KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Việt Nam Quang phục quân phương lược - Một văn kiện sáng giá trong Lịch sử tư tưởng Quân sự Việt Nam
Tin đăng ngày: 4/12/2021 - Xem: 82
 

Nguyễn Thị Minh Thâm

Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở đầu thế kỷ XX sau phong trào Đông du (1905 - 1908) thất bại, lãnh tụ Phan Bội Châu cùng một số chí sĩ chuyển hướng sang Trung Quốc để đợi thời. Năm 1911, cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thắng lợi mở ra cơ hội mới cho cách mạng Việt Nam. Năm 1912, Việt Nam Quang phục hội ra đời trên đất nước Trung Hoa. Đây là một mốc son chói lọi của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh dấu sự chuyển biến đường lối đấu tranh từ ảnh hưởng của đường lối Cần vương ở cuối thế kỷ XIX vẫn là phong kiến sang quân chủ lập hiến và nay là dân chủ cộng hòa. Lời Tuyên cáo của Việt Nam Quang phục hội nêu rõ: Muốn cho ích nước lợi nhà/ Ắt là dân chủ cộng hòa mới xong. Như thế, ở đây cùng với công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước là công cuộc xây dựng đất nước theo một chính thể mới là dân chủ cộng hòa. Trong chính thể mới phải có quân đội mới. Việt Nam Quang phục quân phương lược có được từ yêu cầu mới đó của lịch sử đất nước.

Lịch sử Việt Nam ta là lịch sử nhiều phen chiến đấu chiến thắng ngoại xâm. Để có được lịch sử vẻ vang đó ắt hẳn phải có truyền thống yêu nước quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh cao độ kèm theo truyền thống kinh nghiệm chiến đấu chính là tư tưởng quân sự phong phú dày dặn. Nhưng thực tế lại rất hiếm có những văn bản đúc kết tư tưởng quân sự đó. Chỉ có Binh thư yếu lược của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn mà theo Gs. Hà Văn Tấn, văn bản hiện có là của người sau chép lại. Nhà Kiều học chuyên về Hán Nôm Nguyễn Khắc Bảo còn cho biết thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ tại Hà Nội có chủ trương sưu tầm văn bản cổ Hán Nôm. Nên có chuyện chép lại văn bản cũ, thậm chí có trường hợp bịa thêm văn bản mới để bán kiếm tiền. Văn bản Binh thư yếu lược hiện có thuộc tình hình đó. Có Hổ trưởng khu cơ của Đào Duy Từ vốn là một người thông minh tài ba mà không được đi thi vì thân phụ sống với nghề kép hát nên đã bỏ quê hương Bắc Hà vào Nam Hà theo chúa Nguyễn và rất được tin dùng. Binh thư yếu lược có giá trị nội dung tư tưởng quân sự trọng đại nhưng còn đơn sơ, chủ yếu chỉ để đáp ứng yêu cầu chống ngoại xâm thắng lợi. Còn Hổ trưởng khu cơ cũng là chuyện xây dựng lực lượng quân sự cho chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Trong khi Việt Nam Quang phục quân phương lược là để phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đương thời còn là xây dựng lực lượng quân đội mới cho một chính thể mới là dân chủ cộng hòa trước khi có khoa học quân sự phong phú bề thế của thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Phan Bội Châu thì Việt Nam Quang phục quân phương lược là do Cụ viết một phần nhưng phần chính là của Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) người đã học trường võ bị quân sự của Trung Quốc. Nguyễn Đức Công quê xã Cẩm Trường xưa, nay là xã Nghi Trung thuộc huyện Nghi Lộc Nghệ An. Xuất thân dòng họ Nguyễn Đức nổi tiếng về truyền thống yêu nước và cách mạng, hiếu học lắm khoa bảng, có mật độ hội tụ văn chương hiếm có. Thân phụ là cụ Nguyễn Đức Tân đậu cử nhân làm quan từng hưởng ứng phong trào Cần vương. Là người có công khai sáng xã Cẩm Trường xưa, nay là Nghi Trung được nhân dân lập đền thờ sống (sinh từ). Cụ có 7 con trai thì có một Phó bảng, một Cử nhân và một Tú tài. Nguyễn Đức Công đậu Đầu xứ, đã có vợ 29 tuổi với 5 con. Nhưng theo tiếng gọi của lãnh tụ Phan Bội Châu đã bỏ lại tất cả để Đông du, cụ Phan coi ông là học viên Đông du cao tuổi nhất và học được nhiều nhất lại giỏi cả về văn mặc. Đông du thất bại. Ông sang Trung Quốc học trường võ bị rồi tham gia sáng lập Việt Nam Quang phục hội với nhiều trọng trách: viết Lời Tuyên cáo, Bộ trưởng Quân sự kiêm Tổng Cố vấn Tổng Thanh tra Chủ quân dụng phiếu. Năm 1915, phong trào Việt Nam Quang phục hội đã suy yếu, lãnh tụ Phan Bội Châu vẫn ở tù nhưng ông đưa lực lượng về biên giới đánh đồn Tà Lùng tại Cao Bằng để lập căn cứ địa cách mạng nhưng thất bại. Đang tìm đường làm lại thì bị mật thám Anh bắt giao cho thực dân Pháp. Cũng trong năm 1915, vua Duy Tân trong khi chuẩn bị khởi nghĩa đã mật phong Nguyễn Đức Công là Tả quân chánh đạo Thống lĩnh nghĩa quân. Tại ngục Hỏa Lò Hà Nội, ông đã nêu cao khí tiết, viết thư cho Toàn quyền Đông dương nói rõ: Chúng tôi là người mất nước đi cứu nước. Nếu coi đó là có tội thì cứ bắn đi. Nếu không có tội thì phải thả ra chứ không giam cầm khổ sở thế này. Các ông sang đây cũng làm được một số việc nhưng chỉ lợi cho bọn nhà giàu và biến quan lại thành tay sai cả. Các ông phải thay đổi chính sách. Nếu không thì dù có chết chúng tôi vẫn phải làm cách mạng. Mua chuộc không được, giặc Pháp đã kết án tử hình ông cùng với người đồng hương đồng chí, những người tham gia sáng lập Việt Nam Quang phục hội, cũng mỗi người một hướng tìm đường về nước lập căn cứ địa cách mạng và cùng bị bắt giam tại Hỏa Lò là Nguyễn Thức Đường, con trai của Đại nhân sư trên đất Lam Hồng Nguyễn Thức Tự. Trước ngày ra pháp trường, Nguyễn Đức Công có bài thơ Cảm tác được dư luận coi là thuộc loại hay nhất của thơ Đường luật Việt Nam xưa nay. Lời dịch như sau:

 Từ biệt quê nhà chẳng nhớ năm

 Ngổn ngang tâm sự rối tơ tằm

 Đoái trông Kiếm Nhị buồn tanh sắc

 Mơ tưởng Lam Hồng lặng ngắt tăm

 Chết quách đã đành không đất sạch

 Sống về cũng chỉ một trời căm

 Đêm đêm mộng hóa thành thân cuốc

 Ngậm máu đi về khóc cõi Nam.

Tại trường bắn Bạch Mai, Hà Nội, trước khi xử tử hai ông, giặc Pháp cho cố đạo đến rửa tội. Thì ông đã nói: Chúng tôi là người mất nước đi cứu nước, có tội gì mà phải rửa, mời ông đi chỗ khác. Rồi trước 10 họng súng của quân thù, hai ông mỗi ông đọc một câu đối tuyệt mệnh sau này được học giả Đặng Thai Mai và nhà phê bình văn học trứ danh Hoài Thanh cho rằng đó là những lời nói cao cả nhất trong văn chương yêu nước của loài người. Câu đối Tuyệt mệnh của Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) là: Ái quốc hà cô duy hữu tinh thần lưu bất tử / Xuất sư vị tiệp thả tương tấm sự ký lai sinh (Yêu nước tội gì duy có tinh thần là chẳng chết/ Ra quân chưa thắng xin đem tâm sự gửi người sau). Câu đối này đã được khắc treo ở nhà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam trong thời chống Mỹ. Hai ông bị bắn và chôn chung một hố đầu năm 1916. Sách Việt Nam nghĩa liệt sử của Đặng Đoàn Bằng xuất bản ở Trung Quốc cuối năm 1916 đã ghi chép tôn vinh hai ông, mệnh danh Nguyễn Đức Công là Kỳ nam tử (chàng trai kỳ lạ). Năm 1927 con cháu ông Nguyễn Đức Công dời mộ hai chí sĩ về quê Cẩm Trường, Nghi Trung nay. Đây là ngôi mộ độc nhất vô nhị trên đất Lam Hồng và không chừng là cả nước. Truyền hình Việt Nam đã có phim Hai chí sĩ một nắm mồ. Với Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) còn có phim Vị thống lĩnh nghĩa quân của vua Duy Tân do Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất. Tên ông còn được đặt cho tên đường ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh. Ở Nhật Bản có miếu thờ 7 chí sĩ Đông du của Việt Nam trong đó có Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) và Nguyễn Thức Đường (Trần Hữu Lực). Riêng ở quê hương thì chưa có gì dù đã có động thái này khác trong nhiều năm.

Việt Nam Quang phục quân phương lược đã được in ở Trung Quốc. Theo Phan Bội Châu thì dày hơn 100 trang (chắc là in khổ nhỏ). Nhưng bản hiện có mà nhà sử học Chương Thâu đã dịch, in, giới thiệu (do nhà sử học người Pháp Georges Boudarel sưu tầm được tặng) chỉ hơn 40 trang viết tay. Ngoài Lời nói đầu có 4 chương:

Chương I. Tôn chỉ: Tôn chỉ của Quang Phục quân là dựa theo tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội với hai nhiệm vụ trọng đại:

Khu trừ dị tộc, khôi phục quốc quyền.

Xóa bỏ tận gốc nền quân chủ chuyên chế lập ra chính thể dân chủ cộng hòa.

 Chương II: Nghĩa vụ của Quang phục quân gồm:

 Tiết 1: Đối với nhân dân gồm 15 điều qui định về mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, trách nhiệm bảo vệ tính mạng tài sản của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

 Tiết 2: Đối với người Pháp gồm 10 điều qui định về cách đối xử với giáo sĩ, thương nhân, viên chức, binh sĩ Pháp tại ngũ hoặc đã nghỉ hưu.

 Tiết 3: Đối với người những nước ngoài khác gồm 11 điều qui định cụ thể đối với những người có quốc tịch Việt Nam, chưa có quốc tịch Việt Nam, những thương nhân, những kiều dân cư ngụ tạm thời, những người đi du lịch.

Tiết 4: Đối với quân nhân gồm 7 điều qui định cụ thể cho từng hạng quân nhân tại ngũ, phục viên, thương binh, gia đình tử sĩ, có quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau.

Chương III: Kỷ luật của Quang phục quân gồm 37 điều trong đó có 25 điều khuyên răn thưởng phạt, 4 điều cần chú ý trong quân thứ, 5 điều cần chú ý đối với tù binh hàng binh, 3 điều cần chú ý sau khi kết thúc chiến tranh.

Chương IV: Kế hoạch của Quang phục quân gồm 45 điều thuộc các vấn đề:

  1. Tổ chức quân đội, thời kỳ quân chính (18 điều);
  2. Biên chế các cấp trong quân đội (7 điều);
  3. Lương thưởng trang phục và phù hiệu (3 điều);
  4. Tài chính của quân đội: phát hành quân dụng phiếu, quốc trái quân lương (12 điều);
  5. Tổ chức dân chính lâm thời: các cấp, các đơn vị hành chính, hệ thống quan chức văn võ (5 điều).

Lời cuối Việt Nam Quang phục quân phương lược ghi: “Tập Phương lược này chỉ mới là bản ghi nhận để tạm thời ban hành. Rồi đây khi mọi việc đã yên ổn, Chính phủ mới được thành lập, sẽ sửa đổi bổ sung để hoàn thiện hơn. Nay bố cáo”.

Bạn đọc quí mến!

Không dấu gì quí vị! Tôi, người viết bài này là tác giả sách Chí sĩ liệt sĩ Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) (Nxb ĐHQG Hà Nội 2016), chính là cháu nội của chí sĩ liệt sĩ Nguyễn Đức Công sinh sau ngày ông bị kẻ thù xử bắn 17 năm, nay đã ở tuổi cửu tuần. Càng về già, tôi càng nhớ ông thương ông yêu ông quí ông da diết và cũng tự hào về ông vô cùng. Thành ra có một thứ nghiện là nghiện đọc đi đọc lại những gì ông tôi đã để lại trong đó có Việt Nam Quang phục quân phương lược mà ông tôi với lãnh tụ Phan Bội Châu cùng viết nhưng ông tôi là người viết chính để rồi viết ra những điều sau đây coi như một bản thu hoạch cá nhân mong được sự chia sẻ và chỉ bảo thêm của quý vị.

*   *   *

Việt Nam Quang phục quân phương lược là nhằm xây dựng một đội quân từ những yêu cầu trọng đại, những khát vọng thiêng liêng, những tư tưởng cao cả nhất của dân tộc, đánh dấu một bước phát triển mới về tư tưởng quân sự Việt Nam cũng là tư tưởng Việt Nam ở thời buổi “khổ nhục nhưng vĩ đại” (chữ của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng): Lời nói đầu của Quang phục quân phương lược đã cho thấy rõ điều đó:

Tạo hóa đã đem vùng Đông Nam Á vun đắp nên dân tộc ta, cực Nam là đảo Côn Lôn, cực Bắc là miền Điền Việt, phía Tây là sông Cửu Long, phía Đông liền với biển. Diện tích nước ta gần 27 vạn dặm vuông Anh vừa dài vừa rộng được Tổ tiên ta ra công gây dựng để lại cho con cháu. Bọn cường lân xảo quyệt, có lúc coi thường ta đem quân xâm lấn, nhưng Tổ tiên ta oanh liệt, không hề sợ hãi đã nổi lên chống trả, người trước ngã người sau nối tiếp vì nước vì nhà mà chiến đấu....

Tiếp đó, mục Tôn chỉ của bản quân (Chương I) đã viết:

Nước Việt Nam là của người Việt Nam, dòng dõi vua Hùng, con cháu nhà Lê quyết không thể để rơi vào tay người da trắng. Quang phục quân căm giận nỗi quốc quyền bị chìm đắm, đau xót trước cảnh giống nòi sắp bị tiêu vong. Thiên chức còn đó, trách nhiệm không thể tránh. Phải xây dựng quân đội ta để diệt trừ bọn quỉ dữ, khiến bọn giặc Pháp là nòi giống Latinh phải trả lại đất nước ta để non sông thống nhất, giương cao lá cờ năm sao (cờ của Việt Nam Quang phục hội) cho rạng rỡ nước Việt Nam ta trên mặt địa cầu để trở thành một nước độc lập hoàn toàn. Đó là Tôn chỉ duy nhất của Quang phục quân”...

Từ Tôn chỉ trọng đại đó, Việt Nam Quang phục quân phương lược là một văn kiện có nội dung phong phú, bài bản, chặt chẽ, khoa học về quân sự. Dù mới là văn bản tạm thời nhưng trong đó đã thể hiện đầy đủ những phẩm chất cao quí nhất của một đội quân cách mạng đại chính đại nghĩa trong đó nổi rõ nhất là:

1). Một đội quân vì dân tộc, vì nhân dân chiến đấu để khôi phục quốc quyền, quốc thổ và xây dựng một chế độ xã hội mới tiến bộ. Trong đó, mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân là quan hệ máu thịt thắm đượm tình nghĩa đồng bào được thể hiện rõ ở 15 điều thuộc Tiết I. Đối với nhân dân trong Chương II mà sau đây xin trích lại một số điều:

Điều 1: Mọi người Việt Nam ta cùng với Quang phục quân đều có tình nghĩa đồng bào, trừ những kẻ cam tâm theo giặc chống lại Quang phục quân. Dân lương dân giáo đều yêu mến nhau, nhất luật không có sự phân biệt đối xử.

Điều 2: Đại quân đi đến đâu sẽ xóa bỏ ngay những chế độ khắc nghiệt của người Pháp trước kia. Những vật sở hữu của dân trừ trường hợp bất đắc dĩ phải tạm thời trưng dụng, còn thì nhất định không được tơ hào xâm phạm.

Điều 3: Đại quân đi đến đâu phàm những nơi sở hữu công cộng của công chúng như nhà thờ cung quán đình chùa... trừ những nơi đã chứa khí giới của giặc hoặc để giặc lợi dụng, nhất thiết phải được bảo vệ. Tuyệt đối không được đốt phá hủy hoại.

Điều 5: Đại quân đi đến đâu nếu các nhà hào phú cùng các thành phần xã hội khác có lòng khẳng khái quyên góp thì bản quân sẽ khen thưởng đặc biệt và ghi vào sổ, tặng huân chương.

Điều 6: Đại quân đi đến đâu, tất cả những người có tài năng chân chính, không kể là đã hoặc chưa làm quan cho Pháp đều thu dụng cả. Nếu họ lập được những kì công thì bản quân coi là đồng chí và giao cho những nhiệm vụ đặc biệt.

Điều 9: Những người làm quan lại hoặc đi lính tập cho Pháp không kể tự bao giờ nếu giết được quan Pháp lính Pháp hoặc làm phản chính ở các thành ấp hoặc bí mật cung cấp tình hình địch hoặc làm nội ứng thì bản quân coi như đồng chí được khen thưởng và đối xử một cách đặc biệt. Trừ những kẻ trung thành với giặc tôi không thể tha. Còn thì tất cả đều không hỏi đến.

Về mối quan hệ máu thịt của đội quân với nhân dân ở Chương III Kỷ luật của Quang phục quân điều 27 còn ghi: Đại quân đóng tại quân thứ cũng như khi hành quân, mọi thứ nhu cầu thiết yếu như lương thực thực phẩm chất đốt cùng các vật dụng khác… thì các địa phương phụ cận có nghĩa vụ cung cấp song nếu không có lệnh của chủ tướng thì không được tự tiện trưng dụng hoặc cấp phát. Những vật cung ứng, bản quân sẽ trả với giá tương đương. Quân nhân có mua bán vật gì phải trao đổi công bằng, thanh toán tiền nong sòng phẳng. Những việc sách nhiễu giá cả nhất thiết nghiêm cấm. Người nào trái lệnh sẽ chiếu theo quân pháp trị nặng”.

Trong nội dung của những điều trên đây, tôi muốn nói thêm đôi chút về Điều 9 đặc biệt là với mấy chữ “còn thì tất cả đều không nói đến”. Bởi đây là chuyện về thực tế không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Ấy là vấn đề sự đối xử của người chiến thắng đối với kẻ chiến bại mà chuyện sau đại thắng giặc Nguyên Mông đã để lại một bài học vô cùng quí báu. Sử sách đã ghi rõ: Sau ngày Đại thắng, lục khắp hồ sơ thì thấy số quan lại nhà Trần đầu hàng giặc Nguyên Mông không nhỏ. Thì Nhị Thánh Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã mở triều và trước mặt quần thần cho đốt hết tất cả thứ hồ sơ khốn nạn đó để trước hết là cho những kẻ lầm đường lạc lối an tâm quay về với chính nghĩa. Thứ đến là để tránh tình trạng người chiến thắng trả thù kẻ chiến bại. Và quan trọng hơn là tạo lại không khí hòa hợp đoàn kết dân tộc để phát triển đất nước. Rõ ràng là Việt Nam Quang phục quân phương lược đã học được bài học vô cùng quí giá đó của Tổ tiên.

2). Một đội quân, cùng với tính chất dân tộc và nhân dân sâu nặng là tinh thần nhân đạo cao cả không gì hơn đối với người Pháp và cả với người ngoại quốc trên đất nước mình. Xin trích lại đây một số điều thuộc Tiết II, trong Chương III. Đối với người Pháp:

Điều 1: Với những người như giáo sĩ, thương nhân, kỹ sư, thủ công nghiệp vẫn bảo đảm tính mạng tài sản cho họ. Chỉ trừ khử những kẻ coi bản quân như kẻ thù, ám trợ cho giặc Pháp.

Điều 2: Với những người Pháp cư trú ở nước ta nếu biết tôn trọng công lý, giúp đỡ với lòng nhân đạo, xuất tài xuất lực, đồng tình với bản quân hoan nghênh bản quân thì quyết không coi là dị tộc để mà phân biệt đối xử.

Điều 3: Những người cha Pháp mẹ Nam cũng là những người dòng máu người nước ta trừ những người cam tâm theo giặc Pháp chống lại bản quân, còn thì bản quân đối xử như người bản quốc. Nếu họ hết lòng trung thành với nước ta thì bản quân tín nhiệm đặc biệt, quyết không có sự nghi kị.

Điều 4: Những người Pháp đã chống lại bản quân nếu biết tôn trọng lẽ phải ăn năn hối cải trước quay về với bản quân lập được công lớn, bản quân sẽ xóa bỏ những sai lầm cũ, nhìn vào lòng thành thực của họ, đối chiếu với những người Pháp khác mà đặc biệt ưu đãi thêm.

Đối với những người nước ngoài khác thuộc Tiết III, trong Chương III mà sau đây là một số điều:

Điều 2: Những người cư trú tại nước ta tất cả tính mạng tài sản của họ đều được bản quân bảo đảm an toàn bảo vệ chu đáo. Trừ những người đã ngấm ngầm giúp đỡ người Pháp chống lại quân ta, còn thì nhất thiết không hề bị hại.

Điều 8: Những người nước ngoài đã cư trú ở nước ta hai ba đời có của cải gặp khi bản quân trù biện quân nhu đều có nghĩa vụ gánh vác đóng góp, sau hòa bình sẽ chiếu theo lệ công trái tính trả.

Điều 10: Những người nước ngoài không may bị thiệt hại trong khi xẩy ra chiến sự, trừ việc đó do người Pháp gây ra, còn thì sẽ được xét cấp cho tiền tử tuất.

Điều 11: Những người nước ngoài hiện cư trú ở nước ta phải tuân theo pháp luật của bản quân, nếu ngang ngạnh gây ra những hành động vô lý thì bản quân sẽ chiếu theo pháp luật mà trừng trị.

Để rõ hơn giá trị nội dung của những điều trong mục Đối xử với người Pháp cũng cần nhìn lại một chút về tình hình thái độ và cách đối xử của người Việt Nam yêu nước chống lại người Pháp xâm lược từng có là thế nào. Ở buổi đầu những người yêu nước như cụ Đồ Chiểu là từ chỗ ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm giặc Pháp thì bất cứ thứ gì của Pháp hoặc dính với Pháp đều bị tẩy chay. Chả thế mà Cụ vẫn dùng nước tro để giặt quần áo chứ nhất định không dùng xà phòng vốn từ Pháp mà có, không cho con học chữ Quốc ngữ vốn dựa vào mẫu tự Latinh liên quan đến Pháp. Có nhiều vị đã gọi gió Tây là gió chó vì Tây là Pháp. Trong phong trào Cần vương ở Nghệ Tĩnh ở cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện khẩu hiệu “Bình Tây sát tả” giết cả Tây và ta là những người Việt Nam theo đạo Gia tô Thiên chúa giáo gây bất lợi cho đất nước. Trở lại một chút về tình hình đó để thấy những gì trong mục Đối với người Pháp là một bước tiến lớn trong tư duy nhận thức từ đó đến cách xử sự. Trước Việt Nam Quang phục hội, năm 1911, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Pháp để tìm đường cứu nước và cứu được nước lại chứng tỏ một bước tiến mới nữa trong nhận thức và cách xử sự vấn đề trong cuộc sống.

Để kết thức bản thu hoạch cá nhân này về Việt Nam Quang phục quân phương lược một lần nữa tôi muốn nói: Đây đúng là một văn kiện sáng giá trong lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam. Tuy có ảnh hưởng của cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 và có thừa hưởng thành tựu khoa học có bị của Trung Hoa nhưng về cơ bản chính là sự triển khai trong hoàn cảnh mới đường lối cách mạng của Lãnh tụ Phan Bội Châu đã được thể hiện khá sáng rõ trong tác phẩm Tân Việt Nam (Nước Việt Nam mới) viết in năm 1905 tại Nhật Bản. Quí vị nào đã đọc sẽ thấy rõ như thế.

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,191 | Tất cả: 3,696,905
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp