KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Quế Phong phát huy giá trị tri thức địa phương thông qua sản phẩm Khoa học và Công nghệ
Tin đăng ngày: 4/12/2021 - Xem: 66
 

Tuấn Kiệt - Bùi Hào

Quế Phong là huyện biên giới vùng cao, nằm phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Là địa phương có quỹ đất lâm nghiệp khá lớn (chiếm 78,86% tổng diện tích tự nhiên), nên có nhiều tiềm năng trong việc phát triển kinh tế rừng, thu hút các dự án đầu tư vào lâm nghiệp, trồng rừng nguyên liệu và dược liệu. Nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Trong những năm gần đây đã có nhiều sự đầu tư nhân lực, vật lực, đặc biệt thành công từ các dự án KH-CN phát triển sản phẩm trên nền tảng tri thức địa phương như trà hoa vàng, gạo Japonica, chanh leo; mú từn, quế quỳ, đẳng sâm, mặc khẻn… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện. Sự thành công trong việc ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất các sản phẩm dựa vào nguồn vốn tri thức địa phương là một hướng đi đúng đắn mà Quế Phong đã lựa chọn và thực hiện.

Upload

  1. Thế mạnh của Quế Phong trong phát triển nông - lâm nghiệp

Quế Phong là huyện vùng núi cao, biên giới, nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách Thành phố Vinh khoảng 180km. Tuy nhiên, so với các huyện miền núi khác thì Quế Phong lại là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp.

Trước hết là về điều kiện tự nhiên: Địa hình đa dạng với 3 dạng địa hình chính đồi núi cao, trung bình và thấp. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau: vùng cao mưa nhiều, độ ẩm lớn, nhiệt độ thấp; Vùng thấp khí hậu ôn hoà hơn. Sự khác biệt lớn nhất giữa 2 vùng là mùa hè nhiệt độ ban ngày vùng thấp thường cao hơn 2-30C và độ ẩm không khí thấp hơn, gây nên thời tiết khô nóng. Đất đai ở Quế Phong cũng khá đa dạng và màu mỡ, có vùng đất đỏ để trồng cây lâu năm, vùng đất mùn thoải hơn để trồng cây ăn quả và vùng đất ruộng trồng lương thực, lúa nước. Nhờ hệ thống sông suối khá dày, thảm thực vật rừng được bảo vệ phục hồi nhanh nên nguồn sinh thuỷ được duy trì, đảm bảo có đủ nước ổn định phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân. Hệ thống sông suối có lưu vực lớn, nằm ở địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh nên có tiềm năng phát triển thuỷ điện. Hệ động thực vật ở đây cũng đa dạng và phong phú, là nguồn gen quan trọng để khai thác và phát triển.

Quế Phong là huyện có nhiều tộc người cùng sinh sống, gồm: Người Thái, người Mông, người Khơ Mú và người Kinh. Với một kho tàng tri thức địa phương về nông - lâm nghiệp, được đúc kết từ nhiều thế hệ sinh sống ở đây. Họ là cư dân giỏi làm nương rẫy, ruộng nước và khai thác lâm thổ sản. Đặc biệt, những tri thức địa phương của họ rất phù hợp để xây dựng và phát triển các sản phẩm nông nghiệp bền vững, phù hợp với điều kiện địa phương và hài hòa với môi trường. Đây là nguồn lực quan trọng nếu biết cách khai thác một cách hợp lý thì không chỉ phục vụ quá trình phát triển kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa tộc người và bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó là vốn con người; Người dân nơi đây không chỉ giỏi các kỹ năng làm nương rẫy, ruộng nước hay lâm nghiệp mà còn là những người chăm chỉ, chịu khó, cần cù lao động. Lại là những người cởi mở, dễ đón nhận các kỹ thuật, công nghệ mới để phát triển.

Xác định rõ các thế mạnh của mình, Quế Phong đã tiếp nhận các dự án phát triển và đầu tư khoa học công nghệ để tạo ra các sản phẩm hàng hóa đưa ra thị trường, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

  1. Các sản phẩm đặc trưng được tác động về khoa học công nghệ

2.1. Trà hoa vàng

Trà hoa vàng sinh tồn trong Khu dữ trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, là Khu dữ trữ sinh quyển thế giới lớn nhất khu vực Đông Nam Á được Unesco công nhận (Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, Quế Phong, Nghệ An); tiếng Thái gọi là: Tắp tẩu (gan con rùa). Người bản địa chỉ xem như một loại cây quý dùng để nấu nước uống. Trà hoa vàng được phát hiện bởi đoàn nghiên cứu khoa học do Giáo sư Hakoda Nhật Bản phối hợp với PGS.TS Trần Ninh của Việt Nam thực hiện năm 2012, được đặt tên là Camelia Quephongensis Hakoda et Ninh và công bố những thông tin, giá trị khoa học của loại cây này. Theo thống kê Quế Phong được xem là huyện có số lượng cây trà hoa vàng lớn nhất Nghệ An. Trà hoa vàng mọc tự nhiên dưới các tán cây trên những cánh rừng, tập trung nhiều ở các xã Thông Thụ và Đồng Văn. Loài cây này mọc tự nhiên, chứa thành phần dinh dưỡng rất phong phú (qua nghiên cứu khoa học có chứa hơn 400 thành phần dinh dưỡng) và là loại dược liệu vô cùng tốt cho sức khỏe và cho giá trị kinh tế cao; thường phân bổ ở độ cao từ 100 cho đến gần 1000m so mực nước biển. Mùa hoa nở rộ vào tháng 8 và tháng 10 âm lịch. Đồng bào ở đây bảo: vào mùa cây này ra hoa, lại được xem là một “mùa vàng”.

Với sự hỗ trợ xây dựng mô hình nhân giống trà hoa vàng bằng kỹ thuật ghép cành (ghép với cây sở bản địa), chiết cành, dâm hom... theo đánh giá chỉ có kết quả dâm hom đạt kết quả, tỷ lệ thành công đạt hơn 85%; Năm 2021, đã xây dựng mô hình vườn cây vật liệu trà hoa vàng (cây mẹ) để phục vụ nhân giống. Cây mẹ bảo tồn tại vườn và di thực về phát triển tốt, hiện nay đã cho cành thứ cấp để phục vụ nhân giống. Với kỳ vọng sẽ tạo nguồn cây giống cung cấp cho người dân. Đến nay, toàn huyện đang bảo tồn 85 ha và trồng thử nghiệm 1 ha cây trà hoa vàng.

Hiện đối với trà hoa vàng, Sở KH&CN đã hỗ trợ huyện thực hiện chuỗi giá trị đối với sản phẩm này, cụ thể: Đưa sản phẩm trà hoa vàng vào danh mục bảo tồn và phát triển nguồn gen từ năm 2013 và triển khai Dự án khoa học công nghệ Bảo tồn nguồn gen trà hoa vàng năm 2014.

Sản phẩm trà hoa vàng Quế Phong đã khẳng định được thương hiệu trên toàn quốc và được UBND tỉnh và các ngành dùng làm quà tặng tại các Hội nghị về xúc tiến đầu tư thương mại; các hội nghị của ngành. Hiện nay, việc nghiên cứu bảo tồn, tạo giống, chọn giống trà bản địa tốt nhất để nhân rộng trong nhân dân đang được triển khai nhân rộng. Đặc biệt là hình thức phát hiện ươm nhân giống trồng dặm tại chỗ, đang được triển khai và có triển vọng. Đang thực hiện Dự án chỉ dẫn địa lý cho trà hoa vàng miền Tây Nghệ An. Ngoài việc tạo giống trà hoa vàng bản địa, trên địa bàn huyện thử nghiệm, du nhập giống trà hoa vàng Tam Đảo, Ba Chẽ... về trồng thử nghiệm (tại trang trại Nhật Minh đang trồng thử nghiệm 01 ha giống trà hoa vàng Ba Chẽ (Camellia chrysantha)).

2.2. Cây mú từn

Mú từn có tên khoa học là Rourea oligophlebia Merr, thuộc họ Khế. Cây thường chỉ mọc ở những nơi rừng sâu, trên các kẽ núi đá cao các xã Châu Kim, Mường Nọc, Hạnh Dịch, Châu Thôn, Tri Lễ, Nậm Giải, Nậm Nhóng… Người dân thường đi thu hái cây mú từn quanh năm, thường chỉ đào 1 phần chứ không khai thác kiểu tận thu để bảo đảm gìn giữ vị thuốc cho mai sau. Mú từn được Sở Khoa học và Công nghệ đưa vào danh mục bảo tồn và phát triển quỹ gen.

Năm 2017, từ những công dụng của sản phẩm cây mú từn đã được Công ty TNHH Long Lưu sản xuất thành sản phẩm rượu mú từn. Được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu rượu mú từn tại Quyết định 41892/QĐ-SHTT ngày 8 tháng 7 năm 2016. Sản phẩm rượu được đánh giá cao về chất lượng và chiếm thị phần kinh doanh nhất định, hiện tại được công nhận là sản phẩm OCOP tỉnh Nghệ An đạt 4 sao. Hiện tại đang thực hiện dự án nghiên cứu, nhân giống cây mú từn để cung cấp cây giống cho bà con.

2.3. Gạo Japonica J02

Mô hình chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo Japonica J02 cũng là một trong những sản phẩm khoa học tác động thành công tại Quế Phong. Japonica J02 là giống lúa thuần có xuất xứ từ Nhật Bản. Gạo J02 có hạt tròn, cơm dẻo, thơm nhẹ, vị đậm, thân hạt chắc. Nấu cơm hạt trắng ngà, căng tròn như hạt ngọc, càng nhai lâu càng ngon, cơm dù để nguội ăn vẫn dẻo ngon. Gạo Japonica J02 có hàm lượng amylose (tinh bột) thấp hơn gạo Indica và có chứa amylopectin cùng nhiều chất chống oxi hóa, giàu khoáng chất như Magnesium, selenium giúp tạo năng lượng từ protein và tinh bột, hỗ trợ hệ thống miễn dịch và cân bằng lượng đường trong máu rất tốt cho người bị hen suyễn, huyết áp thấp, giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, ung thư, bệnh gan, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, duy trì sức khỏe của hệ thống thần kinh và xương khớp.

Hiện tại, dự án KHCN “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình chuỗi giá trị sản xuất lúa Japonica J02 trên địa bàn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An” do Công ty TNHH MTV Lê Thắng (khối Bắc Sơn, thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong) chủ trì đã xây dựng được các mô hình sản xuất giống; diện tích mô hình sản xuất giống xác nhận 50 ha, tạo ra 200 tấn hạt giống xác nhận giống lúa Japonica đạt tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01-54:2011/BNNPTNT; diện tích mô hình lúa thương phẩm 300 ha tạo ra 1.800 tấn lúa xay xát ra 1.200 tấn gạo thương phẩm chất lượng. Dây chuyền xay xát khép kín từ thóc ra gạo đạt chất lượng cao, đánh bóng và đóng gói sản phẩm. Theo công suất thiết kế dây chuyền chế biến 2 - 3,5 tấn thóc/giờ). Đang thực hiện các thủ tục pháp lý để xây dựng thương hiệu và xúc tiến đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ. Hiện đang đánh giá và phát triển vùng trồng lúa Japonica J02 tại các huyện miền Tây. Mở ra hướng đi mới trong việc xây dựng thương hiệu gạo Japonica Quế Phong nói riêng và vùng miền Tây Nghệ An nói chung. Tiến tới xây dựng chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm này.

2.4. Chanh leo Quế Phong

Huyện Quế Phong bắt đầu trồng chanh leo từ năm 2010, chủ yếu giống chanh leo Đài Nông 1 có nguồn gốc từ Đài Loan cho năng suất trung bình 25-20 tấn/ha. Quy hoạch 1.500 ha, chủ yếu tập trung ở ba xã Tri Lễ, Nậm Giải, Nậm Nhoóng.

Nhằm phát triển vùng trồng và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chanh leo Quế Phong, các cấp, các ngành đã có nhiều chính sách hỗ trợ: giá, giống, công trình tưới cho người trồng. UBND tỉnh và Sở Khoa học và Công nghệ có những tác động như thực hiện  Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước cho cây chanh leo trên địa bàn xã Tri Lễ”; Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt Dự án: Tạo lập, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm chanh leo Quế Phong. Sản phẩm chanh leo đã được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ KH&CN cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận Chanh leo Quế Phong tại Quyết định số 53356/SHTT-CDNH cho 10 hộ gia đình tại xã Tri Lễ.

Tuy nhiên, từ năm 2017 đến nay, do nhiều yếu tố (dịch bệnh, giá cả, năng suất) nên diện tích cây chanh leo trên địa bàn huyện phát triển theo xu thế giảm (diện tích trồng được trên địa bàn huyện là 187,5 ha, năng suất đạt khoảng 10 tấn/ha; riêng năm 2020 mới trồng được 28,55 ha/205 ha). Trước tình hình đó huyện cùng với 03 xã: Tri Lễ, Nậm Giải, Nậm Nhoóng và Công ty Cổ phần chanh leo Nafoods tìm giải pháp, hướng đi cho việc mở rộng vùng trồng cây chanh leo trên địa bàn và theo dõi, đánh giá mô hình “trồng luân canh cây trồng để cải tạo đất tái canh cây chanh leo trên địa bàn xã Tri Lễ”.

2.5. Một số sản phẩm khác

Bên cạnh đó nhằm tận dụng lợi thế về diện tích mặt nước các lòng hồ, đập thủy lợi, thủy điện (các hồ thủy điện: Hủa Na, Châu Thắng, Nhạn Hạc; đập Kèm Ải), trên địa bàn Quế Phong trong giai đoạn 2016 - 2020, diện tích, số lồng nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh. Đa dạng loài nuôi, chú trọng các loại cá có giá trị kinh tế cao (cá vược, cá lăng, cá bỗng...) và nâng cao giá trị sản phẩm. Nhiều mô hình, dự án bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau về nuôi cá lòng hồ đã được thực hiện như: Cá lăng chấm sông Chu, chạch sông, cá vược...

Năm 2021, để đa dạng hóa sản phẩm vùng lòng hồ, nghiên cứu, tìm hướng đi mới cho người nuôi trồng thủy sản. Sở KH&CN phê duyệt dự án “nuôi trai lấy ngọc trên lòng hồ Hủa Na”, với 610 con giống; đánh giá sau 1 tháng thả, tỷ lệ trai sống 601/610 con, đạt 98,5%. Tiến hành mổ trai nuôi thử nghiệm (48 con, thả năm 2019), tỷ lệ sống đạt 100%, tỷ lệ cho ngọc đạt khoảng 65%; ngọc cho màu đẹp, bám nhân dày khoảng 2mm.

Ngoài ra, các sản phẩm địa phương đang được KH-CN hỗ trợ tác động phát triển thành hàng hóa trên địa bàn huyện như từ dược liệu, cây, con đặc sản khác: Đẳng sâm, quế Quỳ, mắc khén,... trên địa bàn huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Bên cạnh đó, để phát huy tri thức bản địa, ngoài bảo tồn phát triển các cây con địa phương thì việc bảo tồn, phát triển, phục hồi nguồn gen các loài động, thực vật có tính đặc hữu, đặc sản của huyện là một trong những vấn đề cấp thiết. Theo đó, đối với nhóm cây trồng (nông, lâm nghiệp) có 8 nguồn gen và nhóm vật nuôi, thủy sản có 7 nguồn gen đang được vào Đề án bảo tồn quỹ gen tại Quyết định số 3445/QĐ-UBND ngày 05/10/2020. Nhóm cây trồng gồm: Quế quỳ, đẳng sâm, trà hoa vàng Quế Phong, mú từn, mắc khén, khau cày nọi (nếp rẫy), khau pù cáng (nếp rẫy), khau cù phảng (nếp ruộng); Nhóm vật nuôi, thủy sản gồm: Bò Mông, lợn đen Sao Va, lợn đen địa phương, vịt bầu Quang - Cắm, gà Mông, cá lăng chấm sông Chu, cá mát Nậm Giải, Nậm Việc, Nậm Niên, sông Quàng.

  1. Hướng đến phát triển sản phẩm bền vững

Để phát triển bền vững sản phẩm nông lâm nghiệp trên địa bàn phải hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.

Trong kinh tế, phát triển các sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị từ khâu giống, sản xuất, thu hoạch, chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đổi mới mô hình tổ chức sản xuất phù hợp. Có sự liên kết, hợp tác các hộ trong sản xuất và tiêu thụ. Đào tạo kỹ năng thương mại và thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp, tổ chức trên nền tảng số.

Về văn hóa xã hội, phát triển của một số mô hình nông lâm nghiệp ảnh hưởng đến các mối quan hệ và làm thay đổi văn hóa truyền thống. Các doanh nghiệp và các nguồn đầu tư từ bên ngoài vào tác động mạnh đến các mối quan hệ xã hội cũ và hình thành các mối quan hệ xã hội mới đa dạng và phức tạp hơn. Sản xuất nông lâm nghiệp dựa vào nguồn vốn tri thức địa phương của cộng đồng nhưng lợi ích lại khác nhau, nhiều khi cộng đồng không được hưởng thụ mấy nhưng lại phải hứng chịu về các hậu quả liên quan. Do đó cần khai thác tốt các tri thức địa phương của đồng bào dân tộc trong trồng trọt, bảo vệ nguồn gen quý trên địa bàn.

Về môi trường, đất đai, nguồn nước, rừng đều bị khai thác mạnh mẽ hơn trong quá trình phát triển. Đặc biệt, việc sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường nhiều hơn. Chất lượng đất, rừng, nước và không khí cũng ngày một kém đi do ảnh hưởng của sản xuất. Cần tiếp cận ứng dụng khoa học công nghệ hướng đến sản xuất xanh và thân thiện môi trường.

Để hướng đến phát triển bền vững nông-lâm nghiệp, Quế Phong cần có chiến lược phát triển rõ ràng hơn, gắn với phát triển bền vững và lấy người dân địa phương làm trung tâm, lấy khoa học công nghệ và thu hút đầu tư làm động lực.

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,272 | Tất cả: 3,696,986
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp