KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Nhóm mặt hàng triển vọng của Nghệ An đề xuất sang EU
Tin đăng ngày: 4/12/2021 - Xem: 70
 

Nguyễn Văn Hóa

  1. Sản phẩm xuất khẩu và thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Nghệ An

Giai đoạn 2016 - 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh có sự tăng trưởng qua các năm, từ 847,6 triệu USD năm 2016 lên 1.123 triệu USD vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/năm. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2016 đạt 568,5 triệu USD, đến năm 2020 đạt 813 triệu USD; Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,9%/năm (cao hơn bình quân chung cả nước giai đoạn này là 11,7%).

9 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,16 tỷ USD, tăng 46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa 9 tháng ước đạt 920 triệu USD, tăng 60,6%; tổng thu ngoại tệ từ dịch vụ du lịch và xuất khẩu lao động đạt 240 triệu USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2020.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá trị xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2021 của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đứng ở vị trí thứ 34/64 tỉnh, thành phố của cả nước và đứng ở vị trí thứ 3 trong khu vực Bắc Trung bộ, sau Thanh Hóa, Hà Tĩnh (năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An đứng ở vị trí thứ 35/64 và đứng ở vị trí thứ 4 trong khu vực Bắc Trung bộ, sau Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế).

Chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài do môi trường sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh ngày càng được cải thiện.

Về mặt hàng xuất khẩu: Các doanh nghiệp Nghệ An đã xuất khẩu trên 60 mặt hàng/nhóm mặt hàng, trong đó tổng kim ngạch của các mặt hàng bao gồm: Hàng dệt, may, linh kiện điện thoại, dăm gỗ, hàng thủy sản, hoa quả chế biến và nước hoa quả, hạt phụ gia nhựa, đá các loại, vật liệu xây dựng chiếm đến hơn 90% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh. Tỉ lệ hàng công nghiệp và hàng qua chế biến ngày càng tăng cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu (chiếm đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng 2021).

Về thị trường xuất khẩu hàng hoá tiếp tục được mở rộng: Đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp Nghệ An đã xuất khẩu hàng hoá sang thị trường hơn 150 nước và vùng lãnh thổ. Thống kê 9 tháng năm 2021, kim ngạch một số thị trường chủ yếu gồm: thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc đạt 290 triệu USD, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch, tiếp đến là thị trường Hàn Quốc đạt 130 triệu USD (chiếm 14%), thị trường Hồng Kông đạt 128 triệu USD (chiếm 13%), thị trường Đài Loan đạt 83 triệu USD (chiếm 9%), Hoa Kỳ đạt 78 triệu USD (chiếm 8,5%), Ấn Độ đạt 23 triệu USD (chiếm 2,5%), thị trường các nước châu Âu đạt 27 triệu USD (chiếm 6,2%).

Tuy nhiên, Nghệ An thiếu sản phẩm hàng hóa xuất khẩu chủ lực, còn phụ thuộc vào nguồn hàng ngoại tỉnh hoặc nước ngoài (hạt tiêu, sản phẩm gỗ, hoa quả tươi, bột cá,...). Các sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn của tỉnh chủ yếu vẫn là hàng thô, gia công, lắp ráp, có giá trị gia tăng thấp như hàng dệt may, dăm gỗ, bột đá, linh kiện điện tử,.... Thị trường xuất khẩu hàng hoá Nghệ An còn hạn hẹp, quan hệ bạn hàng thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Asean. Việc khai thác thị trường mới còn nhiều hạn chế.

  1. Nhóm mặt hàng triển vọng của Nghệ An đề xuất sang EU

Ngày 01/8/2020, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực. Đây là một trong những Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới toàn diện, chất lượng cao, kỳ vọng sẽ mang lại nhiều triển vọng lớn trong thúc đẩy thương mại và đầu tư, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế cả nước nói chung cũng như Nghệ An nói riêng.

Kim ngạch xuất khẩu sang EU (27) của các doanh nghiệp Nghệ An còn khá khiêm tốn. Theo thống kê, hiện có khoảng hơn 30 doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU. Kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt hơn 30 triệu USD năm 2020 và đạt 27 triệu USD trong 9 tháng năm 2021, chỉ chiếm 3-4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của tỉnh.

Lợi thế và cơ hội từ Hiệp định thương mại EVFTA là rất lớn vì ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế và sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực. Như vậy, có thể nói gần 100% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn.

Cụ thể các ngành hàng, mặt hàng tiềm năng xuất khẩu sang EU của doanh nghiệp Nghệ An:

2.1. Hàng dệt may

- Cơ hội: EU là thị trường có quy mô lớn nhất về nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may (250 tỷ USD), trong đó bên cạnh thương mại nội khối chiếm 40%, lượng nhập khẩu còn lại đến từ các nước ngoài khối EU, chủ yếu là các nước đang phát triển. Việt Nam mới chiếm thị phần khiêm tốn thị trường EU, khoảng 2% lượng nhập khẩu từ ngoài khối EU.

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện có khoảng 32 doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may và khoảng 40 doanh nghiệp nhập khẩu các nguyên phụ liệu dệt may để gia công hàng xuất khẩu. Hàng dệt may của Nghệ An được xuất đi 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 9 nước thuộc khối EU với kim ngạch rất khiêm tốn, chỉ đạt 16,1 triệu USD năm 2020 và 20 triệu USD trong 9 tháng năm 2021, chiếm hơn 8% tổng kim ngạch hàng dệt may toàn tỉnh.

Với EVFTA, hàng dệt may Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn hàng của Trung Quốc và cạnh tranh ngang bằng về giá với các nước hiện đang được hưởng thuế 0% như Campuchia, Bangladesh,.... nhưng có lợi thế hơn các nước này về tay nghề cao, chất lượng bảo đảm.

Theo cam kết trong EVFTA, hàng dệt may vào EU sẽ được giảm ngay về 0% khoảng 42,5% số dòng thuế, còn lại sẽ giảm dần về 0% trong 5-7 năm. Như vậy hàng dệt may gia công của Nghệ An sẽ có cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng kim ngạch.

- Thách thức: Quy tắc xuất xứ trong EVFTA là quy tắc tương đối chặt “từ vải trở đi”, tức vải nguyên liệu được dùng để may quần áo phải được dệt tại Việt Nam hoặc các nước thành viên EU. Đây là thách thức không nhỏ của ngành do hiện nay ngành vẫn phải chủ yếu dựa vào nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu (từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc) do chưa chủ động nguồn cung trong nước, trong khi các đơn hàng chủ yếu làm gia công và việc sử dụng vải và nguyên liệu theo chỉ định của khách hàng nước ngoài. Điểm tựa lớn để giải bài toán thiếu hụt vải và hưởng ưu đãi là được sử dụng vải nhập khẩu tại Hàn Quốc, Nhật Bản (quốc gia đã có FTA với EU) để cắt may tại Việt Nam. Tuy vậy, tỷ lệ nhập khẩu vải từ các nước này hiện chưa cao, doanh nghiệp đang ưu tiên nhập vải từ Trung Quốc do giá thấp hơn, lại có lợi thế hơn về địa lý và mẫu mã phong phú đa dạng.

2.2. Da giày

- Cơ hội: Ngay khi áp dụng EVFTA, 37% các dòng thuế về da giày sẽ hưởng thuế nhập khẩu về 0% và phần còn lại sẽ giảm dần về 0% theo lộ trình từ 3-7 năm tùy từng mặt hàng cụ thể. Các mặt hàng có mức thuế 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực tập trung vào mặt hàng giày thể thao, giày vải và giày cao su. Đây là các mặt hàng thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam.

Sản phẩm giày dép được sử dụng nguyên liệu không xuất xứ từ bên ngoài Hiệp định, ngoại trừ mũ giày đã gắn với đế lót trong hoặc với bộ phận đế khác. Tiêu chí xuất xứ này được xem là chặt hơn so với một số các FTA khác nhưng không phải là tiêu chí mới đối với ngành da giày, do trước đó doanh nghiệp da giày đã xuất khẩu sang EU với tiêu chí tương tự trong GSP.

Nghệ An hiện có 2 công ty gia công, xuất khẩu giày dép (Viet Glory và Giày Apex Việt Nam), kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt khoảng 4 triệu USD, hàng được xuất đi 10 nước, trong đó mới chỉ 1 nước thuộc EU (Bỉ). Dự kiến trong thời gian tới mặt hàng này sẽ được xuất khẩu đến nhiều hơn các nước thuộc EU như Pháp, Đức, Ý, Hà Lan,...

- Thách thức: Tiêu chuẩn kỹ thuật và rào cản thương mại đối với da giày của thị trường EU là rất cao: Đây là một thách thức không nhỏ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi thâm nhập thị trường EU. Nhiều tiêu chuẩn áp dụng tại EU liên quan đến mức độ an toàn cao cho sức khỏe người tiêu dùng, mức độ thân thiện với môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cách thức ghi nhãn sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa,....

2.3. Mặt hàng rau quả và sản phẩm rau quả chế biến

- Cơ hội: EU là thị trường nhập khẩu rau quả hàng đầu thế giới, trong khi rau quả nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng 0,08% lượng nhập khẩu của EU; do vậy còn nhiều dư địa để tăng trưởng xuất khẩu.

Sản phẩm rau quả chế biến xuất khẩu của Nghệ An ngày càng phong phú với nước hoa quả cô đặc các loại (dứa, chanh leo, gấc, vải, nhãn, cam, xoài...), được xuất khẩu sang 30 nước, trong đó có 8 nước thuộc khối EU, đạt kim ngạch 9,5 triệu USD năm 2020 và 5,8 triệu USD trong 9 tháng năm 2021.

EU cam kết mở cửa rất mạnh cho rau quả Việt Nam trong EVFTA, cụ thể: Xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực 94% trong tổng số 547 dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả. Phần lớn các dòng thuế EU cam kết xóa bỏ ngay hiện đều đang có mức thuế MFN trung bình là trên 10%, cá biệt có những sản phẩm rau quả đang chịu thuế trên 20%. Do đó, mức cam kết này của EU được đánh giá là sẽ tạo ra lợi thế lớn về giá cho rau quả Việt Nam (đặc biệt trong cạnh tranh nhập khẩu vào EU với các nước có thế mạnh về rau quả chưa có FTA với EU như Thái Lan, Trung Quốc,...).

- Thách thức: Công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với các loại rau quả tươi còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển rau quả đi xa và xuất khẩu.

Sản xuất phân tán, tỷ lệ hao hụt lớn, giá thành sản phẩm cao; công nghệ sản xuất, thu hoạch, chế biến bảo quản còn hạn chế nên chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát, dễ bị cảnh báo.

2.4. Thủy sản

- Cơ hội: EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới, hàng năm khu vực này nhập khẩu gần 9,3 triệu tấn với kim ngạch khoảng 50 tỷ EUR các sản phẩm thủy hải sản. Thuế nhập khẩu ưu đãi theo EVFTA đối với cá ngừ tươi sống, đông lạnh hoặc phi-lê, ướp lạnh được cắt giảm ngay (trừ thăn/philê cá ngừ đông lạnh); đối với cá ngừ chế biến đóng hộp (như cá ngừ ngâm dầu đóng hộp, đóng túi, các sản phẩm cá thuộc họ cá ngừ đóng hộp…), EU miễn thuế cho Việt Nam trong mức hạn ngạch 11.500 tấn/năm. 

Đối với ngành hàng thủy sản của Nghệ An, kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 28 triệu USD và 9 tháng năm 2021 đạt 45 triệu USD, thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh chủ yếu là thị trường Trung Quốc, ngoài ra còn một số thị trường như Nhật Bản, Thái Lan, Sri Lanka, Lào,... Hàng thủy sản của Nghệ An chủ yếu là bột cá (làm thức ăn chăn nuôi), chiếm đến 83% kim ngạch hàng thủy sản. Các sản phẩm khác gồm thịt cá ngừ đông lạnh, cá hộp, các loại cá đông lạnh khác (cá nục, cá trích,...). Tuy nhiên, thuế nhập khẩu thủy sản lâu nay tương đối thấp nên thuế quan không phải là vấn đề lớn đối với doanh nghiệp trong ngành khi tham gia EVFTA. Lợi ích lớn nhất mà các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nhận được là thông qua Hiệp định sẽ tạo sự công bằng về các tiêu chuẩn và những vấn đề liên quan như môi trường, chất lượng, trách nhiệm xã hội, người lao động… để doanh nghiệp tiếp tục đáp ứng yêu cầu các thị trường tốt hơn. Hòa nhập với thế giới trong một sân chơi lớn cũng giúp các doanh nghiệp trưởng thành và lớn mạnh hơn, gia tăng được vị thế. Từ đó kỳ vọng trong tương lai hàng thủy sản của các doanh nghiệp trong tỉnh sẽ đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu ra nhiều thị trường lớn hơn như Pháp, Đức,...

- Thách thức: Việc đang bị áp dụng “thẻ vàng” đối với hải sản khai thác của Việt Nam từ năm 2018 đã tác động bất lợi đến hoạt động xuất khẩu. Nếu ta không tiếp tục nỗ lực, quyết liệt triển khai các biện pháp, giải pháp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp và ngư dân trong thời gian tới, kết quả kiểm tra tiếp theo của EC có khả năng sẽ gây bất lợi đến hoạt động xuất khẩu hải sản nói riêng và thủy sản nói chung của ta sang thị trường tiềm năng này, dẫn đến “vô hiệu hóa” các lợi thế có được từ Hiệp định EVFTA.

2.5. Đá các loại

Mặt hàng đá các loại, đặc biệt ngành chế biến đá (bột đá siêu mịn, đá ốp lát) cũng là một ngành mà các doanh nghiệp trong tỉnh có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng khá và thị trường mở rộng thời gian qua. Kim ngạch xuất khẩu đá các loại đạt 83,4 triệu USD năm 2020 và đạt 76,6 triệu USD trong 9 tháng 2021, được xuất khẩu sang hơn 60 quốc gia, trong đó có 11 quốc gia thuộc EU, đạt kim ngạch 2 triệu USD năm 2020 và 2,7 triệu USD trong 9 tháng 2021. Đối với các sản phẩm làm bằng đá: Quy tắc xuất xứ EVFTA lỏng hơn hầu hết các FTA mà Việt Nam là thành viên, khi cho phép chuyển đổi mã HS ở cấp 4 số, hoặc trị giá nguyên liệu được sử dụng không vượt quá 70% giá xuất xưởng của sản phẩm tức là nguyên liệu có thể nhập khẩu từ bất kỳ đâu, trong hay ngoài EVFTA đều được chấp nhận. Như vậy việc tham gia Hiệp định chắc chắn sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng trưởng cao. Kỳ vọng thời gian tới, các mặt hàng này sẽ xuất khẩu nhiều hơn sang các nước như Tây Ban Nha, Ý, Đức, Ba Lan,....

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp là khả năng thích ứng còn kém so với tiêu chuẩn đặt ra. Chẳng hạn như, chúng ta có công nghệ lạc hậu hơn nhiều nước; tổ chức sản xuất, kiểm soát thị trường của ta cũng chưa theo kịp các nước thành viên khác của EVFTA…

2.6. Gỗ và sản phẩm gỗ

- Cơ hội: Mặc dù hiện nay thuế nhập khẩu mặt hàng này thấp, khoảng từ 0-6%, việc xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực vẫn sẽ tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu của ta tiếp cận hơn nữa với thị trường EU.

Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ của Nghệ An đạt khoảng 143 triệu USD năm 2020 và đạt 128 triệu USD trong 9 tháng 2021, được xuất khẩu đi 17 nước, trong đó 5 nước thuộc khối EU (chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ với kim ngạch XK sang EU chỉ đạt 500 nghìn USD năm 2020 và 450 nghìn USD 9 tháng 2021).

Tiêu chí xuất xứ không quá chặt: Đối với gỗ nguyên liệu nói chung và đồ nội thất làm từ gỗ, tiêu chí xuất xứ là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ 4 số hoặc hàm lượng giá trị nguyên liệu không xuất xứ tham gia vào quá trình sản xuất không vượt quá 70%.

Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA/FLEGT) được Việt Nam và EU phê chuẩn, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/6/2019. Với việc thực thi Hiệp định VPA và việc bắt đầu cấp phép FLEGT, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có quyền tiếp cận trực tiếp vào thị trường EU mà không phải trải qua một quá trình kiểm tra tính hợp pháp rườm rà. Đây sẽ được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước không có một hiệp định VPA đầy đủ.

- Thách thức: Người tiêu dùng EU đòi hỏi khắt khe về nguồn gốc gỗ nhằm đảm bảo thực thi các chính sách về môi trường. 100% gỗ xuất khẩu vào EU phải là gỗ hợp pháp. Dù doanh nghiệp dùng gỗ nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu vẫn phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của gỗ. Như vậy, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều công đoạn để đảm bảo truy xuất nguồn gốc gỗ rõ ràng, khiến gia tăng chi phí. Trước mắt, đây là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp gỗ Việt Nam khi phải duy trì thực hiện nghiêm túc VPA/FLEGT.

  1. Các giải pháp tận dụng EVFTA để thúc đẩy xuất khẩu

3.1. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

- Phát triển công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh

Tỉnh cần nghiên cứu, đề xuất Chính phủ để phát triển công nghiệp phụ trợ đủ mạnh, đáp ứng nhu cầu về nguyên phụ liệu để gia tăng hàm lượng nội địa cho hàng hóa xuất khẩu, đảm bảo đáp ứng quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan. Trước mắt, cần thu hút và cấp phép cho các dự án dệt nhuộm, nhất là các dự án có trình độ thiết bị công nghệ tiên tiến và quy trình xử lý nước thải đảm bảo thân thiện môi trường.

- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Nội dung tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đã được Chính phủ đề cập nhiều. Tuy nhiên, đối với thị trường EU với nhiều tiêu chuẩn, chỉ tiêu về an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất, tổ chức hoạt động sản xuất, xuất khẩu cần được đặc biệt chú trọng. Công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với các loại rau quả tươi cũng là vấn đề cần được nghiên cứu, triển khai ứng dụng.

- Tuyên truyền, phổ biến về Hiệp định EVFTA

Cần tập huấn để nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý nhà nước thực thi các quy định và tuyên truyền cho doanh nghiệp, hiệp hội, người dân hiểu rõ các quy định cụ thể về thuế quan, hàng rào kỹ thuật, các cơ hội từ Hiệp định.

- Xúc tiến thương mại và thông tin thị trường

Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại theo hướng tăng cường các hoạt động xây dựng thương hiệu, vốn là yếu tố quan trọng nhất đến thị hiếu của người tiêu dùng EU; Tích cực ứng dụng thương mại điện tử để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU.

Cần thường xuyên nắm thông tin trực tiếp từ hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài để tăng cường công tác thông tin thị trường, kịp thời nắm thông tin về thay đổi chính sách xuất nhập khẩu, rủi ro thị trường.

3.2. Đối với doanh nghiệp

Đầu tư nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm hàng hóa nhằm củng cố tính cạnh tranh của sản phẩm tại thị trường EU. Cần chú trọng vấn đề vệ sinh thực phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn và quy trình quản lý do EU quy định, coi trọng trách nhiệm xã hội, minh bạch hóa thông tin về lao động, môi trường sản xuất.

Chủ động tìm hiểu nội dung của EVFTA đặc biệt là các cam kết liên quan tới thuế quan và quy tắc xuất xứ, chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu để đáp ứng được quy tắc xuất xứ của Hiệp định, chuyển hướng nguồn nhập khẩu sang các nguồn nguyên liệu trong nước hoặc từ các nước thành viên EVFTA.

Doanh nghiệp cần hoàn thiện hệ sinh thái về xúc tiến thương mại trong ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh mảng kinh doanh xuất khẩu trực tuyến nhằm tham gia vào các sàn thương mại điện tử toàn cầu như Alibaba, Amazon, Global Sources… để mở rộng thị trường xuất khẩu và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,223 | Tất cả: 3,696,937
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp