KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ
Tin đăng ngày: 23/12/2021 - Xem: 193
 

NGUYỄN VĂN TOÀN

Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (7-11-1917), nước Nga Xô viết mới thành lập đã nằm giữa vòng vây của các nước đế quốc và chư hầu. Ở trong nước, bọn phản cách mạng được sự hỗ trợ từ bên ngoài đã ngóc đầu dậy. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) đứng đầu là Vladimir Lenin, nước Nga Xô viết đã chiến thắng thù trong giặc ngoài.

Upload

Cách mạng Tháng Mười Nga là mốc son đánh dấu sự thắng lợi lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. (Ảnh tư liệu)

 Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước Nga là một “mỏ vàng” của tư bản phương Tây. Hầu như tất cả các ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và ngay từ năm 1890 tư bản nước ngoài chiếm tới 47% vốn đầu tư ở Nga. Bên cạnh đó, 12 triệu công nhân (số liệu năm 1913), chiếm 10% dân số Nga, là nguồn lao động giá rẻ mạt của tư bản phương Tây.

Bởi vậy, sau Cách mạng Tháng Mười, vào ngày 14-11-1917, Lenin với trọng trách Chủ tịch Hội đồng Dân ủy nước Nga Xô viết đã ký vào bản “Điều lệ về chế độ kiểm soát của công nhân”. Theo đó, công nhân được quyền kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất trên mọi lĩnh vực từ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đến giao thông vận tải và xí nghiệp hợp tác. Ngày 10-1-1918, Đại hội Xô viết toàn Nga lần III đã thông qua “Tuyên ngôn về quyền lợi nhân dân lao động và bị bóc lột”, khẳng định nước Nga Xô viết là một nước xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ giai cấp. Ngày 28-6-1918, Sắc lệnh quốc hữu hoá toàn bộ nền đại công nghiệp được Hội đồng Dân ủy nước Nga Xô viết ban hành. Tới đầu tháng 9-1918 đã có hơn 3000 xí nghiệp công nghiệp được quốc hữu hoá.

Bởi vậy, ngay từ cuối tháng 11-1917, vì lợi ích kinh tế ở nước Nga bị mất đi, các nước phương Tây đã họp nhau tại Paris (Pháp) và quyết định trực tiếp can thiệp và hỗ trợ lực lượng phản cách mạng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Bốn nước Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản giữ vai trò chủ yếu. Trong đó, Pháp sẽ tấn công và lật đổ chính quyền Xô viết ở Ukraina, Krym, Bessarabia; Anh sẽ tấn công và lật đổ chính quyền Xô viết ở phía bắc nước Nga, ở vùng sông Đông, Kuban, Kavkaz; Mỹ và Nhật sẽ tấn công ở vùng Viễn Đông và Siberia. Đến mùa hè năm 1918, nước Nga Xô viết ở trong một tình huống cực kì khó khăn và nguy hiểm. Khoảng 140.000 quân của 14 nước đế quốc và chư hầu (về sau tăng lên tới 300.000 quân) hậu thuẫn cho 1 triệu quân phản cách mạng đã chiếm được khoảng 3/4 lãnh thổ của nước Nga Xô viết.

“Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”[1] - Lenin đã khẳng định. Để nâng cao lực lương cách mạng chống thù trong giặc ngoài, Lenin đã thực hiện một loạt biện pháp.

Đầu tiên, ngày 15-1-1918, Hội đồng Dân ủy do Lenin đứng đầu đã thông qua Sắc lệnh thành lập Hồng quân và Hải quân công nông - một quân đội chính quy kiểu mới đầu tiên của giai cấp vô sản trên thế giới. Lenin nhận định: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”[2]. Bởi vậy, từ 50 vạn (trước mùa hè 1918), đến tháng 9-1919, Hồng quân đã phát triển lực lượng lên 3,5 triệu và đến cuối năm 1920 là 5,3 triệu với đủ các binh chủng Bộ binh, Kỵ binh, Pháo binh, Thiết giáp, Công binh, Không quân. Sau Đại hội các Xô viết toàn Nga (6-1918), chế độ chính ủy trong Hồng quân cũng được thiết lập nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik). Lenin khẳng định: “Chúng ta có một bộ máy quân sự to lớn. Không có các chính ủy chúng ta sẽ không có Hồng quân”[3]. Trong năm 1918, hơn 3.200 đảng viên được điều vào quân đội giữ chức chính ủy. Đến tháng 8-1920, trong Hồng quân có 30 vạn đảng viên, bằng 50% tổng số đảng viên Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) lúc đó. Những biện pháp này đã nhanh chóng tăng cường lực lượng bảo vệ chế độ của nước Nga Xô viết.

Tiếp đó là công tác làm trong sạch Đảng. Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga (Bolshevik)  được đổi tên thành Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) tại Đại hội VII (từ ngày 6 đến ngày 8-3-1918). Lenin cho rằng: “Cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược và những người Menshevik, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là Menshevik”[4]. Menshevik là những người cho rằng giai cấp tư sản sẽ đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc cách mạng ở Nga, giai cấp vô sản chỉ là trợ thủ của giai cấp tư sản còn giai cấp nông dân không có vai trò gì trong cuộc cách mạng. Lenin đã cực lực phản đối quan điểm này. Những người ủng hộ Lenin được gọi là những người Bolshevik. Việc làm này đã nâng cao sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik).

Từ mùa xuân năm 1918, nước Nga Xô viết đã bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”. Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, về nông nghiệp, 30 nghìn địa chủ chiếm 70 triệu đề-xi-a-tin (1 đề-xi-a-tin = 1,09 ha) và bản thân Nga hoàng và gia đình, họ hàng chiếm đến 7 triệu đề-xi-a-tin. Trong khi đó, nông dân Nga chiếm 4/5 dân số nhưng 65% số hộ ở nông thôn là bần nông, không có ruộng đất. Họ bị Nga hoàng và bọn địa chủ bóc lột nặng nề và tàn bạo. Bởi vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, nông dân đã bắt đầu nhận được (không phải trả tiền) hơn 150 triệu ha ruộng đất từ gia đình Nga hoàng và giai cấp địa chủ, được xóa 3 tỷ rúp tiền nợ ngân hàng. Từ đó, trung nông phát triển từ 20% lên đến 60% và ngày càng tin tưởng vào cách mạng. Các tổ chức đảng ở nông thôn đã tăng đến 12 lần. Bọn phản cách mạng do đó dần bị cô lập. Lenin đánh giá: “Đến mùa hạ và mùa thu 1918, Cách mạng Tháng Mười của thành thị mới trở thành Cách mạng Tháng Mười thật sự ở nông thôn”[5].

Bên cạnh đó, vào tháng 3-1919, tại Moscow, Lenin gặp gỡ với các nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa từ khắp nơi trên thế giới và lập ra Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản ngay lập tức kêu gọi nhân dân lao động khắp thế giới đứng lên bảo vệ nước Nga Xô viết.

Hè năm 1919, nhận định tình hình đã cực kỳ nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ, Lenin quyết định thực thi “Chính sách Cộng sản thời chiến”. Nội dung chủ yếu của chính sách này là sự tập trung toàn toàn việc sản xuất và phân phối trong tay Nhà nước nhằm huy động tối đã và sử dụng hợp lý nguồn của cải của đất nước, cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho quân đội, nhân dân thành thị và nông thôn, phục vụ cho cuộc chiến đấu chống thù trong giặc ngoài.

Bởi thế, năm 1919 được đánh giá là một bước ngoặt lớn của nước Nga Xô viết trong cuộc chiến chống thù trong giặc ngoài. Các lực lượng căn bản của quân Bạch vệ bị đánh tan và Hồng quân Xô viết giành lại được những vùng đất quan trọng. Các nước đế quốc và chư hầu cũng đành phải rút dần quân. Đến hết năm 1920, nước Nga Xô viết đã hoàn toàn chiến thắng thù trong giặc ngoài.

Bởi vậy, Lenin đã nhận định: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”[6].

Học tập và phát huy kinh nghiệm của nước Nga Xô viết

Trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” viết cho Báo “Sự Thật” (Pravda) của Liên Xô số ra ngày 1-11-1967 nhân kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại… là vô cùng sâu sắc”[7].

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính quyền cách mạng ở Việt Nam lúc đó phải đối phó với muôn vàn khó khăn. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng kéo vào, theo chúng là bọn tay sai thuộc các tổ chức phản động, âm mưu cướp chính quyền mà nhân dân ta đã giành được. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Ngoài ra, trên cả nước còn hơn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, làm tay sai cho Pháp, chống phá cách mạng. Chính quyền cách mạng còn non trẻ; lực lượng vũ trang còn yếu. Nạn đói vẫn chưa khắc phục. Hàng hoá khan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Di sản văn hoá lạc hậu của chế độ cũ rất nặng nề, hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội còn phổ biến. Ngân sách Nhà nước trống rỗng... Tình thế này đối với Nhà nước cách mạng non trẻ của ta và nền độc lập mới giành lại của của nước ta được ví như “nghìn cân treo đầu sợi tóc”.

Để giải quyết tình thế trên, Đảng và Nhà nước ta đã dựa vào dân và khơi dậy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm và tổ chức tổng tuyển cử càng sớm càng tốt. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này đã đúc kết rằng: “Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”[8]. Đặc biệt Đảng ta cũng đã ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (ngày 25-11-1945) để tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đầu tiên là chống giặc đói. Ngày 3-9-1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người cho rằng vấn đề cấp bách đầu tiên trong sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” là “nhân dân đang đói”. Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và mở một cuộc lạc quyên.

Giữa tháng 9-1945, Chính phủ ta đã tổ chức một lễ phát động phong trào cứu đói. Hưởng ứng kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên khắp cả nước, nhân dân ta lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào đang chịu thảm họa của nạn đói. Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc...

Ngày 2-11-1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các làng. Ngày 28-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ngoài Bộ Cứu tế, một số bộ khác cũng có nhiệm vụ cứu tế và tiếp tế.

Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri quy định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng. Bên cạnh đó, ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất. Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới.

Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Đồng thời với việc đắp đê, chính quyền và nhân dân tất cả các địa phương ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất là hoa màu ngắn ngày.

Nhờ đó, chỉ trong năm tháng từ tháng 11-1945 đến tháng 5-1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là hoa màu, đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh diễn ra vào ngày 2-9-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.

Sau này, tại Hội nghị sản xuất cứu đói ngày 13-6-1955 sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết kinh nghiệm phòng nạn đói, chống nạn đói: “Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả... Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân.... Nếu cán bộ khéo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng bào cố gắng tǎng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi việc trôi chảy, thuế khoá dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu, vì nước ta là nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp… Tǎng gia sản xuất và tiết kiệm để nâng cao đời sống của nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang vǎn hoá và đề phòng đói, chống đói”[9].

Upload

Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi đã mở ra chân trời mới, thời đại lịch sử mới

Hiện nay, nước ta không những đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới. Lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo (1,4 triệu tấn) là vào năm 1989. Trải qua hơn 30 năm (1989-2021), đến nay, hạt gạo Việt Nam có mặt ở hơn 150 nước/vùng lãnh thổ. Theo số liệu mới nhất, vào năm 2020, 6,15 triệu tấn gạo đã được Việt Nam xuất khẩu và thu về được 3,07 tỷ USD. Bên cạnh đó, rau quả của nước ta xuất khẩu cũng đạt gần 3,35 tỷ USD.

Thứ hai là chống giặc dốt. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ và do đó Người đã đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Sau đó, Nha Bình dân học vụ được thành lập.

Sau đó, ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Chống nạn thất học gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào. Người viết: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”[10].

Với phong trào Bình dân học vụ, trên 2,5 triệu người đã biết đọc, biết viết. Kể từ đó, ngành giáo dục nước ta có những thành tựu đạt được ngày càng khả quan. Những lớp bổ túc văn hóa sau đó đã xóa mù chữ cho 8 triệu người dân trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Năm năm sau, vào năm 1959, tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng trung du miền Bắc đều hoàn thành nhiệm vụ xóa mù chữ cho nhân dân ở độ tuổi 12-50. Kết thúc kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961-1965), các vùng thấp thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc đã xóa xong nạn mù chữ cho nhân dân các dân tộc thiểu số.

Tại miền Nam, đến năm 1975, 30% người dân vẫn mù chữ. Trong Chỉ thị 221 ngày 17-6-1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Trước mắt, phải coi đây (xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa) là nhiệm vụ cấp thiết số một”. Kinh nghiệm thực tiễn xóa mù chữ ở miền Bắc đã trở thành những bài học quý báu, bổ ích cho công cuộc xóa nạn mù chữ ở miền Nam ngay sau ngày giải phóng, đất nước thống nhất. Cuối tháng 2-1978, toàn bộ 21 tỉnh, thành phố ở miền Nam đã cơ bản thanh toán nạn mù chữ.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân đều “được đi học”[11]. Người cũng nhấn mạnh: Chế độ cộng sản là “ai cũng thông thái và có đạo đức”[12].

Hiện nay, trong năm học 2020 - 2021, cả nước có hơn 5 triệu trẻ mầm non, hơn 8,8 triệu học sinh tiểu học, hơn 5,9 triệu học sinh THCS, hơn 2,7 triệu học sinh THPT. Cả nước hiện có 172 trường đại học công lập, 65 trường đại học ngoài công lập, với gần 1,7 triệu sinh viên.

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đăng trên báo Nhân dân điện tử ngày 16-5-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết”.

Thứ ba là chống giặc ngoại xâm. Ngày 4-9-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký sắc lệnh số 04 thành lập “Quỹ Độc lập”. Sắc lệnh nêu rõ: “Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong cả nước một quỹ thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia”. Trong khuôn khổ “Quỹ Độc lập”, Chính phủ đã đề ra chương trình tổ chức “Tuần lễ vàng” từ ngày 17-9-1945 đến ngày 24-9-1945, kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân, nhất là tầng lớp thương nhân trong xã hội. Trong “Tuần lễ vàng” các tầng lớp nhân dân cả nước đã quyên góp được 370kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương.

Ngay trong sáng 23-9-1945, khi giặc Pháp nổ súng xâm lược nước ta, Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đã cấp tốc họp, chủ trương kiên quyết kháng chiến. Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ Trần Văn Giàu đã phát lời kêu gọi tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược.

Ngày 26-9-1945, qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước ta. Ngay ngày hôm đó, Chính phủ đã thành lập các Đoàn quân Nam tiến. Thành phần vào Nam chiến đấu bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt lứa tuổi, có cả thanh niên, sinh viên, học sinh, nhà giáo, nhà văn, công chức, thậm chí có cả các nhà sư, Việt kiều mới về nước. Hải Dương, Quảng Ninh có các cụ thành lập thành một trung đội cũng đăng ký lên đường vào Nam chiến đấu. Bên cạnh đó, Quỹ Nam Bộ kháng chiến cũng ra đời. Nhân dân quyên góp tiền bạc, quần áo, gạo, thuốc men động viên, cổ vũ đồng bào Nam Bộ kháng chiến.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khơi dậy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để chi viện Nam Bộ kháng chiến. Bởi thế, vào ngày 30-9-1945, thực dân Pháp trong thế túng quẫn phải nhờ đại diện của quân Anh xin điều đình với phía ta. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”[13].

Thứ tư, tổ chức cuộc bầu cử Tổng tuyển cử đầu tiên (6-1-1946). Quốc hội khoá I (1946-1960) có đến 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng. Quốc hội khoá I  đã xem xét, ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và nhiều đạo luật khác, đặt nền móng chính trị, pháp lý quan trọng, nhất là trong việc thành lập Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Quốc hội khoá I cũng đã đóng góp to lớn vào công cuộc củng cố nền độc lập, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hoà, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân; khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến trên con đường xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Trên thực tế, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng quản lý đất nước, xã hội bằng nhà nước pháp quyền và Người cũng quan tâm đến việc xây dựng một nhà nước vì dân. Do đó, dưới sự định hướng của Người, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trở thành một nhà nước pháp quyền vì dân. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1951), Người cũng chỉ rõ: “Trước kia Việt Nam ta vẫn có Nhà nước và Chính phủ. Song đó là công cụ của đế quốc và phong kiến để áp bức nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra Chính phủ mới, quân đội, công an, tòa án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân. Nhà nước mới của ta và Nhà nước cũ, tính chất khác nhau... Nhà nước cũ nằm trong tay đế quốc và phong kiến, tính chất nó là đế quốc và phong kiến, là phản động. Nhà nước ta ngày nay là nằm trong tay nhân dân chống đế quốc và phong kiến. Tính chất nó là nhân dân dân chủ chuyên chính”[14].

Nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vào tháng 3-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rõ chế độ dân chủ và Đảng lãnh đạo rất rõ ràng: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”[15].

Nhiệm vụ của chế độ dân chủ và Đảng lãnh đạo theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về bản chất tốt đẹp của chế độ chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[16].

Về Đảng cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bôn-sê-vích và của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam có một đảng mác-xít - lê-nin-nít”[17]. Bởi thế, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh về việc xây dựng Đảng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[18]. Người cũng căn dặn Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Thực hiện đúng lời dạy của Người, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước tiến bước thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính đến năm 2020, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới[19].

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng dựa trên tám đặc trưng và “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là một đặc trưng cơ bản. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” (Báo Nhân dân điện tử, ngày 16-5-2021).

Thứ năm, xây dựng lớn mạnh quân đội nhân dân do Đảng lãnh đạo. Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), từ quân số 8 vạn những ngày đầu kháng chiến, đến cuối năm 1949 bộ đội thường trực đã lên tới 23 vạn. Bên cạnh đó, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã được quan tâm xây dựng. Đúng như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ “cái hạt giống bé nhỏ” là Giải phóng quân ngày nào, đã “nảy nở thành cái rừng to lớn và Vệ Quốc quân”[20]. Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Quân đội ta được xây dựng tiến lên chính quy, hiện đại và xây dựng các Quân chủng Phòng không - Không quân, Hải quân, Binh chủng Đặc công. Đặc biệt, gần cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, các quân đoàn chủ lực (Quân đoàn 1, 2, 3 và 4) được thành lập để nhân sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, thực hiện những trận đánh tiêu diệt lớn, góp phần quyết định thắng lợi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Có được những thắng lợi này này là do Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[21]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhận định: “Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Qua được giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội”[22].

Cuối cùng, mở rộng quan hệ với quốc tế. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”[23]. Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”[24].

Ngày 23-6-1955, trong lời phát biểu khi thăm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhân dân Việt Nam luôn luôn ủng hộ tất cả những cuộc đấu tranh chống xâm lược và bảo vệ hoà bình thế giới… Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình. Chúng tôi tin chắc rằng sự hợp tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới”[25].

Nhờ xây dựng được mối quan hệ hữu nghị với các nước trên tinh thần trên, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ lớn từ cộng đồng quốc tế trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ tháng 5-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế với tổng trị giá 54 triệu rúp từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác để kháng chiến chống Pháp. Còn trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp, thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ nói trên. Còn lại là của Liên Xô, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”[26].

Upload

Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên bang Nga và lãnh đạo các phong trào cánh tả tham dự lễ kỷ niệm 104 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. (Ảnh: TTXVN).

Hiện nay, về đối ngoại của Đảng ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã xác định rõ chủ trương quan hệ đối ngoại của Đảng ta là: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Hiện nay, Đảng ta đã có quan hệ ở các mức độ khác nhau với trên 200 đảng ở 115 nước khắp các châu lục; trong đó có trên 100 Đảng Cộng sản và công nhân. Đồng thời, Đảng ta cũng thường xuyên tham gia các diễn đàn đa phương chính đảng như: Cuộc gặp quốc tế hàng năm của các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới (IMCWP); Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP); Diễn đàn Sao Paulo của các đảng cánh tả (SPF)...

Về đối ngoại nhân dân, hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thêm bạn bớt thù, đoàn kết vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân thế giới, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng với các lực lượng làm công tác đối ngoại nhân dân của cả nước đã có những đóng góp to lớn trong việc huy động nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, phá bao vây, cấm vận và trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần củng cố hoà bình, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một nhân tố tích cực bảo vệ hòa bình và xây dựng tình hữu nghị trên thế giới. Ngày 20-9-1977, nước ta chính thức gia nhập Liên hợp quốc. Đến nay, nước ta có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc và tạo lập khuôn khổ quan hệ ổn định với 30 đối tác chiến lược, toàn diện. Bên cạnh đó, nước ta đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nước ta cũng là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, 2020-2021 và từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào tháng 7-2008, 10-2009, 1-2020, 4-2021.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đánh giá vị thế, uy tín, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”[27].

Huế, ngày 3-11-2021

Chú thích

 [1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 37, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 145

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr. 175-176

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr. 179

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 154

[5] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 37, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva,1977, tr. 37

[6] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 165-166

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 309

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 335

[9] “Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch”, tập 3, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1956,  tr. 185-187

[10] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 36

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 438

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập,  tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011,  tr. 294

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 89

 

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 262

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 83-84

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 438

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,  tr. 585.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002,  tr. 510.

[19] TS Nguyễn Minh Phong - ThS Nguyễn Trần Minh Trí, “Vị thế và cơ đồ của kinh tế Việt Nam”, Báo Nhân Dân điện tử ngày 10-1-2021. https://nhandan.com.vn/nhan-dinh/vi-the-va-co-do-kinh-te-viet-nam-631311/

[20] Hồ Chí Minh, “Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 181

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 435.

[22] “Sự nghiệp tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 2002, tr. 570.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 470

[24] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 311

[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 12

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 1045-1046

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 162

KHXHNV & Đời sống khác:
Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2022: Trên đường trở thành sự kiện của năm (20/5/2022)
Bác Hồ - Niềm tin tất thắng của chúng ta (20/5/2022)
Giỗ tổ Hùng Vương - Ngày hướng về cội nguồn (9/4/2022)
Để học sinh an vui đến trường (30/3/2022)
Nỗi sợ COVID và sự suy kiệt học tập ở học sinh (17/3/2022)
Tình yêu trai gái qua một số bài vè dân gian xứ Nghệ trước cách mạng tháng 8/1945 (14/3/2022)
Suy luận bằng “cuốn phim trí óc” trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT (12/3/2022)
Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An (12/3/2022)
Hội làng Việt xưa và nay - Thêm mấy lời bàn (12/3/2022)
Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17/2/1979-17/2/2022) qua một số hình ảnh tư liệu (17/2/2022)
Xuất đối dị - Đối đối nan (17/2/2022)
Lan man về đạo đức và gia phong (17/2/2022)
Ngày vía Thần tài có từ bao giờ? (9/2/2022)
Phát triển du lịch vùng núi cao miền Tây Nghệ An (8/2/2022)
Nhớ Tết trồng cây của Bác Hồ cách đây 63 năm (7/2/2022)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 243 | Tất cả: 4,023,068
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp