KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chính sách dưỡng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tin đăng ngày: 4/12/2021 - Xem: 82
 

Nguyễn Văn Toàn

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trong chính sách dưỡng dân. Trên Báo Nhân Dân, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Ðức Vượng cũng đã nhận xét: “Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

       Xuất phát từ lòng thương dân

Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là vị vua thứ ba của nhà Trần, trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm (1293-1308). Thời gian ở ngôi vua, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã hai lần lãnh đạo quân dân nhà Trần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông vào năm 1285 và năm 1287. Sau khi sạch bóng quân thù, đất nước trở lại thái bình nhưng đầy rẫy đau thương, mất mát. Do đó, Phật hoàng Trần Nhân Tông rất coi trọng việc đem lại cuộc sống thái bình, an cư lạc nghiệp cho nhân dân. Khi bàn về việc triều chính dân sinh, thấy vua Trần Anh Tông thăng quan tước cho hàng trăm người, Phật hoàng Trần Nhân Tông lúc đó là Thái thượng hoàng tức giận đến mức vất cái danh sách dài dằng dặc ấy ra giữa sân rồng và nói như thét lên bằng tiếng thét xé lòng: “Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?”.

Năm 1293, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã bỏ ngôi vua để xuống tóc tu hành tại hành cung Vũ Lâm, Ninh Bình. Đến năm 1299, khi dời đến Yên Tử (Quảng Ninh), ngự tại am Ngự Dực, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã sáng lập nên Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điều ngự. Người đã quyết chí tu hành với câu nói nổi tiếng “Ta đã trút bỏ ngôi vua như trút bỏ đôi giày rách”. Bởi trong tâm thức Phật hoàng Trần Nhân Tông mọi thứ có lợi cho dân Ngài đều tận lực gắng sức. Hoàn cảnh thúc đẩy vua đi vào cửa Phật chính là dân tộc Đại Việt đã trải qua 3 lần kháng chiến chống Nguyên - Mông, bao nhiêu cảnh chết chóc tang thương đã xảy ra. Với lòng từ bi vốn có, Người không thể không vì nhân dân mà xả thân cứu giúp. Ngồi trên đỉnh Yên Tử hư vô, Phật hoàng Trần Nhân Tông vẫn nhìn về phương Bắc, canh giữ cho sự thái bình của thiên hạ, không để cho lũ giặc phương Bắc quấy nhiễu Đại Việt.

Upload

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử (Quảng Ninh)

Đối với phương Nam, để tiếp tục củng cố và phát huy mối quan hệ hòa hiếu giữa Đại Việt và Champa, năm 1301, Phật hoàng Trần Nhân Tông với cương vị một đại sư đã nhân sứ giả của vua Chămpa sang cống lễ vật đã theo sứ bộ thăm đất nước láng giềng phương Nam này trong 5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1301). Đây là một cuộc viếng thăm ngoại giao đặc biệt, người cầm đầu bề ngoài là một đại sư nhưng thực sự vẫn là một Thái thượng hoàng đầy quyền lực. Chính trong cuộc viếng thăm này, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa cho vua Chế Mân nhằm thắt chặt hơn nữa quan hệ Đại Việt – Chămpa, một quan hệ láng giềng chống họa xâm lược phương Bắc mà trước đó nhà Nguyên - Mông đã ra sức lợi dụng.

Năm 1306, công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chămpa Chế Mân và Chế Mân đã đem hai châu Ô, Lý làm vật dẫn cưới. Năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Lúc đầu, một bộ phận cư dân Chămpa trên đất Ô, Lý như các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không tôn thuận, nhưng nhà Trấn cử một trọng thần là Tham tri chính sự Đoàn Nhữ Hài, người đã đi sứ Champa, về tận nơi phủ dụ, ban hành chính sách bổ dụng người Chămpa làm quan, cấp ruộng đất, tha tô thuế trong 3 năm.

Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã nhìn nhận: “Người thiết kế cuộc hôn nhân ngoại giao này là Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người thực thi là vua Trần Anh Tông và người vì nước chấp thuận làm hoàng hậu một quốc vương láng giềng phương Nam là công chúa Huyền Trân. Sau khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông vẫn tham dự việc nước và để lại một công lao to lớn như vậy”.

Phật hoàng Trần Nhân Tông Trần Nhân Tông nhập cõi Niết bàn vào ngày 16 tháng 12 năm 1308, hưởng dương 51 tuổi, được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng (nay thuộc tỉnh Thái Bình), xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân. “Đại Việt Sử ký Toàn thư” của các sử gia thời Hậu Lê nhận định về Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”.

Ảnh hưởng tư tưởng dưỡng dân của Phật hoàng Trần Nhân Tông, trong bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”, Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải với chức Thượng tướng Thái sư đã cảm khái về chính sách dưỡng dân: “Đoạt sáo Chương Dương độ/ Cầm hồ Hàm Tử Quan/ Thái bình tu trí lực/ Vạn cổ thử giang san” (“Chương Dương cướp giáo/ Hàm Tử bắt thù/ Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu”). Tư tưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cũng là “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước” khi vua Trần Anh Tông (con của Phật hoàng Trần Nhân Tông) đến hỏi về kế sách giữ nước.

Nhưng sau đó, nhà Trần dần suy kiệt. Một phần là do đội ngũ quan lại ngày càng “phình to” và ngày càng tăng cường bóc lột nhân dân. Trần Khánh Dư, viên tướng già từng đi bán than, có công lao đánh giặc giữ nước cũng đã khẳng định về mối quan hệ quan – dân trước vua Trần Anh Tông rằng: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”.

Do đó, từ đời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369) về sau, triều đại nhà Trần bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng. Các vị vua Trần bất tài, hèn kém, chỉ lo ăn chơi, không nghĩ gì đến giang sơn, xã tắc. Như vua Trần Dụ Tông có tật nghiện rượu, mê đàn hát, xa xỉ, làm cung điện nguy nga và tường vách trạm trổ, lãng phí tiền của đất nước và công sức của nhân dân không sao kể xiết.

Bậc làm vua đã như vậy, quý tộc và quan lại cũng không khá hơn. Một bộ phận a dua, xu nịnh, chia bè kéo cánh, tranh giành quyền lợi, chèn ép nhân dân; bộ phận khác chán nản, bạc nhược, chỉ cầu yên phận. Vua quan nhà Trần không lo cho đê điều khiến đê sông Hồng bị vỡ 9 lần, lũ lụt, mất mùa, đói kém diễn ra thường xuyên. Khởi nghĩa nông dân, nô tì bùng phát càng khiến cho xã hội Đại Việt thêm rối loạn.

Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh, sống gần gũi với nhân dân, đại diện cho tiếng nói của xã hội lúc bấy giờ đã cảm thán viết: “Ruộng lúa ngàn dặm đỏ như cháy/ Đồng quê than vãn trông vào đâu/ Lưới chài quan lại còn vơ vét/ Máu thịt nhân dân cạn nữa rồi”.

Xem như nhà Trần thời kỳ đầu nước mạnh cũng do có vua anh minh, xem dân như con như Phật hoàng Trần Nhân Tông nhưng về sau nước yếu cũng là do vua kém, xem dân như cỏ rác như vua Trần Dụ Tông.

Xuất phát từ việc sợ “nước lật thuyền”

Nhìn lại để đánh giá, có thể nhận ra chính sách dưỡng dân của phong kiến Trung Hoa ít khi xuất phát từ lòng thương dân mà phần lớn là sự lo sợ bị nhân dân lật đổ hoặc chỉ mong muốn dưỡng dân để “vỗ béo” người dân để dễ bề bóc lột.

Hữu Nhược (518 TCN-458 TCN), tự Tử Hữu, tôn xưng Hữu Tử, người nước Lỗ thời Xuân Thu (771 TCN-476 TCN). Nước Lỗ (1043 TCN-256 TCN) lúc này là chư hầu của nhà Chu nhưng cũng là dòng dõi của Chu công Cơ Đán.

Chu công Cơ Đán là em trai Chu Vũ vương Cơ Phát (1110 TCN-1043 TCN) - người lật đổ Trụ vương tàn bạo của nhà Thương và lập ra nhà Chu. Sinh thời, Chu Vũ vương Cơ Phát đã nói với Chu công Cơ Đán: “Ta phải nhớ lấy bài học của các triều đại bị diệt vong, muốn an định thiên hạ, chú ý làm tốt việc dân”. Nhà Chu mà Chu Vũ vương Cơ Phát khai nghiệp tồn tại được 867 năm, là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Sau khi Chu Vũ vương Cơ Phát mất, Chu công Cơ Đán giúp đỡ Chu Thành vương Cơ Tụng (1060 TCN-1020 TCN) trong việc cải quản việc nước khiến nhà Chu thịnh trị.  Chu công Cơ Đán cho rằng để nước thịnh trị thì: Mỗi năm một lần thiên tử phải đi tuần thiên hạ nghe ca dao để biết dân tình. Hàng năm các chư hầu phải đến triều bái và nộp cống. Ngược lại thiên tử phải bảo vệ các chư hầu, nếu chư hầu nào tự tiện gây chiến thiên tử sẽ cùng các chư hầu khác đem quân đánh phạt. Nước nào bị mất mùa thiên tử phải giúp lúa.

Năm 1109, Chu công Cơ Đán làm phụ chính được 7 năm, đến lúc này thì Chu Thành vương Cơ Tụng đã khôn lớn nên Chu công Cơ Đán trao lại việc triều chính cho Chu Thành vương Cơ Tụng. Chu ông Cơ Đán được phong ở nước Lỗ nhưng ông ở lại triều đình làm phụ chính cai quản mọi việc. Ông cho con là Cơ Bá Cầm thay mình về nước Lỗ thụ phong, trước khi đi ông dặn dò Cơ Bá Cầm phải rất khiêm nhường và giữ lễ nghĩa trong việc trị quốc. Cơ Bá Cầm sau này trở thành người trị vị đầu tiên của nước Lỗ.

Khổng Tử (551 TCN-479 TCN) là một người rất thích tư tưởng dưỡng dân của Chu công Cơ Đán và thường nói xã hội trong mơ của ông là thời kỳ của Chu công nhiếp chính. Trong “Luận ngữ” đã nhắc đến việc Khổng Tử luôn nằm mộng thấy Chu công và nếu không nằm mộng thấy Chu công nữa thì Khổng Tử cho là mình đã suy rồi.

Là một học trò xuất sắc của Khổng Tử, Hữu Nhược trở thành một trong thất thập nhị hiền (bảy mươi hai người hiền) của Nho giáo. Khi Hữu Nhược qua đời, Lỗ Điệu công Cơ Ninh (467 TCN-437 TCN) từng đến tận nơi viếng, cho thấy danh vọng vô cùng cao của Hữu Nhược ở nước Lỗ.

Thiên “Nhan Uyên” của “Luận ngữ” ghi lại một đoạn đối đáp giữa Hữu Nhược và Lỗ Ai công Cơ Tương (494 TCN-468TCN):

Ai Công vấn ư Hữu Nhược viết: “Niên cơ, dụng bất túc, như chi hà?”

Hữu Nhược đối viết: “Hạp triệt hồ?”

Viết: “Nhị, ngô do bất túc, như chi hà kỳ triệt dã?”

Đối viết: “Bách tính túc, quân thục dữ bất túc? Bách tính bất túc, quân thục dữ túc?”

Dịch nghĩa:

Ai công hỏi Hữu Nhược: “Năm nay mất mùa, không đủ chi dùng, phải làm sao?”

Hữu Nhược nói: “Sao ta không thu thuế theo phép triệt (mười phần thu một)?”

Ai công bảo: “Mười phần thu hai phần mà còn không đủ chi dùng, huống hồ lại thu theo phép triệt?”.

Hữu Nhược đáp: “Trăm họ no đủ thì làm sao vua thiếu được? Trăm họ thiếu thốn thì vua làm sao đủ được?”

Sau này, Trung Quốc có câu: “Dân dĩ thực vi thiên” có nghĩa là “Dân lấy ăn làm trời” (nghĩa hẹp) và “Dân lấy miếng ăn làm trọng, nên muốn trị dân trước hết phải làm cho dân no ấm vì dân đói thì nước loạn” (nghĩa rộng).

Trong lịch sử Trung Quốc, cứ mỗi lần mất mùa và triều đình tăng thuế là sẽ có khởi nghĩa. Chẳng hạn, cuối thời Đông Hán (23-220), triều chính mục nát, khắp nơi đều có tham quan ô lại, thêm vào đó thiên tai lụt lội, hạn hán triều miên. Hán Linh Đế Lưu Hoành (156-189) buông lỏng kỷ cương, không dùng người tài. Nghe theo lời khuyên của các hoạn quan Trương Nhượng và Triệu Trung, Hán Linh Đế Lưu Hoành tăng thuế khóa thêm 10 đồng trên mỗi mẫu ruộng khiến nhân dân phải đóng góp thêm nặng nề, nhằm có thêm tiền xây cất cung điện. Trong hoàn cảnh đó, nhân dân bị bóc lột nặng nề vì sưu cao thuế nặng đã vùng dậy phản kháng theo sự kêu gọi của anh em Trương Giác. Đó chính là khởi nghĩa Khăn Vàng nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Thời nhà Tùy, Tùy Dượng đế Dương Quảng (569-618) sống rất xa xỉ và có thói quen thường đi tuần du. Trong 14 năm ở ngôi vua thì có đến hơn 10 năm là đi tuần thú du ngoạn khắp nơi. Mỗi lần tuần du như vậy đều dùng nghi lễ cung đình, hành cung dịch trạm xây dựng khắp cả nước để riêng cho ông ta ở không biết bao nhiêu mà kể. Mỗi lần tuần du đến đâu, nếu thấy quan lại địa phương ở đó tiếp đón không bằng nghi lễ trong cung thì ông ta lập tức ghét bỏ, bãi chức. Do đó, các quan đều đua nhau chuẩn bị tốn kém khi nghe vua đến và mọi gánh nặng đều đổ lên vai người dân. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bạo loạn cuối đời Tùy. Về việc này, Ngụy Trưng nhận xét trước mặt Đường Thái Tông Lý Thế Dân (599-649) rằng: “Dương Quảng tuần du, yêu cầu quan quận huyện dâng thức ăn, lấy sự thịnh soạn làm tiêu chuẩn thưởng phạt, kết quả thiên hạ đại loạn”.

Bởi vậy, Đường Thái Tông Lý Thế Dân rút ra kết luận: “Chu sở dĩ bỉ nhân quân, thủy sở dĩ bỉ lê thứ. Thủy năng tái chu, diệc năng phúc chu”. Nghĩa là, thuyền ví như vua, nước ví như dân, nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền. Chính nhờ nhận thức được như vậy nên Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho dân như thi hành chế độ quân điền, giảm bớt lao dịch, hạn chế lãng phí, giảm nhẹ hình phạt, chọn quan lại thanh liêm, phát triển chế độ khoa cử… Do đó chỉ mấy năm sau kinh tế được khôi phục và phát triển, chính trị ổn định. Lịch sử Trung Quốc gọi là “nền thịnh trị thời Trinh Quán”.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1328-1398) khi chiến thắng triều Nguyên - Mông Cổ, lập ra nhà Minh thì lại nói rằng: “Thiên hạ mới định, tài lực trăm họ còn khó khăn, giống như con chim mới tập bay, không thể nhổ lông nó, như cây mới trồng không thể lay gốc nó mà phải nâng niu nuôi dưỡng”. Đó chẳng phải Chu Nguyên Chương muốn “vỗ béo” nhân dân trước khi “làm thịt” nó hay sao? Đó là điểm khác, rất khác của Phật hoàng Trần Nhân Tông so với Chu Nguyên Chương và nhiều vị vua khác của phong kiến Trung Hoa.

Thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định không có “ông quan cách mạng”, chỉ có cán bộ cách mạng là “đầy tớ của nhân dân”.

Upload

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc chăm lo đời sống cho nhân dân để người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành

Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói đến những lý luận cao xa về chủ nghĩa xã hội, mà Người nói một cách giản dị, dễ hiểu: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc thì chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc”, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, người già không lao động được thì được nghỉ ngơi...”.

Khi được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch nước, Người khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”. Bởi Người khẳng định: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân thì ta hết sức tránh”. Cho nên: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong bản Di chúc thiêng liêng của mình gửi lại cho những thế hệ sau, Bác viết: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bốc lột, lại phải kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Upload

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Sở Nông Lâm Hà Nội và sử dụng thử chiếc máy cấy tại ruộng thí nghiệm của sở (7.1960)

Trong mối quan hệ giữa cán bộ và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”, “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được... Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn căn dặn: “Cán bộ, đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai... phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo”. Về cách học tập của người cán bộ cách mạng, trong mục “học ở đâu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Luận điểm về con người của Hồ Chí Minh là luận điểm về các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động, tin ở dân, dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân, phát huy năng lực của dân. Lực lượng cách mạng theo Hồ Chí Minh là lòng dân, có lòng dân là có tất cả, mất lòng dân là mất hết”.

Trên Báo Nhân Dân, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Ðức Vượng cũng đã nhận xét: “Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Huế, ngày 30-12-2020

 

 

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,311 | Tất cả: 3,697,025
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp