KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Nam Đàn - Định vị thế mạnh để phát triển kinh tế di sản
Tin đăng ngày: 4/12/2021 - Xem: 72
 

Vương Hồng Thái - Hồ Thủy

 Di sản văn hóa không chỉ là tài sản quý giá của các dân tộc, có giá trị trong việc giáo dục tuyên truyền về truyền thống văn hóa, lịch sử mà còn thực sự là lợi thế lớn trong phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm từ các nước phát triển và ngay tại Việt Nam cho thấy, nếu biết kết hợp và hài hòa giữa bảo tồn và khai thác các di sản văn hóa, lịch sử thì luôn luôn tạo ra được lợi thế cho sự phát triển, nhất là phát triển kinh tế xã hội của địa phương, và ngược lại, chính sự phát triển của kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc quảng bá và bảo tồn các giá trị di sản văn hóa.

Nam Đàn là nơi đang lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng đồ sộ, phong phú của Nghệ An. Xét cả về quy mô, tính độc đáo, kho tàng di sản ấy luôn được xếp hàng đầu không chỉ ở phạm vi trong tỉnh mà còn ở cấp độ quốc gia, quốc tế với đa dạng các thể loại: vật thể, phi vật thể, ký ức…

Nằm ở hạ lưu sông Lam, trung tâm của xứ Nghệ, Nam Đàn là huyện có truyền thống anh hùng cách mạng, truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi văn hóa của xứ Nghệ, là nơi còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều bậc danh nhân, hào kiệt của đất nước mà đỉnh cao là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Mỗi di tích, danh thắng ở Nam Đàn đều gắn liền với tên tuổi của các bậc tiền nhân đã có những công lao cống hiến to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 173 di tích, trong đó có 41 di tích được xếp hạng, 3 di tích Quốc gia đặc biệt, 13 di tích cấp Quốc gia và 25 di tích cấp tỉnh. Các di tích lịch sử - văn hoá ngoài giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, cách mạng, khoa học, còn là những công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo kỳ vĩ. Đặc biệt có một số di tích tiêu biểu có giá trị lớn về văn hóa để khai thác phát triển du lịch như: Khu di tích Quốc gia Đặc biệt Kim Liên, Di tích Quốc gia Đặc biệt khu lưu niệm Phan Bội Châu, Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia Đặc biệt đình Hoành Sơn, cụm di tích vua Mai, chùa và đền Đức Sơn, chùa Viên Quang, chùa Đại Tuệ…

Upload

Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên: Khu di tích Kim Liên nằm trên địa bàn các xã Kim Liên, Nam Giang của Nam Đàn, cách thành phố Vinh 15 km theo quốc lộ 49 (nay là quốc lộ 46), là một trong những di tích có giá trị đặc biệt liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hoá kiệt xuất. Nơi đây lưu giữ những di tích, di vật gắn liền với quê hương, gia đình, thời niên thiếu và hai lần Bác về thăm quê. Các cụm di tích thuộc quản lý của Khu tích gồm:

Cụm Di tích làng Hoàng Trù, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời và sống 5 năm tuổi ấu thơ (1890-1895), nơi được đón Người về thăm ngày 9/12/1961 cùng ba hộ láng giềng xung quanh nhà ông bà Ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được phục dựng nhằm tái hiện một phần không gian văn hóa của làng Hoàng Trù thế kỷ XIX gắn với tuổi thơ và gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Cụm di tích Làng Sen, gồm:  Di tích Ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống 5 năm thời niên thiếu (1901-1906), cũng là nơi được đón Người về thăm quê 2 lần vào ngày 16/6/1957 và ngày 9/12/1961; Di tích nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm, ông nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Di tích nhà thờ đại tôn Họ Nguyễn Sinh; Di tích nhà cụ Vương Thúc Quý, thầy dạy học của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Di tích giếng Cốc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ra lấy nước khi ở làng Sen; Di tích lò rèn Cố Điền, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường sang chơi khi còn ở làng Sen; Di tích cây đa, sân vận động làng Sen, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với nhân dân trong 2 lần về thăm quê và 3 hộ láng giềng xung quanh nhà ông Nguyễn Sinh Sắc, cụm di tích phản ánh không gian văn hóa làng Sen của thế kỷ XIX gắn với tuổi thơ và gia đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một số di tích khác: Khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh; Di tích núi Chung, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường lên chơi thời niên thiếu; tại đây đã xây dựng đền Chung Sơn làm nơi thờ tự gia tiên nhà Bác Hồ đã và đang thu hút nhiều du khách thập phương; Đền thờ Tướng quân Nguyễn Đắc Đài (đền Thánh Cả), nơi đây khi còn niên thiếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường cùng cha đến thắp hương tưởng nhớ, tri ân Tướng quân.

Khu Di tích Kim Liên là di tích còn tương đối nguyên gốc bao gồm các di tích bất động sản, tài liệu hiện vật gốc và môi trường cảnh quan di tích. Bình quân mỗi năm Khu di tích Kim Liên đón từ  1,5 đến 2 triệu lượt khách, có những năm đạt hơn hơn 2,5 triệu lượt khách tham quan. Hiện Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Khu di tích Kim Liên. Theo Quy hoạch Khu di tích sẽ được quy hoạch trên tổng diện tích 278,86 ha bao gồm: Cụm di tích Làng Sen, cụm di tích Hoàng Trù, cụm di tích núi Chung và khu mộ bà Hoàng Thị Loan với Dự án Thác 9 tầng. Về nội dung quy hoạch, toàn bộ 278,86 ha trở thành một khu tưởng niệm danh nhân, địa điểm đón tiếp các thế hệ người Việt Nam, người nước ngoài đến thăm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và tìm hiểu những ký ức về thời niên thiếu của Người. Nơi đây còn là khu du lịch lịch sử - văn hóa mang tầm quốc gia và quốc tế; trung tâm văn hóa - lễ hội; không gian trải nghiệm văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê Bắc Trung bộ Việt Nam.

Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Phan Bội Châu: Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu - là nơi tri ân, tưởng niệm và lưu giữ những hình ảnh về thời thơ ấu của chí sỹ Phan Bội Châu. Khu lưu niệm Phan Bội Châu tại Nam Đàn gồm hai điểm: Quê Nội ở làng Đan Nhiệm (nay là xóm 2, xã Xuân Hoà) và quê Ngoại ở làng Sa Nam (nay là khối Phan Bội Châu, thị trấn Nam Đàn). Năm 1993, ngôi nhà tranh của gia đình cụ Phan được chuyển từ quê nội về quê ngoại. Từ đó đến nay, di tích đã được nhiều lần trùng tu tôn tạo và mở rộng khuôn viên.

Hiện nay Khu lưu niệm Phan Bội Châu tại thị trấn Nam Đàn với diện tích hơn 6000 m2, có các hạng mục công trình như: Nhà tưởng niệm, nhà lưu niệm (hai ngôi nhà tranh), nhà trưng bày, tượng đài cụ Phan, nhà điều hành và các công trình phụ trợ.

Hàng năm, tại di tích diễn ra nhiều kì lễ trọng: lễ giỗ, lễ kỉ niệm ngày sinh… thu hút nhiều khách tham quan, các đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước. Đặc biệt, di tích được sự quan tâm đặc biệt của du khách cũng như các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế của Nhật Bản.

Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia đặc biệt đình Hoành Sơn: Đình Hoành Sơn thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn. Đình được xây dựng vào tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23, năm 1763 và đến cuối năm sau thì hoàn thành. Người khởi xướng và chủ sự xây dựng công trình này là Đặng Thạc, cử nhân dưới triều vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) thuộc dòng dõi thế tộc và có uy quyền nhất vùng.

Đình Hoành Sơn được các nhà nghiên cứu, giới chuyên gia về lĩnh vực kiến trúc nghệ thuật đánh giá là ngôi đình tiêu biểu nhất của miền Trung và là một trong những ngôi đình có quy mô lớn và nghệ thuật chạm khắc đẹp nhất cả nước. Đình có tổng diện tích 1.663,3 m2, gồm 2 tòa, trong đó, nghệ thuật chạm khắc tập trung ở Đại đình. Trên các cấu kiện gỗ đều được trang trí dày đặc, kỹ thuật chạm khắc tinh xảo, đề tài phong phú, đa dạng. Ngoài hình tượng “tứ linh” được khắc họa dưới nhiều hình thức khác nhau, còn có nhiều đề tài minh họa các điển cố, điển tích, thể hiện ước mơ của người nông dân Nghệ An nói chung và làng Hoành Sơn nói riêng. Điều đặc biệt là trong khi các đề tài dân dã hầu như không còn ở thế kỷ XVIII, thì tại di tích này, các hình tượng đó vẫn còn phổ biến và thể hiện sinh động như “chèo thuyền”, “đi cấy”, “thưởng trà”, “câu cá”... Ngoài việc chạm khắc, các đề tài trên các cấu kiện gỗ, ở gian giữa của Đại đình, các nghệ nhân xưa còn tô điểm thêm cho không gian thiêng bằng những bức y môn tuyệt đẹp, đậm chất nghệ thuật cùng nhiều bức đại tự cổ bằng chữ Hán ca ngợi đình Hoành Sơn.

 Ngoài giá trị về kiến trúc nghệ thuật thì đình Hoành Sơn còn có giá trị về mặt tâm linh, là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi thờ Thành hoàng làng Lý Nhật Quang, Tứ vị Thánh nương và các vị Chư phật. Tại đình hàng năm diễn ra hai kỳ lễ lớn là Lễ Kỳ phúc vào tháng 2 và Lễ rước thần vào rằm tháng 6, thu hút đông đảo khách thập phương tới tham gia.

 Cụm di tích vua Mai: Khu di tích vua Mai Hắc Đế nằm ở ven sông Lam, thuộc địa phận thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn), cách thành phố Vinh khoảng 22km về phía Tây. Cụm di tích Mai Hắc Đế gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hoan Châu, Diễn Châu, Ái Châu và các nước lân bang do Mai Thúc Loan lãnh đạo từ 713 đến năm 722 chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Vùng đất xây dựng đền thờ vua Mai xưa nguyên có tên là Vệ Sơn, là vùng núi cao, rậm rạp nằm kề một khúc sông Lam, địa thế hiểm trở nên được Mai Thúc Loan chọn làm trung tâm căn cứ cất giữ quân lương của Mai triều và là nơi lui binh một khi Vệ Sơn bị thất thủ. Thành Vạn An dài trên 1000m chạy dọc ven sông Lam là nơi đặt tổng hành dinh cuộc khởi nghĩa.

Khu di tích này có 3 hạng mục là đền vua Mai, mộ vua Mai (cách đền khoảng 3km) và mộ mẹ vua Mai. Trước đây đền vua Mai là một ngôi đền nhỏ, kiến trúc đơn giản. Đến năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được xây dựng khang trang, to đẹp, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái. Lần trùng tu gần đây nhất vào đầu thời Nguyễn. Đền được giữ nguyên kiến trúc theo kiểu chữ “Tam”, hạ điện 5 gian theo kiểu chồng diêm 8 mái, quy mô tương đối lớn, trang trí rồng phượng công phu, các câu đối, đại tự, hương án kiệu rồng được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Đền có diện tích trên 10.000m2.

Từ đền vua Mai, ngược theo tả ngạn sông Lam khoảng 3km về phía Tây là đến khu lăng mộ vua Mai. Lăng mộ vua Mai được xây dựng ngay trên khu đất an táng hài cốt Ngài qua đời năm 723, trong thung lũng núi Đụn rộng vài chục mẫu, ba mặt có núi bao quanh, ngoảnh mặt về hướng Đông, nhìn thẳng ra dòng sông Lam. Khu mộ vua Mai Hắc Đế gồm có mộ, hậu cung, bái đường. Cách khu lăng mộ vua Mai vài ba cây số về phía Bắc, tại núi Giẻ ở làng Ngọc Trừng  xã Nam Thái có lăng mộ mẹ vua Mai, bà tử nạn cách đây hơn 1.300 năm trên đỉnh núi Giẻ.

Chùa Đại Tuệ: Chùa Đại Tuệ tọa lạc trên đỉnh cao nhất của dãy núi Đại Huệ thuộc xã Nam Anh, huyện Nam Đàn. Đây là công trình tín ngưỡng tôn giáo, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, hướng thiện nổi tiếng trong vùng. Chùa nằm ở độ cao hơn 450 m so với mực nước biển trong không gian tĩnh lặng, cảnh vật thơ mộng. Đứng trên đỉnh Thăng Thiên của chùa nhìn xuống ta có thể nhìn thấy dòng Lam giang chảy quanh các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên, Vinh… và Hòn Ngư, Hòn Mắt, Hòn Mê ở biển Đông...

Tương truyền chùa Đại Tuệ có từ thời vua Mai Hắc Đế đánh quân xâm lược nhà Đường. Đến thế kỷ thứ XV, ngôi chùa được vua Hồ Quý Ly xây cất lại để thờ Phật bà Đại Tuệ - Phật Mẫu Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa (nghĩa là Trí tuệ lớn). Đây là vị thần có công phù hộ cho nhà Hồ xây thành đắp lũy trên núi Đại Huệ để chống giặc Minh xâm lược nước ta.

Năm 2011, chùa Đại Tuệ được chính quyền cùng nhân dân trong vùng và các mạnh thường quân góp tiền xây dựng lại. Đây là công trình có quy mô bề thế và kiến trúc đẹp hiếm có. Chùa gồm 20 hạng mục, trong đó có 4 ngôi bảo điện chính, được trải dài từ chân núi lên đến đỉnh núi, bắt đầu là chùa Trình, tiếp theo là chùa Hạ, chùa Trung và trên đỉnh là chùa Thượng. Đặc biệt, trong đó có bảo tháp Đại Tuệ chín tầng với chiều cao 32m thờ thất Phật Thế Tôn và Phật Mẫu Đại Tuệ, Phật Di Lặc. Ngoài ra, chùa còn phụng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và 5 vị vua là: Vua Hùng, vua Mai Hắc Đế, vua Hồ Quý Ly, vua Quang Trung, vua Cảnh Thịnh, những con người gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Ngoài chùa Đại Tuệ, ở Nam Đàn còn có các ngôi chùa cổ kính, linh thiêng và đẹp không kém đó là chùa Viên Quang (Nam Thanh), chùa và đền Đức Sơn (thị trấn), Chùa Lò (Nam Kim),… Là những ngôi chùa mặc dù đã được tôn tạo khang trang nhưng vẫn lưu giữ được những nét cổ xưa, trang nghiêm và thanh tịnh. Ngoài ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng, những ngôi chùa này còn mang đậm những dấu ấn riêng về lịch sử, cảnh quan, kiến trúc... của miền quê xứ Nghệ.

Là địa phương gìn giữ kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc trong dòng chảy văn hóa xứ Nghệ, huyện chú trọng nghiên cứu khai thác, phát triển yếu tố “kinh tế” trong “văn hóa” trong nhiều lĩnh vực. Các loại hình nghệ thuật dân gian, truyền thống được nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục và phát huy giá trị như: Hát ví phường vải, dân ca ví giặm xứ Nghệ, trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống, làng nghề truyền thống, phong tục tập quán...., Trong đó tiêu biểu là các lễ hội như: Lễ hội Làng Sen, lễ hội đền Vua Mai ngày càng được tổ chức có quy mô, bài bản và chất lượng vừa mang tính hiện đại và vừa thể hiện được nét đặc trưng văn hóa truyền thống Nam Đàn, thu hút được nhiều người tham gia đặc biệt du khách trong và ngoài tỉnh cùng tham gia lễ hội.

Nhận thức được những tiềm năng, lợi thế riêng có, Đảng bộ, chính quyền Nam Đàn xác định, địa phương cần tập trung phát triển kinh tế di sản văn hóa theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững. Đây là mục tiêu không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài. Quán triệt mục tiêu và định hướng đó, những năm qua, huyện đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chủ trương của tỉnh và Trung ương, nhất là Quyết định số: 17/QĐ-TTg ngày 04/01/2019, của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng huyện Nam Đàn trở thành huyện nông thôn mới kiễu mẫu theo hướng phát triển văn hoá gắn với du lịch. Trong đó phát triển du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước hành hương về tham quan các di tích.

Ngoài các tuor du lịch văn hóa tâm linh, bước đầu huyện đã hình thành được một số mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, trải nghiệm nông thôn như: mô hình vườn thực nghiệm sinh thái tại Nam Giang, trang trại hoa gắn du lịch, dịch vụ và du lịch homstay tại Kim Liên; mô hình trang trại sinh thái đập Cửa Ông xã Nam Nghĩa...

Với mục tiêu xây dựng Nam Đàn trở thành trung tâm du lịch quốc gia, Nam Đàn đã ban hành Nghị quyết 03-NQ/HU ngày 20/4/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển du lịch Nam Đàn giai đoạn 2016-2020 và rà soát, bổ sung các nội dung của Nghị quyết 07 vào chương trình kế hoạch thực hiện hàng năm. Theo đó, một số công trình hạ tầng du lịch tiếp tục được đầu tư xây dựng như: Tuyến đường từ Quốc lộ 46 đi lên chùa Đại Tuệ; đường từ chùa Đại Tuệ nối với Khu lăng mộ bà Hoàng Thị Loan; các tuyến đường thuộc dự án ngập lũ tỉnh Nghệ An (vùng Năm Nam); hệ thống đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện.

Một số di tích được tu bổ và mở rộng khuôn viên như: Nhà lưu niệm cụ Phan Bội Châu, Đền Vua Mai, Nhà Tả vu Khu lăng mộ Vua Mai, trùng tu đình Đức Nậm kết hợp xây dựng sân khấu để biểu diễn dân ca ví, giặm...

Huyện cũng đang xây dựng các đề án như: Phát triển các tour, tuyến du lịch đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Đề án phát triển hệ thống trang trại sinh thái tổng hợp kết hợp dịch vụ du khách; Đề án đầu tư phát triển công nghiệp sạch, công nghiệp nhẹ có công nghệ tiên tiến gắn với bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch Nam Đàn; Đồ án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Nam Đàn; Quy hoạch Khu Du lịch quốc gia Kim Liên; Phối hợp với các công ty du lịch lữ hành thiết kế và tổ chức khai thác các tuyến du lịch nhằm kết nối các điểm di tích, danh thắng, điểm du lịch trong và ngoài địa bàn huyện; Đa dạng hóa các loại hình du lịch, bên cạnh du lịch truyền thống lịch sử, cách mạng còn phải phát triển thêm các loại hình Du lịch các di tích nghệ thuật, kiến trúc; Du lịch tâm linh + sinh thái; Du lịch văn hóa phi vật thể + ẩm thực + làng nghề;...

Tuy nhiên, việc phát huy tiềm năng, lợi thế về văn hóa, di sản trên địa bàn huyện Nam Đàn còn nhiều vấn đề đặt ra: Chưa thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế và văn hóa, chưa quan tâm gắn phát triển kinh tế với xây dựng và phát triển văn hóa, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Quần thể di tích Nam Đàn trải dài trên diện rộng, nhiều công trình đang bị xuống cấp, hư hỏng nhưng nguồn vốn đầu tư tu bổ vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu;…

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ khai thác tiềm năng, lợi thế về văn hóa, di sản, đưa kinh tế địa phương tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững, thời gian tới, tập trung một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tập trung mọi nguồn lực xây dựng Nam Đàn trở thành huyện kiểu mẫu với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh. Tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động về mô hình và phương thức phát triển đặc sắc của huyện.

Thứ hai, xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành các tiêu chí đặc thù cho Nam Đàn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả nguồn lực Trung ương, nguồn lực địa phương và nguồn lực xã hội hóa.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý, thực hiện quy hoạch bảo đảm sự hài hòa giữa kiến trúc với tự nhiên và đặc thù của xứ Nghệ. Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, hợp lý giữa bảo tồn và phát triển; giữa giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống với đổi mới, sáng tạo; giữa thành thị và nông thôn, phù hợp với tiềm năng, lợi thế và đặc thù riêng có của Nam Đàn.

Thứ tư, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; củng cố vị thế là trung tâm văn hóa lớn và đặc sắc của cả tỉnh. Xây dựng môi trường đậm đà bản sắc văn hóa xứ Nghệ gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, xem đây là lợi thế so sánh lâu dài thúc đẩy các ngành du lịch, dịch vụ phát triển. Gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển du lịch với phát triển văn hóa. Khai thác, phát huy các lễ hội; các loại hình văn hóa truyền thống phục vụ nhân dân và phát triển du lịch. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, dịch vụ.

Tăng cường các hoạt động hợp tác phát triển về văn hóa, giáo dục, đào tạo và hoạt động ngoại giao thông qua các hiệp hội và tổ chức xã hội, hướng đến hợp tác phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa - xã hội. Tranh thủ sự hợp tác trong việc trùng tu, bảo vệ các di tích trên địa bàn. Triển khai các chương trình nghiên cứu về tài nguyên văn hóa, về quan hệ và tác động giữa di sản văn hóa với phát triển du lịch; di sản và lễ hội; các biện pháp chính sách thúc đẩy hợp tác kinh tế, văn hóa, du lịch, thể dục thể thao...

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 4,951 | Tất cả: 3,696,665
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp