DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Tiếng nói của người bản địa trong nghiên cứu tộc người
Tin đăng ngày: 4/11/2021 - Xem: 152
 

BÙI HÀO

Người bản địa vốn trở thành một đối tượng nghiên cứu trong khoa học xã hội từ nhiều năm trước. Nó bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dân châu Âu sau các cuộc phát kiến địa lý. Ban đầu, nghiên cứu về người bản địa để phục vụ mục đích cai trị và khai thác thuộc địa, vốn được gắn với tư tưởng xem người bản địa là lạc hậu, kém phát triển và chủ nghĩa thực dân đến khai hoá để giúp họ phát triển, giúp họ hiện đại hơn. Quá trình giải phóng dân tộc cũng là một quá trình giải phóng các cư dân bản địa khỏi chủ nghĩa thực dân. Nhưng tư tưởng xem người bản địa là lạc hậu và cần giúp đỡ vẫn tồn tại và nhiều khi là thống trị trong quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ. Cho đến hiện nay, các nhà nghiên cứu khoa học vẫn coi người bản địa là một đối tượng nghiên cứu mà họ sản xuất tri thức để phục vụ cho các mục tiêu của họ. Hiện nay, tri thức trở thành một nguồn lực, một của cải nhưng cũng là một sợi dây liên kết con người với các nhóm khác. Vậy nên, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường cần tăng quyền và trao quyền cho người bản địa trong quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ. Trong đó, có ít nhất các quyền cơ bản sau cần được quan tâm.

Quyền được tham gia vào quá trình sản xuất tri thức

Trong quá trình toàn cầu hoá, các viện nghiên cứu, các trường đại học đang tham gia vào cuộc chạy đua xếp hạng quốc tế, các nhà nghiên cứu cũng ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào cuộc chơi công bố quốc tế. Họ sản xuất tri thức về người bản địa để tập trung cho công việc mà họ gọi là “nghiên cứu” mà mục tiêu là hoàn thành các đề tài, các luận án, các bài luận để công bố quốc tế. Những điều đó giúp họ tăng thêm thu nhập, có thể thăng quan tiến chức, trở thành các chuyên gia quốc tế có quyền uy trong giới học thuật. Nhưng người bản địa, vốn là đối tượng nghiên cứu của họ nhận được gì từ các nghiên cứu của họ lại là một vấn đề khác. Thậm chí, trong lịch sử, nhiều cộng đồng đã phải hứng chịu những nỗi đau đớn, tủi nhục chứ không phải là lợi ích từ những tri thức mà các nhà nghiên cứu sản xuất ra liên quan đến họ. Bởi người bản địa đã đứng ngoài quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ. Và cho đến giờ người bản địa vẫn chưa được tham gia nhiều vào quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ.

Để có sự bình đẳng trong quá trình sản xuất tri thức liên quan đến cuộc sống của người bản địa thì cần phải nâng cao năng lực và tạo điều kiện để người bản địa tham gia nhiều hơn vào quá trình sản xuất tri thức. Điều này hoàn toàn có thể vì nhận thức của người bản địa đang ngày càng thay đổi. Họ đang hướng đến làm chủ quá trình sản xuất tri thức về mình được nếu được hỗ trợ, chia sẻ về phương pháp. Vậy nên, cần phải phát triển các phương pháp nghiên cứu mới để tăng quyền và trao quyền sản xuất tri thức liên quan cho người bản địa như nghiên cứu hợp tác, nghiên cứu chia sẻ, câu chuyện cuộc đời,…. Về cơ bản, việc thực hiện các phương pháp này là quá trình các chuyên gia nghiên cứu chuyên nghiệp hợp tác với những người bản địa để sản xuất tri thức liên quan đến họ và họ cũng được chia sẻ những giá trị của những tri thức đó, nhiều khi bao gồm cả bản quyền sáng tạo. Bắt đầu từ việc các chuyên gia chia sẻ, tập huấn và giúp đỡ về phương pháp cho người bản địa để họ tham gia vào quá trình sản xuất tri thức. Sau đó dần để cho người dân tự chủ động trong quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ.

Quyền được thẩm định các tri thức liên quan đến họ

Từ trước đến nay, việc sản xuất tri thức khoa học vẫn thuộc lĩnh vực độc quyền của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia. Họ sản xuất tri thức về người bản địa và lưu hành nó thông qua nhiều hình thức khác nhau từ bài luận, luận văn, luận án, sách, rồi nhiều dạng tài liệu khác. Việc thẩm định chất lượng của những tri thức đó cũng o các chuyên gia, các hội đồng khoa học trong lĩnh vực đó. Người bản địa không có quyền tham gia vào quá trình thẩm định đó. Trong bối cảnh xã hội trước đây, những người bản địa có thể không biết đến sự tồn tại của những sản phẩm của quá trình sản xuất tri thức nên họ cũng không quan tâm. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, ít nhiều người bản địa cũng có thể tìm thấy những sản phẩm đã công bố rộng rãi liên quan đến cuộc sống của họ. Vậy nên cần tăng quyền cho người bản địa để họ tham gia thẩm định các sản phẩm của quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ. Họ có quyền được biết, được bàn luận, thảo luận về những tri thức liên quan đến họ, vừa giúp họ hiểu hơn về quá trình nghiên cứu, về bản thân mình, vừa giúp các nhà nghiên cứu có thể đối thoại, chia sẻ và thảo luận thêm về quan điểm của mình với những người bản địa là đối tượng nghiên cứu của họ.

Dù phân chia thành hai quyền khác nhau là quyền tham gia vào quá trình sản xuất tri thức và quyền tham gia vào quá trình thẩm định tri thức liên quan đến người bản địa nhưng cũng phải nói rằng cần thiết phải thực hiện hai quyền này song song với nhau. Khi người bản địa được tham gia nhiều vào quá trình sản xuất tri thức liên quan đến họ thì họ cũng được nâng cao năng lực để thẩm định những tri thức liên quan đến họ được sản xuất ra. Còn việc tổ chức cho người bản địa tham gia thẩm định như thế nào cho phù hợp thì cần linh trọng trong những trường hợp cụ thể. Quan điểm cốt lõi là phải tôn trọng ý kiến của người bản địa và đưa nó thành tiêu chí để đánh giá, thẩm định.

Quyền được thể hiện tiếng nói cá nhân và cộng đồng trong quá trình phát triển

Xét cho cùng thì đây là tổng hợp tất cả các quyền trên lại. Nhưng trên phương diện bản thể luận thì vẫn cần tách bạch ra. Ý kiến cá nhân và ý kiến cộng đồng rất cần thiết và rất quan trọng trong quá trình phát triển của các cá nhân và cộng đồng đó. Những định kiến vốn tồn tại lâu năm vô hình chung đã giết chết các tiếng nói cả cá nhân lẫn tập thể về những vấn đề liên quan đến họ. Người ta vẫn cho rằng người bản địa lạc hậu, dân trí thấp nên chưa nhận thức được nhiều vấn đề và cần phải giúp đỡ để phát triển, bao gồm luôn cả việc giúp đỡ phát biểu ý kiến. Sau đó, trên nhiều phương diện khác nhau, người ta đã sửa sai những định kiến đó theo từng mức độ. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, cần phải trân trọng ý kiến của họ và xem đó là cơ sở quan trọng để xây dựng những chính sách liên quan đến quá trình phát triển của họ.

Người bản địa có quyền thể hiện ý chí của mình, thể hiện tiếng nói của mình theo cách nghĩ của họ, theo quan điểm của họ. Và chính quyền cần trân trọng những ý kiến đó để xử lý sao cho phù hợp chứ không lấy các thước đo bên ngoài vào đánh giá các ý kiến của người dân. Xử lý các việc liên quan đến người bản địa cần xem xét trong bối cảnh văn hoá xã hội trong các “trường” của họ thì mới tìm thấy sự phù hợp. Muốn vậy cần phải hiểu họ, lắng nghe họ thật sự chứ không phải làm theo hình thức, lấy ý kiến cơ sở nhưng toàn cán bộ nói và theo quan điểm của cán bộ. Đương nhiên, người dân cũng là một khái niệm không rõ ràng, nên cũng trăm ngàn ý kiến. Nói vậy không phải để bó qua ý kiến của họ mà phải tìm ra phương pháp phù hợp để họ phát thể hiện ý kiến của mình. Ví dụ tham vấn cộng đồng để người dân tham gia làm chủ nhằm xử lý các vấn đề xã hội liên quan đến họ được giới nghiên cứu phát triển sử dụng trong nhiều năm qua đã chứng minh được tính hiệu quả của nó dựa trên nguyên tắc thể hiện ý kiến cá nhân và tổng kết dựa trên ý kiến chung của cộng đồng nhưng các cá nhân tham gia đều đồng ý chấp thuận.

Nói tóm lại, trong hơn nửa thế kỷ qua, Việt Nam đã quan tâm nhiều đến cuộc sống của người dân tộc thiểu số, của người bản địa. Từ pháp luật đến hệ thống chính sách phát triển đều coi trọng điều đó và hướng đến mục tiêu là làm cho người dân tộc thiểu số được bình đẳng, phát triển và ngày thêm ấm no. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, quá trình phát triển đòi hỏi phải nhận thức sâu hơn, nhất là trong quá trình hội nhập với thế giới bên ngoài, cần phải làm rõ hơn về các quyền cơ bản của người bản địa. Từ đó có những phương pháp tăng quyền và trao quyền cho người dân một cách hợp lý để giúp họ làm chủ quá trình phát triển của chính mình hơn nữa./.

Diễn đàn khác:
Với đời sống tâm linh đôi điều tôi muốn nói (26/1/2022)
Tìm hiểu ý nghĩa của cúng, khấn, vái, lạy (26/1/2022)
Chuyển đổi số trong giáo dục: Thách thức và kỳ vọng năm 2022 (26/1/2022)
Đạo học xứ Nghệ: Làm sao biến lập ngôn, lập danh thành lập nghiệp? (26/1/2022)
Dự thảo Luật Dân số: Giảm nhẹ gánh nặng gia đình? (25/12/2021)
Một giả thuyết khác về Loa Thành (25/12/2021)
Thực trạng và giải pháp thu hút, tập hợp đội ngũ trí thức lĩnh vực KHXH&NV đến năm 2030 (24/12/2021)
Hướng đến tiêu dùng hợp lý (16/12/2021)
"Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương thực sự là ai trong lịch sử Việt Nam? (15/12/2021)
EVFTA và cơ hội xuất khẩu cho nông sản Nghệ An (4/12/2021)
Thạch Sùng và nỗi oan ngàn năm (4/12/2021)
Một số chữ trong bản dịch “Nam quốc sơn hà” và "Hịch tướng sĩ" của Sách giáo khoa - Liệu có đúng? (4/11/2021)
Vài suy nghĩ vấn đề việc làm cho hồi hương trong đại dịch (4/11/2021)
Tai biến và phát triển (4/11/2021)
Tiếng nói của người bản địa trong nghiên cứu tộc người (4/11/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,167 | Tất cả: 3,696,881
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp