóm giải pháp phát triển sản xuất

- Thay đổi cách thức hỗ trợ các hộ nghèo, tránh việc chia đều ngân sách hỗ trợ, làm cho nguồn vốn hỗ trợ cho người nghèo manh mún rất khó đầu tư cho sản xuất.

- Vai trò của trưởng bản rất quan trọng trong công cuộc giảm nghèo. Vì vậy, cần lựa chọn và đào tạo những trưởng bản thực sự là những điểm sáng điển hình trong phát triển kinh tế của bản.

- Xây dựng các cơ sở chế biến, kết hợp với các vùng sản xuất tập trung. Cần tạo ra chuỗi giá trị hàng hóa nông sản có sự liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân. Đây là giải pháp thiết thực, giúp giảm nghèo bền vững, cũng như khai thác được những thế mạnh, lợi thế của vùng miền núi Nghệ An.

- Đa dạng hóa sinh kế để thoát nghèo của các hộ gia đình miền núi Nghệ An. Đa dạng hóa sinh kế hộ gia đình nhằm hướng tới giải quyết mục tiêu kinh tế của hộ trong những điều kiện cụ thể. Tăng cường chuyển giao khoa học kĩ thuật cho hộ nghèo miền núi Nghệ An.

- Tăng vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất. Trong những năm qua, việc phân bổ nguồn vốn giảm nghèo ở miền núi Nghệ An còn coi trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước sạch) mà chưa chú ý thỏa đáng đến đầu tư trực tiếp cho phát triển sản xuất (khai hoang, thủy lợi, khuyến nông, khuyến lâm).

          - Khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất bằng cách khai hoang mở rộng diện tích ở những nơi có điều kiện.

3.3.3. Nhóm giải pháp xã hội

- Rà soát lại hộ nghèo, phân loại theo năng lực hộ nghèo để có những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo theo hướng tăng cường “hỗ trợ có điều kiện” và “hỗ trợ có thu hồi” nhằm thúc đẩy sự chủ động vươn lên của người nghèo. Thực hiện một số chính sách hỗ trợ trực tiếp dưới dạng “dự án hỗ trợ lồng ghép” ở từng xã, từng thôn bản, để đảm bảo phối kết hợp các nguồn lực, làm rõ vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan, giúp chuyển từ cách hỗ trợ theo từng ngành riêng lẻ sang hỗ trợ liên ngành, chuyển từ hỗ trợ một lần sang hỗ trợ theo quá trình nhằm đạt được hiệu quả bền vững.

- Tăng cường năng lực thực hiện các chức năng cộng đồng, kinh tế và xã hội và dịch vụ trợ giúp có lợi cho người nghèo và các nhóm yếu thế, nhằm thúc đẩy năng lực tham gia và trao quyền, tạo nền tảng cho tiến trình giảm nghèo bền vững ở các cộng đồng xã, thôn bản.

Kết quả nghiên cứu đề tài cũng đã đề xuất một số mô hình giảm nghèo bền vững cho các vùng bãi ngang ven biển: Nuôi gà cỏ bằng giun quế; Mô hình chăn nuôi bò nhốt chuồng và các vùng miền núi: Mô hình trồng cỏ VA06 và nuôi bò bán chăn thả; Chăn nuôi gà an toàn sinh học; Trồng bí xanh F1; Mô hình Rừng - Chăn nuôi (lợn rừng/lợn đen/gà thả vườn); Mô hình trồng gừng bền vững; Mô hình: Rừng (khoanh nuôi) - chăn nuôi (trâu, bò) - TTCN; Mô hình trồng Cây rễ hương dưới tán keo; Mô hình trồng Cây chanh leo, mô hình nuôi cá lồng.

Đậu Quang Vinh

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Hội thảo khoa học “Giải pháp ứng dụng tri thức bản địa của người Thái vào phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An” (10/7/2018)
Hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An (29/6/2018)
Hội thảo khoa học: Phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An (22/6/2018)
Thảo luận Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển tỉnh Nghệ An đến 2020 (22/6/2018)
Hồ Sơ thiên di tài liệu Châu bản ra Hà Nội chụp ảnh (21/5/2018)
Phát triển kinh tế tư nhân - Cần một hành lang pháp lý thông suốt cho một xu thế tất yếu trong thời kỳ mới! (17/5/2018)
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư (16/5/2018)
Phương thức đánh giá, đo lường kiến thức và năng lực của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược (16/5/2018)
Phát huy vai trò của trí thức, bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (15/5/2018)
Biến đặc sản thành hàng hóa (27/4/2018)
Phát triển kinh tế tư nhân - Cần một hành lang pháp lý thông suốt cho một xu thế tất yếu trong thời kỳ mới! (18/4/2018)
Một góc nhìn về các doanh nghiệp khởi nghiệp từ thế mạnh địa phương (13/4/2018)
Sản Vật Nghệ An được bảo hộ (1/3/2018)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (24/1/2018)
Đòn bẩy Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và thực trạng phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp vừa và nhỏ tại Nghệ An (31/10/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,629 | Tất cả: 1,299,912
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn