KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Văn học đô thị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Tin đăng ngày: 4/11/2021 - Xem: 128
 

PGS.TS Nguyễn Đức Mậu

Đô thị Việt Nam, như ta đã biết, hình thành yếu ớt, nhỏ lẻ. Con người cá nhân trong văn học Việt Nam cũng định dạng ở mức độ được định danh trong khái niệm nhà nho tài tử, mang các yếu tố phi nho, phi Trang. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, khi đô thị mới bắt đầu hình thành, con người cá nhân xuất hiện trong thơ trào phúng dưới hình thức mới tự trào, tự cười mình, tự nói về mình. Văn học đô thị giai đoạn này đã thành một xu hướng.

Nhà nho quan niệm văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, họ mặc nhiên xem loại văn học mang tính đô thị, cá nhân, văn học nói về các quan hệ tình ái nam nữ, là thuộc ngoại thư. Những tác phẩm văn học hạ bệ những đấng quân vương, những bậc tôn kính dưới hình thức tiếng cười trào phúng, đả kích, vượt ra khỏi tính trang nhã, mực thước, chừng mực, nhằm lật đổ kiểu: “Nho đối với chó lão này không ưa” thì cũng li tâm, thoát li văn học nhà nho. Thông qua sự đả kích, trào phúng, văn học trào phúng đưa cái thực (tả thực, khác tả thần của văn học nhà nho) vào thẳng văn học, lật đổ hình ảnh một tầng lớp người bề trên, tầng lớp quan lại. Trào phúng là sản phẩm văn học của môi trường xã hội khác, nhiều cái mới nảy sinh ban đầu là hài hước trước quan niệm cũ, về sau cái mới này thành cái phổ biến, thành bình thường trong xã hội và đến lượt cái cũ bị thành cái hài hước, cái đáng cười.   

Sự đổi thay lịch sử từ giữa thế kỷ XIX đã làm xuất hiện các nhân vật mới như thầy thông, thầy phán, thầy ký, ông thầu khoán và cả những người như cô Tư Hồng, làm cho cuộc sống phức tạp dần lên và phân cực mạnh mẽ. Một sự thay đổi lịch sử, cuộc sống nơi thị thành thay dần cuộc sống cũ, nếp nghĩ cũ, làm quen dần với cái mới. Tuy chỉ xuất hiện trong một số bài thơ trào phúng, nhưng vị thế của cái nét mới của cuộc sống đã làm thay đổi cái uy thế cũ, uy thế của thứ bậc xã hội, thứ bậc của nam giới trước nữ giới. Thầy đồ nho đã thành đối tượng trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến. Ban đầu là từ điểm nhìn cái cũ phê phán cái mới, thấy nó là cái mới lố lăng, lố bịch, kiểu bà đầm lại ngồi “trên ghế”, còn ông cử, một loại nhân vật uy nghi thứ bậc, vai vế xã hội lại ở “dưới sân”. Vị trí trên, dưới như thế là vị thế bị đảo lộn, đáng cười, đáng phê phán, chua chát mà phê phán. Hai chữ “ngoi” và “ngỏng” trong bài thơ cho hai “nhân vật” với một kiểu cười khác, cười kép, tinh nghịch và đồng thời tố cái xã hội đang thay đổi thứ bậc. Bà đầm và ông cử thành hai vế đối đối lập, nâng cao sự xúc phạm theo cách nhìn trên dưới, phận vị:

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

Xã hội xuất hiện ông Tây, bà đầm, một loại nhân vật mới, nhân vật xa lạ. Thơ văn cũng chỉ đến đây mới xuất hiện nhân vật ông Tây, bà đầm. Trước đây Thăng Long hay các thành phố đã có nhiều ông Tây, ngoài buôn bán, họ còn đến với nhiều mục đích, công việc khác nhau, họ chưa thành hình ảnh trào phúng như thế trong văn học.

Thơ văn trào phúng không xuất phát nhìn ông Tây, bà đầm là quân tả đạo như các nhà nho trung nghĩa trong văn thơ chống Pháp, mà nhìn dưới góc độ hài hước, góc độ phản cảm, phản đối mà không phản kháng, nhìn và thấy ra chi tiết trào phúng. Thơ văn của nhà nho trung nghĩa nhìn ngoại bang với thái độ phản kháng, thái độ nhìn kẻ thù. Thơ văn trào phúng còn tự trào, tự tái tạo một hình ảnh của mình với cái nhìn từ hiện thực mới, cuộc sống mới khác trước, kiểu “Con người phong nhã/ Ở chốn thị thành/ Râu rậm bằng chổi/ Đầu to bằng giành”. Nhà nho tự phác họa và tự giễu như thế đã là tự giải thể hình ảnh trang trọng, giải thể vị thế xã hội của nhà nho, hình ảnh chính mình. Về mặt nào đó, đấy có thể nói chính là sự trưởng thành của văn học, nó mở đầu của một bước ngoặt lịch sử, một chuyển hướng của cuộc sống đô thị. Một hình ảnh xa lạ với thơ văn chính thống, một hình ảnh phi chính thống, hình ảnh của cuộc sống mới, khác trước. Con người đã chấp nhận một hình ảnh mới về mình, khác hình ảnh truyền thống. Văn học cũng chấp nhận một loại nhân vật của đời sống bình thường, không phải con người của đời sống thấm đẫm sắc màu đạo lý. Giải thiêng quan lại, giải thiêng thứ bậc, giải thiêng nhà nho, kéo nhân vật quan lại, nhân vật nhà nho xuống hàng thấp kém dưới cách nhìn khác, không liên quan đến đạo đức mà liên quan đến một cuộc sống khác, cuộc sống có sự xâm phạm của nhân vật lạ từ thế giới xa lạ với truyền thống tôn ti, thế giới phương Tây.  Nhân vật nhà nho - quan lại bị hạ bệ, các loại phẩm hàm, các tước vị kèm theo loại nhân vật này không còn tồn tại như một giá trị đương nhiên, nghiễm nhiên. Cũng có nhân vật quân tử bị hạ bậc trong thơ Hồ Xuân Hương nhưng đó thuộc loại hạ bậc từ một hướng khác, hướng “dùng dằng đi chẳng dứt” trong quan hệ nam nữ, nó chưa thành nhân vật thiếu trách nhiệm và đạo đức xã hội, hại nước, hại dân kiểu thám hoa xòe (Nguyễn Thiện Kế), Phó bảng Tuân (Kép Trà). Nhà nho - ông quan không chỉ nhìn trong quan hệ thứ bậc, trong cảnh “cầm đường ngày tháng thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao” nữa, mà bị/ được nhìn trong mối quan hệ khác trước, quan hệ xã hội, quan hệ với đất nước. Con người không nhìn đơn giản trong hệ thống luân thường mà trong hệ thống trách nhiệm xã hội. Thơ trào phúng và cuộc sống mới đã thay đổi cách nhìn về con người. Nó bị kéo về phía tầm thường, về phía bình thường. Nguyễn Khuyến đã từng nhận xét bài thơ của Tú Xương trong hai câu thơ đối “Nho” với “Chó”:

Rằng hay thì thật là hay

Nho đối với chó lão này không ưa.

Tất nhiên không phải nhà nho bị hạ bệ, hạ giá, mà chỉ cần số ít trong giới thượng đẳng đó bị hạ bệ thì loại nhân vật này bị hoài nghi trong xã hội, thành một đối tượng quan sát và thể hiện ra trong văn học khác trước. Nhưng hạ bệ đối với đối tượng cụ thể, và kéo nó trở thành nhân vật của đời sống thực tế, nó không chỉ là nhân vật “cao cao tại thượng” của một lý tưởng sống, nó thành nhân vật của cuộc sống thực. Từ Tri phủ Quảng, Huyện Hòa, Tri phủ Xuân Trường, cả những người nổi tiếng hơn như Hoàng Cao Khải… là các quan có tên, có địa chỉ rất rõ ràng. Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà vạch mặt trọn vẹn những chân dung ông quan, ông quan không còn dưới dạng ám chỉ(1). Trong dư luận xã hội, các quan, các bậc thượng lưu ấy bị kéo xuống để mỉa mai, phê phán, vạch mặt. Ông quan không còn là quan của cương thường, đạo lý, quan còn phải là, được đòi hỏi là, người giữ một vai trò khác, chức năng khác nữa(2).

Con người đã được trả lại cuộc đời thực của nó, thành nhân vật của cuộc sống thường ngày, văn học trào phúng làm được điều đó. Đưa nhân vật thực vào thơ văn, từ đây dòng chảy phi truyền thống của văn học cũng bắt đầu. Hàng loạt nhân vật ả đào có tên tuổi cụ thể, có thân phận rõ ràng (như cô đầu Hai, cô đầu Cần, cô Trang, em ấm Hiếu…), đã thành nhân vật văn học, thành sự quan tâm thường tình của nhà nho, và qua đó họ đi vào hát nói không phải ẩn danh vào hai chữ giai nhân chung chung. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, ả đào đã thành nhân vật văn học. Các khái niệm giai nhân, thuyền quyên... đã được thay thế bằng những cái tên cụ thể đào Hồng, đào Tuyết, cô đầu Hai, cô đầu Cúc, cô đầu Canh, cô đầu Yến... trong thơ Dương Khuê, và “tàn nhẫn” hơn lại dẫn một trích ngang lý lịch đủ cả tông tộc họ hàng:

Có phải cô Trang em ấm Hiếu

Người xinh xinh yểu điệu dáng con nhà

Vì đâu vương lấy nợ tài hoa

Bắt luân lạc trời già âu cũng độc

Cha Án sát, anh thời Đốc học(3)

Cùng với sự thay đổi các từ như giai nhân thành các tên gọi cụ thể như thế, mối quan hệ tài tử giai nhân bây giờ đã trực tiếp là ngã và quân “Ngã lãng du thời quân thượng thiếu”. Tư tưởng nhân sinh quý thích chí của Trang - Chu chủ trương con người tự do, chống lại con người xã hội, chống lại con người chức năng, giờ được sử dụng để biện bạch cho mục đích sinh lý:

Nhân sinh quý thích chí

Chẳng gì hơn hú hí với cô đầu

Thời gian cuộc đời người ngắn ngủi, phải vui sống, phải bỏ danh hão và các ràng buộc xã hội trong triết lí Trang - Chu, lại được sử dụng cho quan niệm hướng mục đích cuộc sống vào tình dục như trong bài Chơi cho thỏa thích của Trần Lê Kỷ:

Từ lên một đến mười lăm còn trẻ nít

Bốn mươi nhăm cút kít đã về già

Tính trong vòng cắn đá với trăng hoa

Phỏng độ ba mươi năm là sắp kiệt

Thế mà còn đi học đi hiệc, đi thi, thiếc, khi đỗ khi điệc, làm quan làm kiếc

Cuộc đời vấn vít mấy khi ngơi

Trời đã sinh ra kiếp làm người

Chẳng chơi nữa người cười là chú vích

Được ngày nào ta chơi cho thích

Cho phong lưu thanh lịch mới là giai

Thấy ai ai ta cũng ai ai

Có cái ấy ai ai ta cũng ấy

Xin chớ quở chữ dâm là chữ bậy

Nếu không dâm sao nẩy ra hiền

Nhủ em, em cứ giữ gìn(4)

Đối tượng của việc “chơi cho thoả thích” đó là phụ nữ và tất nhiên phụ nữ với tư cách như vậy không được xem là một nhân cách, một cá nhân và càng không thể là “giai nhân nan tái đắc” trong tư thế thượng đẳng :

Minh quân lương tướng tao phùng dị.

Tài tử giai nhân tế ngộ nan”(5).

(Vua thánh tôi hiền dễ gặp nhau.

Trai tài gái sắc khó gặp nhau).

Thú thanh sắc giờ chỉ còn sắc dục thuần tuý, hay sắc dục là mục đích hàng đầu. Lạc thú tinh thần giờ đây bị thay vào đó là lạc thú thể xác. Cầm, kỳ, thi, tửu không còn hiện diện với tư cách là một thú vui, một sinh hoạt văn hoá. Những đề tài như thế là hoàn toàn xa lạ với văn chương nho giáo. Cặp đôi tài tử giai nhân không còn là một nhân vật thị tài, đa tình mà thay vào đó là khách làng chơi.

Chúng ta cũng biết Dương Lâm và Chu Mạnh Trinh có nhiều sáng tác hát nói, nghĩa là khách quen của ca quán Bình Khang, sáng tác của hai ông cũng mang tinh thần của con người cá nhân đô thị. Môi trường sáng tác, môi trường quan hệ đó kéo hai ông về xu hướng văn học đô thị, nó không còn văn chương đạo lý, tuy vậy ở họ chưa có những phát ngôn, những nhân vật thật ấn tượng của xu hướng này như Dương Khuê. 

Hàng loạt các cô đầu trong thơ Dương Khuê với những cái tên cụ thể như cô đầu Oanh, cô đầu Cúc, cô đầu Hai, cô đầu Cần, cô đầu Phẩm... đã thay cho khái niệm giai nhân chung với tính chất, mục đích quan hệ khác trước kia. Đó là quan hệ giữa “tình quân” và “khách má hồng” với các sáo ngữ để bộc lộ tình, để ve vãn đối tượng: “bén hơi duyên”, “quạt ước hương nguyền”. Trong bối cảnh văn học yêu nước, văn thơ trào phúng chi phối đời sống văn học thì hát nói của Dương Khuê, Tú Xương, Trần Lê Kỷ..., như đã nói ở trên, phản ánh sự phát triển, dòng chảy của văn học đô thị. Đó là tiếng nói yếu ớt so với các dòng văn học kia, nhưng nó có ý nghĩa và rất đáng chú ý.

Dương Khuê ở cả những lúc, những nơi không liên quan đến tình ái, không liên quan đến quan hệ phi chính thống, vẫn gợi chút gì đó về tình ái, kiểu như khi nói đến Động Hương Tích, một nơi được xem là linh thiêng, lại nhắc đến quần tiên, sợ mất lòng loại người đẹp này, và vì thế “để đấy chơi chung”: “Rõ ràng Đệ nhất Nam thiên/Mang đi lại sợ quần tiên mất lòng/Thôi thời để đấy chơi chung”. Nhưng lần đầu tiên trong thơ ca nhà nho, một loạt bài đưa thẳng quan hệ tình dục, tình ái vào thơ ca, từ chính tác giả, tên thật, danh thật, không mượn ngôn ngữ nhân vật, thông qua nhân vật. Trần Lê Kỷ “Có cái ấy ai ai ta cũng ấy/ Xin chớ quở chữ dâm là chữ bậy” thì Dương Khuê “Chơi cho phờ râu, cho trợn mắt, cho long giải rút, cho tụt dây lưng/ Còn ham tiếc lăn lưng vào cuộc dại”, Tú Xương cũng: “Chẳng gì hơn hú hí với cô đầu”. Thời chưa có các sách tình dục, có các mối quan hệ ngoài hôn nhân thể hiện trong văn học, thì sự phá ra như thế ở thơ văn của các tầng lớp “thượng lưu trí thức” như những nhà nho này, để viết những câu thơ trần trụi như thế, chắc thực tế cuộc sống nó mở ào về phía tự do không kiềm chế của buổi giao thời giai đoạn đầu. Nhưng không ái ngại nói chuyện chơi bời, tình dục mà còn khoe ra, triết lý thêm cho nó như một quan niệm sống thì chắc chỉ từ chính trong môi trường quan hệ ca quán, quan hệ với cô đầu công khai, mãn nguyện mới sáng tác, mới nói được những nội dung đó.

Trong hát nói Dương Khuê, ngoài cái “tự kiểm điểm” cái dại vì đa tình với lối nói thô tục (Cái dại) thì chủ yếu vẫn là những mối tình trăng gió ngoài hôn nhân được thể hiện thanh nhã hơn, như “Cười cười nói nói sượng sùng”, hay được nói một cách bóng gió hơn:

Khi đón gió, khi chờ trăng, khi xem hoa, khi bẻ lá

Điệu đồng tâm nấn ná biết là bao.

(Ở nhà hát ngẫu hứng)

Hoặc nói chệch bằng cách gọi khác, xa xôi hơn, mà nội dung ai cũng hiểu vẫn là quan hệ tình ái, là dan díu:

Nợ tính tình rầy lắm chị em ôi,

Đã dan díu trót vay thời phải giả.

Khi đón gió, khi chờ trăng, khi xem hoa, khi bẻ lá,

Điệu đồng tâm nấn ná biết là bao.

Một mảnh tơ con tạo khéo trêu,

Đương đầm ấm lại chen vào cay nghiệt.

(Ở nhà hát ngẫu hứng)

Sự cách biệt tuổi tác quá lớn, chắc không phải là điều hiếm trong hôn nhân ngày xưa đối với tầng lớp thượng lưu, nó từng được khoe ra trong hát nói Nguyễn Công Trứ trong “Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” mà, sự chênh lệch đó, thêm cái “sượng sùng” gặp gỡ, cái “ngây ngây dại dại vì tình”, làm cho mối tình trong bài hát nói thêm phần hấp dẫn:

Mới ngày nào chưa biết cái chi chi.

Mười lăm năm thấm thắt có xa gì,

Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thì quân thượng thiếu,

Quân kim hứa giá ngã thành ông,

Cười cười nói nói sượng sùng,

Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.

Riêng một thú Thanh sơn đi lại,

Khéo ngây ngây dại dại với tình.

Mối tình giai nhân tài tử cách biệt tuổi tác, cái khoảng cách đó bản thân nó gây một hứng thú có tính tài tử phù hợp, thích hợp với cái phá cách, trong cảm xúc của những người sống trong môi trường ca quán, môi trường xã hội phi quan phương, ở đó ca ngợi cái ngoài khuôn phép, không chấp nhận một quy củ, nghiêm trang, mặt khác, cách mô tả, nhịp điệu và câu chữ đi ra ngoài khuôn sáo, làm cho bài hát nói vừa đủ để dễ chịu cho mọi tầng lớp, mọi giai đoạn lịch sử thưởng thức ca trù. Có thể cách nhìn này góp thêm một lý giải về thành công của bài hát nói trong lịch sử của nó, một thành công khác thành công của các bài xuất sắc ở thể loại này. Như vậy, cái phá cách quan hệ thể hiện mối tình, tính chất vừa phải, không vượt ngưỡng của nó thích hợp với đám đông công chúng ở nhiều giai đoạn lịch sử.

Dương Khuê đưa quan hệ tình ái riêng tây của chính mình với cô đầu vào hát nói, đưa hình ảnh, đưa nhân vật khách lãng du vào văn học, và trong lịch sử của thể loại này, đấy là một hướng phi truyền thống, một hướng tách biệt với dòng phát triển chung của lịch sử văn học, hướng của văn học đô thị.

Với nhân vật tự trào, nhân vật mới của thơ trào phúng, hay sự công kích trực tiếp vào mẫu hình nhà nho quan chức, đưa họ trở về chịu trách nhiệm xã hội, và với các nhân vật giai nhân tài tử, khách lãng du trong hát nói, khẳng định xu hướng văn học đô thị Việt Nam đã hình thành bước đầu. Nhưng, trước thế kỷ XX, xu hướng này vẫn còn là dòng riêng, rất nhỏ, chưa đủ sức để tự xác định sự tồn tại độc lập của mình tạo sự khẳng định mạnh mẽ. Có thể nói nó là một thứ thêm vào không chính thức bên văn chương chính thống.

 

Chú thích

  1. Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, H.1996, tr.216.
  2. Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, H.1996, tr.226.
  3. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh 1994, tr. 435.
  4. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr.433.
  5. Lê Thước, Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, H.,1928, tr. 93.
KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 4,958 | Tất cả: 3,696,672
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp